1.Tóm tắt nội dung yêu cầu tư vấn của khách hàng:

Thưa luật sư, xin hỏi: Vào 20h30 ngày 03/04/2020, trưởng thôn cũng là đảng viên cầm búa rừu vào nhà bố mẹ em tìm bố em đòi chém. Lúc đó bố em không có ở nhà chỉ có mình mẹ em ở nhà. Anh ta tìm khắp nhà không thấy bố em thì đứng chửi 1 lúc thì được người dân xung quanh kéo ra ngoài. Được khoảng 10 phút, anh ta lại xông vào tay vẫn cầm cây búa.

Khi vào nhà tìm lần 2 nhưng vẫn không thấy bố em thì anh ta túm cổ mẹ em ấn xuống giường và chửi mày giấu thằng Kha đâu (bố em). Mẹ em bảo ông Kha không có nhà mày thích thì chém tao đây này. Sau đó anh ta thả mẹ em và bắt đầu dùng búa rừu chém vào bức vách phía trước nhà làm thủng 1 lỗ và chém cửa bếp làm cho cửa bếp gãy làm đôi. Lúc này mọi người xung quanh lại lôi anh ta ra ngoài đường.

Nhờ luật sư tư vấn giúp em xem hành vi đó có được coi là hành vi đe dọa giết người và cố ý phá hoại tài sản không?

Cảm ơn!

Người hỏi: Ngô Văn H

2. Luật sư tư vấn:

2.1 Yếu tố cấu thành tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản như thế nào?

Căn cứ quy định của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017; Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình và Các văn bản pháp luật khác liên quan:

Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung 2017 có quy định về tội cố ý phá hoại tài sản của người khác như sau:

Điều 178. Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản

1. Người nào hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ;

đ) Tài sản là di vật, cổ vật….”

Trong đó hành vi hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác thể hiện thông qua hành động (đập, phá, đốt,…) hoặc không hành động (như bắt buộc bảo dưỡng máy móc, thiết bị theo định kỳ nhưng không thực hiện dẫn tới máy móc không còn khả năng sử dụng,…). Hành vi hủy hoại này được thực hiện bằng các phương tiện hoặc công cụ khác nhau như dùng búa để đập, dùng hóa chất để hủy hoại,…. Hậu quả xảy ra là yếu tố bắt buộc để cấu hành tội hủy hoại tài sản này. Tội phạm được coi là hoàn thành khi có hậu quả làm hư hỏng tài sản của người khác trị giá từ 02 triệu đồng trở lên; hoặc tài sản trị giá dưới 02 triệu đồng nhưng thuộc một trong các hành vi quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự trích dẫn ở trên. Hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản cũng là hành vi cố ý làm mất đi giá trị sử dụng của tài sản. Sự khác nhau giữa hai hành vi này chỉ là mức độ giá trị sử dụng của tài sản bị mất đi hoặc bị giảm sút.

Mặt chủ quan của tội phạm này là được thực hiện do lỗi cố ý (trực tiếp hoặc gián tiếp). Người phạm tội biết hành vi của mình có khả năng hủy hoại, hoặc làm hư hỏng tài sản những đã thực hiện hành vi đó với mong muốn tài sản bị hủy hoại hay bị hư hỏng. Động cơ phạm tội không phải dấu hiệu bắt buộc mà chỉ có ý nghĩa trong việc quyết định hình phạt.

Chủ thể của tội phạm là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự.

2.2 Xử phạt vi phạm hành chính trong vi phạm quy định về trật tự công cộng?

>> Xem thêm:  Hành vi hủy hoại tài sản của người khác thì cấu thành tội gì ?

Theo thông tin Quý khách cung cấp, ông trưởng thôn đã có hành vi cầm búa rừu chém và bức vách phía trước nhà làm thủng một lỗ, chém cửa bếp làm cho cửa bếp gãy làm đôi. Hành vi này có dấu hiệu cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác. Nên tùy mức độ vi phạm, mức độ hư hỏng của tài sản mà có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định trên. Trường hợp giá trị tài sản bị thiệt hại chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự thì có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 5 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính phủ:

Điều 5. Vi phạm quy định về trật tự công cộng

1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Có cử chỉ, lời nói thô bạo, khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác;…

4. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Gây rối trật tự công cộng mà có mang theo các loại vũ khí thô sơ hoặc công cụ hỗ trợ;..”

3.3 Yếu tố cấu thành tội đe dọa giết người là gì?

Về tội đe dọa giết người được quy định tại Điều 133 Bộ luật hình sự như sau:

Điều 133. Tội đe dọa giết người

1. Người nào đe dọa giết người, nếu có căn cứ làm cho người bị đe dọa lo sợ rằng việc đe dọa này sẽ được thực hiện, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Đối với 02 người trở lên;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;

d) Đối với người dưới 16 tuổi;

đ) Để che giấu hoặc trốn tránh việc bị xử lý về một tội phạm khác.”

Hành vi đe dọa giết người thể hiện bằng lời nói, hành động như tuyên bố bằng lời, viết thư,… hoặc đe dọa bằng dao, gậy,… Hành vi này có thể trực tiếp hoặc gián tiếp đối với người bị đe dọa. Hành vi này phải làm cho người bị đe dọa tin rằng người phạm tội sẽ thực hiện hành vi giết họ, nên lo lắng, sợ sệt. Nếu hành vi chuẩn bị, sử dụng các công cụ, phương tiện để trực tiếp hoặc gián tiếp cho người bị đe dọa biết nhưng kể cả không có ý định tước bỏ quyền sống của người bị đe dọa thì người này vẫn phải chịu trách nhiệm về tội đe dọa giết người. Nếu người phạm tội có hành vi đe dọa giết người nhưng hành vi đó chỉ nhằm thực hiện mục đích khác thì không phạm tội đe dọa giết người. Ví dụ ông trưởng thôn đe dọa giết người nếu không trả tiền, không đưa tài sản, thì phạm tội cướp tài sản,…

Tội phạm này được thực hiện do lỗi cố ý, người phạm tội nhận thức được hành vi nguy hiểm của mình nhưng vẫn thực hiện hành vi này. Chủ thể của tội phạm là bất kỳ người nào từ đủ 16 tuổi trở lên có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự.

Do chưa biết nguyên nhân mâu thuẫn giữa ông trưởng thôn và cha của Quý khách là gì nên nếu ông trưởng thôn có ý định muốn tước đoạt tính mạng của cha Quý khách mà không nhằm mục đích khác thì có thể phải chịu trách nhiệm về tội đe dọa giết người.

Trường hợp này, Quý khách có quyền tố cáo tới cơ quan có thẩm quyền về hành vi của ông trưởng thôn. Thẩm quyền giải quyết đơn tố giác, tin báo tội phạm là Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân nơi xảy ra hành vi phạm tội.

4.Tóm tắt nội dung yêu cầu tư vấn của Khách hàng:

Thưa luật sư, xin hỏi: Cha mẹ tôi là cán bộ kháng chiến, sau 1975 được nhà nước cấp căn nhà tại quận Thủ Đức, TP Hồ Chí Minh. Cha mẹ tôi có 03 người con và tôi là con gái út, năm 1996 cha tôi mất, mẹ tôi sống đến nay không tái giá.

Năm 2006 mẹ tôi nộp tiền hóa giá theo nghị định 61/CP đứng tên chủ sở hữu căn nhà. Hiện tại mẹ tôi 89 tuổi già yếu nằm viện không biết mất lúc nào.

Tình cờ tôi được biết di chúc của bà để lại toàn bộ căn nhà cho các anh chị em của bà, còn 3 người con hoàn toàn không phần nào.(Di chúc có công chứng hợp pháp)

Vậy theo luật pháp 03 anh chị em chúng tôi có được hưởng phần nào của căn nhà hay không ?

Cảm ơn luật sư Minh Khuê!

Người hỏi: Phan Thị T.T

Luật sư tư vấn:

Thưa Quý khách hàng, Công ty Luật TNHH MINH KHUÊ xin gửi tới Quý khách hàng lời chào trân trọng và cảm ơn Quý khách hàng đã tin tưởng vào dịch vụ do chúng tôi cung cấp. Chúng tôi nhận được yêu cầu của Quý khách hàng liên quan đến nội dung cụ thể như sau:

>> Xem thêm:  Hỏi về hành vi phỉ báng, xúc phạm danh dự, nhân phẩm và đe dọa người khác có vi phạm luật không ?

Căn cứ quy định của Bộ luật dân sự 2015 Luật đất đai 2013; Nghị định 43/2013/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của luật đất đai Các văn bản pháp luật khác liên quan.

Theo thông tin Quý khách cung cấp, cha và mẹ của Quý khách là cán bộ kháng chiến, sau năm 1975 được nhà nước cấp căn nhà tại quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh. Nên có thể hiểu tại thời điểm được nhà nước giao, bố và mẹ của Quý khách đồng thời có quyền sử dụng căn nhà trên.

Năm 1996 cha của Quý khách mất. Thời điểm cha của Quý khách mất là thời điểm mở thừa kế. Di sản cha của Quý khách để lại bao gồm quyền được sử dụng căn nhà trên. Theo quy định tại Điều 188 Bộ luật dân sự 1995 (nay là Điều 115 Bộ luật dân sự 2015) thì:

Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao lưu dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ…”.

Đồng thời căn cứ Điều 639 Bộ luật dân sự 1995 quy định thời điểm phát sinh quyền và nghĩa vụ của người thừa kế:

Kể từ thời điểm mở thừa kế, những người thừa kế có các quyền, nghĩa vụ tài sản do người chết để lại.”

Do đó, trong trường hợp cha của Quý khách mất để lại di chúc thì quyền và nghĩa vụ này sẽ do người thừa kế hợp pháp hưởng/thực hiện. Trường hợp cha của Quý khách mất không để lại di chúc thì trước tiên những người thuộc hàng thứ kế thứ nhất sẽ được hưởng di sản. Những người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất bao gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con nuôi của người chết, và những người thừa kế phải còn sống tại thời điểm mở thừa kế. (Điều 651 Bộ luật dân sự 2015).

Tuy nhiên, năm 2006 mẹ của Quý khách thực hiện thủ tục hóa giá nhà theo nghị định 61/CP và đứng tên chủ sở hữu căn nhà đó. Nên việc xác định quyền sử dụng căn nhà trước thời điểm năm 2006 là rất quan trọng, ảnh hưởng tới việc phân chia di sản thừa kế sau này và sự việc có thể dẫn tới tranh chấp phải giải quyết tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền.

>> Xem thêm: Dịch vụ luật sư tư vấn soạn thảo, xác lập di chúc và phân chia tài sản thừa kế theo quy định của pháp luật

Về tình huống này, Quý khách có thể tham khảo Án lệ số 31/2020/AL được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 05/02/2020 và được công bố theo Quyết định số 50/QĐ-CA ngày 25/02/2020 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao. Án lệ số 31/2020/AL xác định quyền thuê nhà, mua nhà thuộc sở hữu của Nhà nước theo nghị định 61/CP ngày 05/7/1994 của Chính phủ về quyền tài sản. Nội dung án lệ cũng có những tình tiết tương tự với vụ việc của Quý khách. Theo quy định của Nghị quyết 04/2019/NQ-HĐTP ngày 18/6/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì án lệ là những lập luận, phán quyết trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án về một vụ việc cụ thể được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao lựa chọn và được Chánh án Tòa án nhân dân tối cao công bố là án lệ để các Tòa án nghiên cứu, áp dụng trong xét xử. Khi xét xử, Thẩm phán, Hội thẩm phải nghiên cứu, áp dụng án lệ, bảo đảm những vụ việc có tình huống pháp lý tương tự thì phải được giải quyết như nhau. Trường hợp vụ việc có tình huống pháp lý tương tự nhưng Tòa án không áp dụng án lệ thì phải nêu rõ lý do trong bản án, quyết định của Tòa án. (Điều 8 Nghị quyết 04/2019/NQ-HĐTP).

Trường hợp xác định nguồn gốc căn nhà là do nhà nước cấp cho cả hai bố mẹ Quý khách, mẹ Quý khách chỉ được định đoạt phần tài sản của mình thuộc sở hữu chung của hai người và một phần tài sản được hưởng từ di sản của chồng. Việc mẹ Quý khách di chúc để lại toàn bộ căn nhà cho các anh chị em của bà là chưa đủ cơ sở. Trong trường hợp di chúc đã công chứng thì cần phải kiểm tra tính pháp lý của di chúc, nếu không đúng Quý khách có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố di chúc công chứng vô hiệu theo quy định của pháp luật.

Trân trọng cảm ơn!

>> Xem thêm:  Nhân viên chiếm đoạt tài sản của công ty thì xử lý như thế nào ?

Bộ phận tư vấn pháp luật Hình sự - Công ty Luật TNHH Minh Khuê

>> Xem thêm:  Xử lý các hành vi phạm tội theo quy định của pháp luật hình sự ?