Luật sư tư vấn:
1. Thông tin cơ bản về quyền sở hữu trí tuệ
Tài sản trí tuệ là sản phẩm, kết quả của một quá trình lao động, nghiên cứu bằng cách tư duy, sáng tạo của một cá nhân hoặc tổ chức. Do đó, quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng
Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (Sửa đổi, bổ sung 2009 và 2019) đã đưa ra những quy định cụ thể và chi tiết về cách xác định quyền sở hữu trí tuệ. Trong đó, quyền sở hữu trí tuệ bao gồm quyền tác giả, quyền liên quan và quyền sở hữu công nghiệp. Theo đó, các loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả được quy định tại Điều 14 Luật Sở hữu trí tuệ là tác phẩm văn học, khoa học, sách giáo khoa, giáo trình và tác phẩm được thể hiện dưới dạng chữ viết hoặc ký tự khác; bài giảng, bài phát biểu và bài nói khác; tác phẩm báo chí; tác phẩm âm nhạc; tác phẩm sân khấu; tác phẩm điện ảnh; tác phẩm tạo hình; tác phẩm mỹ thuật ứng dụng; tác phẩm nhiếp ảnh; tác phẩm kiến trúc; tác phẩm văn học; nghệ thuật dân gian; chương trình máy tính; sưu tập dữ liệu;... Về quyền sở hữu công nghiệp, các đối tượng bao gồm sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý khi đáp ứng được các điều kiện theo quy định sẽ được bảo hộ.
2. Nghiên cứu sản phẩm có vi phạm quyền sở hữu trí tuệ không?
Theo những thông tin mà bạn cung cấp thì công ty cố phần thực phẩm Tân Tân đã tự mình chế biến, sản xuấ ra sản phẩm đậu phộng Tân Tân. Sản phẩm đậu phộng Tân Tân được sản xuất từ năm 1984 và nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường. năm 2001, Doanh nghiệp X đã sản xuất hàng loạt sản phẩm đậu phộng có chất lượng, thành phần giống như sản phẩm đậu phộng Tân Tân của công ty cổ phần thực phẩm Tân Tân. Doanh nghiệp X khẳng định rằng mình áp dụng kỹ thuật đảo ngược bằng cách phân tích, đánh giá sản phẩm đậu phộng Tân Tân và có được công thức chế biến đậu phộng. Do đó, nếu như doanh nghiêp X tự mình nghiên cứu, phân tích đánh giá sản phẩm của công ty cố phần Tân Tân, mà không sử dụng bất kì thủ đoạn gian dối nào để lấy thông tin thuộc bí mật kinh doanh của công ty cố phần Tân Tân thì theo quy định tại điểm đ khoản 3 Điều 125 Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 sửa đổi bổ sung năm 2009 :
“Điều 125. Quyền ngăn cấm người khác sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp
3. Chủ sở hữu bí mật kinh doanh không có quyền cấm người khác thực hiện các hành vi sau đây:
đ) Bộc lộ, sử dụng bí mật kinh doanh được tạo ra do phân tích, đánh giá sản phẩm được phân phối hợp pháp với điều kiện người phân tích, đánh giá không có thoả thuận khác với chủ sở hữu bí mật kinh doanh hoặc người bán hàng.”
Như vậy, doanh nghiệp X có quyền nghiên cứu ngược sản phẩm của công ty cổ phần Tân Tân. Trong quá trình nghiên cứu tìm ra công thức thì doanh nghiệp X không hề có sự thỏa thuận với chủ sở hữu bí mật kinh doanh hoặc người bán hàng nên doanh nghiệp X không hề vi phạm quyền đối với bí mật kinh doanh.
3. Xác định hành vi bị coi là xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ
Hành vi xâm phạm quyền tác giả được quy định tại Điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009 và 2019) như là hành vi chiếm đoạt quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; mạo danh tác giả; công bố, phân phối tác phẩm mà không được phép của tác giả; sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm; sao chép tác phẩm, làm tác phẩm phái sinh, sử dụng tác phẩm mà không có sự cho phép của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả. Ngoài ra, các hành vi tự ý cho thuê, nhân bản, sản xuất bản sao, phân phối, xuất bản, cố ý hủy bỏ, cố ý xóa, thay đổi thông tin cũng bị coi là hành vi xâm phạm, gây ảnh hưởng tới quyền và lợi ích của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả.
Bên cạnh quyền tác giả, hành vi xâm phạm quyền đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí cũng sẽ bị coi là hành vi xâm phạm quyền sử hữu trí tuệ. Bao gồm việc sử dụng sáng chế được bảo hộ, kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ hoặc kiểu dáng công nghiệp không khác biệt đáng kể với kiểu dáng đó, thiết kế bố trí được bảo hộ hoặc bất kỳ phần nào có tính nguyên gốc của thiết kế bố trí đó trong thời hạn hiệu lực của văn bằng bảo hộ mà không được phép sở hữu. Sử dụng sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mà không trả tiền đền bù theo quy định về quyền tạm thời.
Đối với nhãn hiệu, các hành vi bị coi là xâm phạm quyền được quy định điều 129 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009 và 2019). Theo đó, các hành vi sử dụng dấu hiệu trùng với nhãn hiệu được bảo hộ cho hàng hóa, dịch vụ trùng, tương tự hoặc liên quan với hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục đăng ký kèm theo nhãn hiệu đó mà không được phép của chủ sở hữu nhãn hiệu thì bị coi là xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu.
Mọi hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mại trùng hoặc tương tự với tên thương mại của của người khác đã được sử dụng trước cho cùng loại sản phẩm, dịch vụ hoặc cho sản phẩm, dịch vụ tương tự, gây nhầm lẫn về chủ thể kinh doanh, cơ sở kinh doanh, hoạt động kinh doanh dưới tên thương mại đều bị coi là xâm phạm quyền đối với tên thương mại.
4. Những rủi ro gặp phải khi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ
Việc xâm phạm đến các đối tượng đã được bảo hộ sẽ gây ra nhiều thiệt hại cả về vật chất lẫn tinh thần đối với tác giả và chủ sở hữu. Không chỉ vậy, hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ có nguy cơ gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho người tiêu dùng hoặc cho xã hội.
Vì vậy, các cá nhân, tổ chức có hành vi xâm phạm sẽ bị áp dụng hình thức xử phạt như cảnh cáo hoặc phạt tiền. Tuy nhiên, tùy theo tính chất và mức độ xâm phạm, tổ chức, cá nhân xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ còn có thể áp dụng một hoặc các hình thức xử phạt bổ sung được quy định tại Điều 214 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi bổ sung 2019) như tịch thu hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ, nguyên liệu, phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ; đình chỉ có thời hạn hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực đã xảy ra vi phạm.
Để khắc phục những hậu quả gây ra từ hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, các cá nhân, tổ chức vi phạm bị buộc tiêu hủy hoặc phân phối hoặc đưa vào sử dụng không nằm mục đích thương mại đối với hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ; buộc đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam đối với hàng hóa quá cảnh xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ hoặc buộc tái xuất đối với hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ.
5. Đánh giá hành vi nghiên cứu ngược sản phẩm trong Luật Sở hữu trí tuệ
Bí mật kinh doanh được coi là một tài sản trí tuệ có giá trị rất lớn đối với các cá nhân, tổ chức sở hữu đó. Do đó, để bảo vệ được bí mật kinh doanh không bị xâm phạm và có các biện phát kịp thời để ngăn chặn các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ đối với bí mật kinh doanh, các cá nhân, tổ chức cần xác định đúng các hành vi xâm phạm quyền đối với bí mật kinh doanh.
Các hành vi dưới đây theo quy định tại Điều 127 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009 và 2019) sẽ bị coi là hành vi xâm phạm quyền đối với bí mật kinh doanh. Tiếp cận, thu thập thông tin thuộc bí mật kinh doanh bằng cách chống lại các biện pháp bảo mật của người kiểm soát hợp pháp bí mật kinh doanh; bộc lộ và sử dụng thông tin thuộc bí mật kinh doanh mà không được phép của chủ sở hữu bí mật kinh doanh đó; vi phạm hợp đồng bảo mật hoặc lừa gạt, xui khiến, mua chuộc, ép buộc, dụ dỗ, lợi dụng lòng tin của người có nghĩa vụ bảo mật nhằm tiếp cận, thu nhập hoặc làm bộc lộ bí mật kinh doanh; tiếp cận, thu thập thông tin thuộc bí mật kinh doanh của người nộp đơn theo thủ tục xin cấp phép kinh doanh hoặc lưu hành sản phẩm bằng cách chống lại các biện pháp bảo mật của cơ quan có thẩm quyền.
Về việc chủ sở hữu không có quyền ngăn cấm người khác sử dụng đối tượng Sở hữu công nghiệp, Khoản 3 Điều 125 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (sửa đổi, bổ sung 2009 và 2019) quy định nếu việc bộc lộ, sử dụng bí mật kinh doanh được tạo ra do phân tích, đánh giá sản phẩm được phân phối hợp pháp với điều kiện người phân tích, đánh giá không có thỏa thuận khác với chủ sở hữu bí mật kinh doanh hoặc người bán hàng thì chủ sở hữu bí mật kinh doanh không có quyền cấm. Do đó, việc Công ty X nghiên cứu ngược sản phẩm công ty Cổ phần Tân Tân là đúng theo quy định của Luật Sở hữu trí tuệ. Công ty X trong quá trình thử nghiệm, nghiên cứu sản phẩm của Công ty Tân Tân không có bất kỳ thỏa thuận nào với chủ sở hữu bí mật kinh hoặc người bán hàng nên doanh nghiệp X không về vi phạm quyền đối với bí mật kinh doanh.
Để có thể tư vấn chi tiết và nhanh chóng về các vấn đề thuộc Lĩnh vực Sở hữu trí tuệ, Quý khách hàng vui lòng liên hệ qua số điện thoại 0986 386 648 để được Luật sư Tô Thị Phương Dung hỗ trợ nhanh chóng. Hoặc liên hệ với Công ty Luật Minh Khuê qua địa chỉ email: luatsu@luatminhkhue.vn để chúng tôi có thể tiếp nhận yêu cầu và hỗ trợ tư vấn cho Quý khách hàng.