1. Phân chia tài sản chung theo quy định nào ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Hai vợ chồng mua một thửa đất. người vợ không đi làm thủ tục cùng chồng được. một minh chồng đi làm thủ tục, đứng tên một minh trong hợp đồng có được không. Tài sản vẫn là tài sản chung. có cần phải có thêm giấy tờ gi khác không ?
Cảm ơn!

Trả Lời:

Khi cá nhân không tự mình thực hiện được giao dịch dân sự có thể ủy quyền cho cá nhân khác.

Điều 138. Đại diện theo ủy quyền

1. Cá nhân, pháp nhân có thể ủy quyền cho cá nhân, pháp nhân khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự.

2. Các thành viên hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân có thể thỏa thuận cử cá nhân, pháp nhân khác đại diện theo ủy quyền xác lập, thực hiện giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung của các thành viên hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân.

3. Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có thể là người đại diện theo ủy quyền, trừ trường hợp pháp luật quy định giao dịch dân sự phải do người từ đủ mười tám tuổi trở lên xác lập, thực hiện.

Theo đó, vợ bạn có thể ủy quyền cho bạn thực hiện hợp đồng chuyển nhượng.Theo đó, hồ sơ công chứng bao gồm:

1. Chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu của bên mua ( cả vợ và chồng nếu bên mua là hai vợ chồng)

2. Sổ hộ khẩu của bên mua (cả vợ và chồng)

3. Giấy tờ chứng minh quan hệ hôn nhân của bên mua ( Đăng ký kết hôn )

4. Phiếu yêu cầu công chứng + tờ khai

5. Hợp đồng uỷ quyền mua ( Nếu có )

Thưa luật sư, xin hỏi: Em đã có gia đình. Em có một khoản tiền riêng.Em muốn mua đất. Em muốn làm sao lô đất này là tài sản riêng. Không là tài sản chung cua 2 vợ chồng ? Mong các anh chị tư vấn giúp. Xin chân thành cảm ơn các anh chị luật sư!

Theo quy định tại Điều 43 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 thì:

" Điều 43. Tài sản riêng của vợ, chồng

1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này."

Như vậy, nếu bạn chứng minh được số tiền dùng để mua tài sản này là số tiền riêng hoặc là lợi tức phát sinh từ tài sản riêng thì khi đăng ký sở hữu thì chỉ đăng ký tên bạn trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là cơ sở xác lập quyền sở hữu riêng

Thưa luật sư, xin hỏi: Tôi là thành viên trong hộ khẩu gia đình và gia đình tôi có tài sản chung gồm nhà và đất có giấy chứng nhận mang tên cha mẹ tôi vậy tôi có thể làm giấy ủy quyền quyết định bán ,cho vv...tài sản chung đó mà không cần sự đồng ý của tôi trước pháp luật như ký tên đồng ý bán, vì tôi không có điều kiện ở nhà .xin hỏi luật sư ,tôi có thể làm giấy ủy quyền đó được không và thủ tục làm như thế nào.mong luật sư trả lời giúp .xin cám ơn rất nhiều!

Trước hết, bạn cần xác định rõ tài sản là nhà và đất thuộc sở hữu của cha mẹ hay của hộ gia đình. Nếu là tài sản của cha mẹ bạn thì chỉ có cha mẹ mới có quyền định đoạt với tài sản này. Nếu là tài sản chung của hộ gia đình thì quyền định đoạt của các thành viên được quy định tại Bộ luật dân sự năm 2005 như sau:

" Điều 109. Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung của hộ gia đình

1. Các thành viên của hộ gia đình chiếm hữu và sử dụng tài sản chung của hộ theo phương thức thoả thuận.

2. Việc định đoạt tài sản là tư liệu sản xuất, tài sản chung có giá trị lớn của hộ gia đình phải được các thành viên từ đủ mười lăm tuổi trở lên đồng ý; đối với các loại tài sản chung khác phải được đa số thành viên từ đủ mười lăm tuổi trở lên đồng ý."

Như vậy, nếu bạn đủ mười lăm tuổi trở lên thì việc định đoạt tài sản này phải có sự đồng ý của bạn. Trong trường hợp này bạn có thể ủy quyền cho cá nhân khác để thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản chung của hộ gia đình

Thưa luật sư, xin hỏi: ông A có 3 cô gái và 1 người con trai,khi ông mất không để lại di chúc.số tài sản chung của ông và vợ ông là căn hộ chưng cư cuốn sổ tiết kiệm 5 tỉ đồng,bây giờ số tài sản này đang được bà vợ quản lý,các con của bà đòi chia tài sản( các con của bà đã có gia đình và nhà riêng).Hỏi tài sản đó được chia như thế nào?

Cần xác định số tài sản trên có phải là di sản thừa kế hay không căn cứ quy định sau:

" Điều 634. Di sản

Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác."

Theo đó, nếu toàn bộ số tài sản trên là di sản thừa kế mà người chết không để lại di chúc thì sẽ thực hiện phân chia như sau:

" Điều 685. Phân chia di sản theo pháp luật

1. Khi phân chia di sản nếu có người thừa kế cùng hàng đã thành thai nhưng chưa sinh ra thì phải dành lại một phần di sản bằng phần mà người thừa kế khác được hưởng, để nếu người thừa kế đó còn sống khi sinh ra, được hưởng; nếu chết trước khi sinh ra thì những người thừa kế khác được hưởng.

2. Những người thừa kế có quyền yêu cầu phân chia di sản bằng hiện vật; nếu không thể chia đều bằng hiện vật thì những người thừa kế có thể thoả thuận về việc định giá hiện vật và thoả thuận về người nhận hiện vật; nếu không thoả thuận được thì hiện vật được bán để chia."

Những người được hưởng di sản được quy định như sau:

" Điều 676. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản."

Thưa luật sư, xin hỏi: Năm 1980, ông B hỏi cưới bà N về làm vợ (không đăng ký kết hôn). Năm 1981, mẹ đẻ bà N lập hợp đồng tặng cho ông B, bà N 300m2 đất tại xã X, huyện Y. Năm 1984, bà N làm thủ tục kê khai và đứng tên chủ sở hữu toàn bộ diện tích đất này. Vậy: Toàn bộ diện tích đất này được xác định là tài sản chung của ông B và bà N vì là tài sản cả hai được cho trong thời kỳ hôn nhân hay là tài sản riêng của bà N vì bà đứng tên chủ sở hữu toàn bộ diện tích đất? Do bà N không có khả năng sinh con nên năm 1983, ông B và bà N nhận chị C làm con nuôi (việc nhận con nuôi là hợp pháp). Năm 1984, ông B có đến địa phương khác và chung sống như vợ chồng với bà L, có với bà L một trai tên Ng. Vậy hôn nhân giữa ông B và bà L có được công nhận hay không? Đầu năm 1995, bà N mất. Ông B và bà L sử dụng một tỉ đồng - số tiền chung mà hai người dành dụm - để xây nhà ở trên 300m2 đất tại xã X, huyện Y, hiện đang đứng tên chủ sở hữu là bà N. Đầu năm 2003, ông B đột tử không để lại di chúc. Chị C cho rằng, đất mà bà L đang quản lý là di sản thừa kế mà cha mẹ nuôi của chị để lại nên chị yêu cầu phân chia, tuy nhiên bà L không chấp nhận. Vậy theo pháp luật hiện hành, yêu cầu của chị C sẽ được giải quyết như thế nào? Và phần tài sản bà L được hưởng sẽ như thế nào?

Tại Điểm a Mục 3 Nghị quyết 35/2000/QH10 về việc thi hành Luật hôn nhân gia đình quy định:

“Trong trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 03 tháng 01 năm 1987, ngày Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực mà chưa đăng ký kết hôn thì được khuyến khích đăng ký kết hôn; trong trường hợp có yêu cầu ly hôn thì được Toà án thụ lý giải quyết theo quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000”

Như vậy, tài sản nêu trên là tài sản Ông B và bà N được tặng cho chung. Pháp luật thời kỳ đó chưa có quy định bắt buộc phải đăng ký tên của đồng sở hữu trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vì vậy, việc bà N đứng tên trong giấy chứng nhận không là căn cứ duy nhất xác nhận đây là tài sản riêng của bà N.

Tại khoản 3 Nghị quyết 35/2000/QH10 ngày 9/6/2000 của Quốc hội hướng dẫn về việc thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình quy định về việc áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 11 của luật này được thực hiện như sau:

a) Trong trường hợp quan hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 3/1/1987, ngày Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 có hiệu lực mà chưa đăng ký kết hôn thì được khuyến khích đăng ký kết hôn; trong trường hợp có yêu cầu ly hôn thì được Tòa án thụ lý giải quyết theo quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000.

b) Nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 3/1/1987 đến ngày 1/1/2001, mà có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này thì có nghĩa vụ đăng ký kết hôn trong thời hạn hai năm, kể từ ngày Luật này có hiệu lực cho đến ngày 1/1/2003; trong thời hạn này mà họ không đăng ký kết hôn, nhưng có yêu cầu ly hôn thì Tòa án áp dụng các quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 để giải quyết. Từ sau ngày 1/1/2003 mà họ không đăng ký kết hôn thì pháp luật không công nhận họ là vợ chồng.

Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa ông B và bà N không được công nhận. Tương tự, quan hệ hôn nhân giữa ông B và bà L cũng không được công nhận.

Anh Ng là con đẻ của Ông B, Chị C là con nuôi của ông B. Khi Bà N mất, tài sản là quyền sử dụng đất do bà N đứng tên là tài sản chung với Ông B. Vì vậy, 1/2 di sản này được chia cho các đồng thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất của bà N là chị C. Như vậy, 1/2 quyền sử dụng đất được chia thừa kế cho chị C. 1/2 còn lại được xác định là di sản thừa kế của ông B. Theo quy định tại điều 676 Bộ luật dân sự 2005 thì chị C và anh Ng được hưởng di sản thừa kế này. Việc phân chia di sản thừa kế được thực hiện như sau:

" Điều 685. Phân chia di sản theo pháp luật

1. Khi phân chia di sản nếu có người thừa kế cùng hàng đã thành thai nhưng chưa sinh ra thì phải dành lại một phần di sản bằng phần mà người thừa kế khác được hưởng, để nếu người thừa kế đó còn sống khi sinh ra, được hưởng; nếu chết trước khi sinh ra thì những người thừa kế khác được hưởng.

2. Những người thừa kế có quyền yêu cầu phân chia di sản bằng hiện vật; nếu không thể chia đều bằng hiện vật thì những người thừa kế có thể thoả thuận về việc định giá hiện vật và thoả thuận về người nhận hiện vật; nếu không thoả thuận được thì hiện vật được bán để chia."

bà L và ông B cùng tạo dựng tài sản trên đất nhưng tài sản được đăng ký sở hữu mang tên bà N. Như vậy, trong trường hợp bà N chưa đăng ký biến động với tài sản trên và bà L chứng minh được sự đóng góp tạo dựng tài sản này thì hoàn toàn có quyền yêu cầu được xác định phần tài sản đã đóng góp để yêu cầu phân chia.

Thưa luật sư, xin hỏi: Tôi có câu hỏi mong được tư vấn. Mẹ chồng tôi mất ko để lại di chúc, nay bố chồng tôi lấy vợ mới có đăng ký kết hôn. Vậy bây giờ chúng tôi muốn được hưởng tài sản của bố và ng mẹ đã mất thì phải làm như thế nào. Tài sản gồm đất và nhà mái bằng trên đất, sổ đỏ đứng tên 2 ông bà. Ng vợ mới của bố chồng tôi có được hưởng gì từ số tài sản chung của bố mẹ chồng tôi ko.gia đình chồng tôi có 2 anh em và bà ngoại của chồng tôi còn sống.nếu bố chồng tôi ko đồng ý sang tên sổ đỏ cho chồng tôi có được ko? Xin chân thành cảm ơn

Sổ đỏ được cấp mang tên bố và mẹ chồng chị. Như vậy, tài sản này được xác định là tài sản chung của bố mẹ. Mẹ chồng bạn có quyền sở hữu 1/2 tài sản là quyền sử dụng đất nêu trên. Khi mẹ mất, 1/2 di sản này được xác định là di sản thừa kế. Theo đó, nếu mẹ chồng bạn không để lại di chúc thì di sản này được phân chia theo quy định pháp luật tại điều 685 Bộ luật dân sự nêu trên. Bố bạn không có quyền định đoạt với toàn bộ tài sản trên. Tuy nhiên, bố bạn có quyền từ chối chuyển nhượng 1/2 tài sản là quyền sử dụng đất đó và phần di sản được hưởng từ mẹ chồng bạn.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng. Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với Luật sư tư vấn pháp luật thừa kế trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Thu hồi đất là gì ? Quy định pháp luật về thu hồi đất ? Bồi thường thiệt hại do thu hồi đất

2. Đã ra công chứng chia tài sản có thể yêu cầu tòa chia lại tài sản chung không ?

Kính chào công ty Luật Minh Khuê ,thưa Luật Sư! Nhà em đã chia tài sản của ba để lại , em và các anh chị với mẹ kế đã ra công chứng chia tài sản thừa kế và ra 6 quyển sổ hồng riêng biệt.Nhưng mẹ sau em nói là nhờ tờ giấy gì của mẹ kế kê khai mà em mới được hưởng tài sản của ba , nếu mẹ kế yêu cầu tòa án chia lại tài sản thừa kế thì tòa có giải quyết không.
Hiện nhà em đang ở chung với mẹ kế trên căn nhà ba để lại , em ở phần trên lầu cái gác thì sắp sụp mẹ kế cứ làm khó làm dễ không muốn cho nhà em sửa chữa. Diện tích nhà em 3.2x16m đường mặt tiền , mẹ kế đòi chia nhà làm đôi mỗi căn 1.6x16m với điều kiện là nhà em cũng phải xây kiên cố giống nhà mẹ kế là nhà đúc thật , nhưng nhà em không có khả năng xây như vậy chỉ có khả năng xây tấm xi măng 3D.
Xin Luật Sư tư vấn nếu nhà em có diện tích như vậy thì ủy ban phường có cấp giấy cho mình xây không ?
Em xin cám ơn!

>> Luật sư tư vấn trực tuyến về phân định tài sản chung, gọi:1900.6162

Trả lời:

Nếu như ba bạn có di chúc để lại thì di sản của ba bạn để lại được chia theo di chúc, nếu không có di chúc thì phân chia theo pháp luật nên dù mẹ kế bạn có yêu cầu chia lại tài sản thì bạn vẫn được hưởng thừa kế căn cứ theo Điều 676 Bộ luật dân sự 2015

Điều 651. Người thừa kế theo pháp luật

1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:

a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.

3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.

Thứ hai, căn cứ theo khoản 7 Điều 79 Luật xây dựng 2014 quy định như sau:

" 7. Thiết kế xây dựng nhà ở riêng lẻ được quy định như sau:

a) Thiết kế xây dựng nhà ở riêng lẻ phải đáp ứng yêu cầu thiết kế quy định tại khoản 3 Điều này;

b) Hộ gia đình được tự thiết kế nhà ở riêng lẻ có tổng diện tích sàn xây dựng nhỏ hơn 250 m2 hoặc dưới 3 tầng hoặc có chiều cao dưới 12 mét, phù hợp với quy hoạch xây dựng được duyệt và chịu trách nhiệm trước pháp luật về chất lượng thiết kế, tác động của công trình xây dựng đến môi trường và an toàn của các công trình lân cận. "

Khoản 3 Điều 79 quy định: " Tuân thủ tiêu chuẩn áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật, quy định của pháp luật về sử dụng vật liệu xây dựng, đáp ứng yêu cầu về công năng sử dụng, công nghệ áp dụng (nếu có); bảo đảm an toàn chịu lực, an toàn trong sử dụng, mỹ quan, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng, chống cháy, nổ và điều kiện an toàn khác."

Như vậy, đối với diện tích của căn nhà bạn nhỏ hơn 250m 2 nên vẫn được xây dựng nhưng phải đảm bảo điều kiện quy định tại khoản 3 Điều 79 Luật xây dựng 2014, nếu bạn đáp ứng điều kiện đó thì công trình của bạn được duyệt.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật đất đai qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Đối tượng nào được hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất khi Nhà nước thu hồi đất ?

3. Tư vấn việc bán tài sản chung là quyền sử dụng đất ?

Kính chào Luật Minh Khuê, Tôi có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Tôi và chồng tôi ly hôn cách đây vài năm. Tài sản của tôi và các con (con chung) là 1 mảnh đất đã có sổ đỏ do tôi đứng tên. Tài sản này do tôi và chồng tự chia. Hiện tôi muốn bán mảnh đất của tôi nhưng con trai tôi lại đòi chia trước 1 nửa số tiền bán được mới đồng ý kí bán.
Vậy xin hỏi nếu tôi tách khẩu con trai tôi ra riêng thì tôi có thể bán đất hợp pháp không và con trai tôi có kiện tôi được không?
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Người gửi: L.T.L

Trả lời:

Thứ nhất : xác định quyền sử dụng đối với mảnh đất được đề cập

Nếu mảnh đất nhà bạn đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định về pháp luật đất đai thì những người có tên trong Giấy chứng nhận đó được quyền chuyển nhượng cho người khác. Giấy chứng nhận đó có thể cấp cho cá nhân bạn hoặc cấp cho hộ gia đình (bao gồm bạn và con bạn). Như vậy có thể chia thành hai trường hợp sau:

Trường hợp 1: Nếu giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp cho cá nhân bạn thì bạn hoàn toàn có quyền chuyển nhượng mảnh đất đó mà không cần có chữ ký của con.

Trường hợp 2: Nếu giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp cho hộ gia đình thì việc chuyển nhượng phải có sự đồng ý của tất cả các thành viên trong hộ gia đình theo quy định tại Điều 109 Bộ luật dân sự 2015 (tức là phải có chữ ký của con bạn mới được bán đất).

Điều 102. Tài sản chung của các thành viên hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân

1. Việc xác định tài sản chung của các thành viên hộ gia đình, quyền, nghĩa vụ đối với tài sản này được xác định theo quy định tại Điều 212 của Bộ luật này.

2. Việc xác định tài sản chung của các thành viên tổ hợp tác, quyền, nghĩa vụ đối với tài sản này được xác định theo quy định tại Điều 506 của Bộ luật này.

3. Việc xác định tài sản chung của các thành viên của tổ chức khác không có tư cách pháp nhân, quyền, nghĩa vụ đối với tài sản này được xác định theo thỏa thuận của các thành viên, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Thứ hai : tách khẩu con trai ra riêng thì có thể bán đất hợp pháp không và các con trai có kiện được không ?

Bạn hoàn toàn có thể làm thủ tục tách khẩu cho con trai bạn. Bạn cũng có thể bán đất cho người khác. Nhưng như chúng tôi đã phân tích ở trên, đối với trường hợp 2 thì con trai bạn hoàn toàn có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố các hợp đồng giao dịch mà bạn ký kết, thỏa thuận là vô hiệu vì lý do bạn không có quyền định đoạt toàn bộ khối tài sản chung của hộ gia đình khi chưa có sự đồng ý của các thành viên trong hộ. Hơn nữa, việc tách khẩu con trai bạn không có nghĩa là con trai bạn mất quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung của hộ gia đình.

Trên đây là thư tư vấn của chúng tôi. Chúng tôi hy vọng rằng, ý kiến tư vấn của chúng tôi sẽ giúp làm sáng tỏ các vấn đề mà bạn đang quan tâm. Trên từng vấn đề cụ thể, nếu bạn cần tham khảo thêm ý kiến chuyên môn của chúng tôi, xin hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua Tổng đài tư vấn: 1900.6162.

>> Xem thêm:  Thời điểm có hiệu lực của di chúc chung vợ chồng là khi nào ? Di chúc miệng có hiệu lực không ?

4. Chia tài sản chung của vợ chồng là bất động sản ?

Chào luật sư, Mong luật sư giải thích giúp tôi. Tôi có mảnh đất bố mẹ đẻ tặng riêng cho tôi giờ chồng tôi muốn làm lại bìa đỏ có cả tên vợ và tên chồng tôi. Như vậy sau này có việc không hay sảy ra chúng tôi có phải chia đôi đất không nếu tôi làm lại bìa đỏ có tên cả vợ và chồng?
- Đỗ Thị Tuyết

Luật sư trả lời:

Căn cứ tại Điều 43 luật hôn nhân và gia đình quy định về tài sản riêng của vợ chồng.

1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định các điều 38, 39, và 40 của luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà thoe quy định pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này.

Tại khoản 4 Điều 59 luật hôn nhân và gia đình "Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định".

Mảnh đất mà bạn được bố mẹ tặng cho bạn được xác định là tài sản riêng của bạn. Bạn có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng của mình; nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào tài sản chung. Vì là tài sản riêng nên bạn có thể quyết định cho người chồng mình cùng đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hay không. Việc nhập tài sản riêng vào tài sản sản chung phải có thỏa thuận và phải thực hiện theo thỏa thuận của cả hai vợ chồng. Việc mà hai vợ chồng cùng đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là căn cứ xác định đây là tài sản chung của hai vợ chồng. Chồng bạn cũng sẽ có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với mảnh đất đó.

Việc phân chia tài sản này sẽ được phát sinh khi hai vợ chồng ly hôn.

Điều 38. Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân.

1. Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung, trừ trường hợp quy định tại Điều 42 của Luật này; nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu tòa án giải quyết.

2. Thỏa thuận về tài sản chung phải lập thành văn bản. Văn bản nay được công chứng theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật.

3. Trong trường hợp vợ, chồng có yêu cầu thì tòa án giải quyết việc chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định tại Điều 59.

Hai vợ chồng có thể tự thỏa thuận được việc phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân việc phân chia này phải được lập thành văn bản. Nếu không tự phân chia được thi có thể yêu cầu Tòa án giải quyết.

Điều 59 quy định về Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn.

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này.

Như vậy, việc chia quyền sử dụng đất sẽ dựa trren thỏa thuận của hai vợ chồng, nếu hai bên không thỏa thuận được thì có thể yêu cầu tòa án giải quyết theo nguyên tắc quy định tại Khoản 2 Điều 95 Luật hôn nhân và gia đình.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng./.

6. Ly hôn đơn phương khi không có đủ giấy tờ theo quy định?

Thưa luật sư: Vợ chồng tôi cưới nhau được hơn 1 năm rồi. Trong thời gian chung sống chồng tôi không lo làm ăn mà ăn chơi cá độ đá banh dẫn đến nợ nần chồng chất, chồng tôi cũng không chăm sóc, lo lắng cho vợ con mà để vợ con cho cha mẹ chồng chăm sóc. Khi biết chồng tôi nợ nần cha mẹ tôi có la rầy và khuyên chồng tôi tu tỉnh làm ăn để trả nợ và lo cho vợ con nhưng chồng tôi không nghe mà đi ra ngoài nói xấu cha mẹ tôi.

Hiện tại tôi đã về nhà cha mẹ ruột sống và tôi muốn đơn phương ly hôn nhưng tôi không có Bản sao Giấy CMND và Hộ khẩu của chồng tôi thì hồ sơ của tôi có hợp lệ không và tôi có thể xin đơn phương ly hôn được không thưa luật sư ?

Trả lời:

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

- Nếu không có chứng minh thư và sổ hộ khẩu, bạn vẫn có thể đơn phương ly hôn theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014:

"Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hônnếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia."

- Hồ sơ ly hôn bao gồm:

+ Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn (bản chính);

+ Chứng minh nhân dân của vợ và chồng (bản sao có chứng thực);

+ Giấy khai sinh của các con (bản sao có chứng thực);

+ Sổ hộ khẩu gia đình (bản sao có chứng thực);

+ Đơn xin ly hôn (Theo mẫu)

- Nơi nộp hồ sơ: Tòa án nhân dân quận, huyện nơi cư trú của chồng bạn.

Trong trường hợp của chị, chồng giữ giấy tờ về sổ hộ khẩu thì chị có thể liên hệ với công an xã/phường nơi người chồng cư trú để xin xác nhận chồng chị có địa chỉ thường trú tại địa phương. Việc xác nhận có thể làm thành đơn riêng hoặc xác nhận ngay vào đơn xin ly hôn.

>> Xem thêm:  Tư vấn giải quyết cưỡng chế thi hành án khi chồng không thực hiện nghĩa vụ tài sản sau ly hôn ?

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Việc chia tài sản trước khi ra tòa ly hôn có vi phạm pháp luật không ?