1. Nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng

- Thông thường khi phân chia tài sản chung của vợ chồng, Tòa án sẽ ưu tiên các bên thoả thuận với nhau: Vợ chồng khi ly hôn có quyền tự thỏa thuận với nhau về toàn bộ các vấn đề, trong đó có cả việc phân chia tài sản chung. Nếu vợ chồng không thỏa thuận được mà có yêu cầu thì Tòa án phải xem xét, quyết định việc áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật.

Nếu không có văn bản thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng; hoặc văn bản thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị Tòa án tuyên bố vô hiệu toàn bộ; thì Tòa án sẽ áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định để chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn.

Trường hợp có văn bản thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng và văn bản này không bị Tòa án tuyên bố vô hiệu toàn bộ; thì áp dụng các nội dung của văn bản thỏa thuận để chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn. Đối với những vấn đề không được vợ chồng thỏa thuận; hoặc thỏa thuận không rõ ràng hoặc bị vô hiệu thì áp dụng Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 về tài sản chung vợ chồng để giải quyết.

Khi giải quyết ly hôn nếu có yêu cầu tuyên bố thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu thì Tòa án xem xét; giải quyết cùng với yêu cầu chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn.

Khi chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn, Tòa án phải xác định vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ về tài sản với người thứ ba hay không để đưa người thứ ba vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Trường hợp vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ về tài sản với người thứ ba mà họ có yêu cầu giải quyết thì Tòa án phải giải quyết khi chia tài sản chung của vợ chồng. Trường hợp vợ chồng có nghĩa vụ với người thứ ba mà người thứ ba không yêu cầu giải quyết thì Tòa án hướng dẫn họ để giải quyết bằng vụ án khác.

- Giá trị tài sản chung của vợ chồng, tài sản riêng của vợ, chồng được xác định theo giá thị trường tại thời điểm giải quyết sơ thẩm vụ việc.

- Khi giải quyết chia tài sản khi ly hôn; Tòa án phải xem xét để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên; con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

2. Hậu quả của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân

Căn cứ theo quy định tại Điều 40 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định về hậu quả của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân như sau:

- Trong trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng thì phần tài sản được chia, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của vợ, chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác. Phần tài sản còn lại không chia vẫn là tài sản chung của vợ chồng.

- Thỏa thuận của vợ chồng quy định tại khoản 1 Điều này không làm thay đổi quyền, nghĩa vụ về tài sản được xác lập trước đó giữa vợ, chồng với người thứ ba.

Như vậy, từ quy định có thể thấy việc phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân đã cơ cấu lại thành phần thực tế tài sản chung và tài sản riêng của vợ chồng. Theo đó nên khối tài sản riêng của mỗi bên sẽ tăng lên tức thời vì có thêm các tài sản được chia và tiếp tục tăng nhanh hơn nhờ hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trước đó và tài sản được chia.

Đối với khối tài sản chung không chỉ bị giảm đi ở hiện tại mà trong tương lai cũng bị hạn chế khả năng phát triển do mất đi nguồn bổ sung đáng kể từ hoa lợi, lợi tức. Trong trường hợp này chế độ tài sản của vợ chồng vẫn là chế độ tài sản do pháp luật quy định, tuy nhiên việc phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân sẽ làm thay đổi hình thức sở hữu của một số loại tài sản, thay vì nhập vào tài sản chung thì bây giờ thuộc sở hữu riêng của một bên. Bên cạnh đó, việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân sẽ không làm thay đổi quyền, nghĩa vụ tài sản của vợ, chồng đối với bên thứ ba phát sinh trước khi tiến hành phân chia.

Hậu quả về quan hệ tài sản sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân là một trong những nội dung có thể nói là quan trọng và được vợ và chồng  quan tâm đến khi tiến hành phân chia tài sản. Có thể nhận thấy rằng qua các lần sửa đổi, bổ sung, pháp luật hôn nhân và gia đình ngày càng hoàn thiện hơn những quy định liên quan đến tài sản của vợ, chồng sau khi chia tài sản chung, nhất là vấn đề liên quan đến thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của một bên, từ đó đảm bảo pháp luật được hiểu và áp dụng thống nhất. Hiện nay quy định của luật hôn nhân và gia đình 2014 góp phần giữ vững chế độ tài sản do pháp luật quy định giữa vợ và chồng, qua đó ổn định mối quan hệ tài sản và cao hơn là ổn định mối quan hệ gia đình, vợ, chồng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên yếu thế hơn như phụ nữ và trẻ em.

3. Quyền, nghĩa vụ về tài sản giữa vợ, chồng với người thứ ba

Theo khoản 2 Điều 40 Luật Hôn nhân gia đình 2014 quy định như sau: Thỏa thuận của vợ chồng quy định tại khoản 1 Điều này không làm thay đổi quyền, nghĩa vụ về tài sản được xác lập trước đó giữa vợ, chồng với người thứ ba.

Như vậy, trước khi thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, vợ, chồng có quyền tài sản, nghĩa vụ tài sản như thế nào với chủ thể thứ ba khác thì sau việc phân chia, những quyền và nghĩa vụ đó vẫn giữ nguyên không thay đổi. Trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác, giá trị pháp lý của thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân sẽ không làm ảnh hưởng đến giá trị pháp lý của quyền, nghĩa vụ tài sản giữa vợ, chồng với bên thứ ba đã phát sinh trước thời điểm thỏa thuận phân chia có hiệu lực.

Khi giao dịch tài sản với vợ, chồng, bên thứ ba không có nghĩa vụ phải dự đoán vợ chồng sẽ tiến hành phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân dẫn đến những thay đổi về khả năng thực hiện quyền, nghĩa vụ tài sản. Pháp luật một mặt đảm bảo vợ, chồng có quyền tự do định đoạt tài sản thuộc sở hữu chung của mình (vợ, chồng không cần sự đồng ý hay giám sát từ bên thứ ba mà mình có nghĩa vụ tài sản để tiến hành chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân); mặt khác yêu cầu vợ, chồng không gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bên thứ ba do việc phân chia tài sản chung.

Theo nguyên tắc chung về phân chia tài sản, chủ sở hữu tự do thực hiện quyền đối với tài sản trong khuôn khổ pháp luật và không xâm phạm đến lợi ích của chủ thể khác. Khi tiến hành chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, giá trị tài sản mà mỗi bên vợ, chồng sở hữu đã thay đổi, từ đó gián tiếp ảnh hưởng đến việc thực hiện nghĩa vụ tài sản với bên thứ ba. Vì vậy, trách nhiệm của vợ, chồng khi phân chia tài sản chung là phải đảm bảo khả năng thanh toán cho những người mà mình có nghĩa vụ tài sản.

Xem thêm: Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kì hôn nhân

Như vậy trên đây là toàn bộ thông tin về Hậu quả pháp lý trong việc chia tài sản chung của vợ chồng   mà Công ty Luật Minh Khuê muốn gửi đến quý khách mang tính tham khảo. Nếu quý khách còn vướng mắc về vấn đề trên hoặc mọi vấn đề pháp lý khác, quý khách hãy vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến theo số điện thoại 19006162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài kịp thời hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc.

Nếu quý khách cần báo giá dịch vụ pháp lý thì quý khách có thể gửi yêu cầu báo phí dịch vụ đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để nhận được thông tin sớm nhất! Rất mong nhận được sự hợp tác và tin tưởng của quý khách! Luật Minh Khuê xin trân trọng cảm ơn!