Biết rằng pháp luật Việt Nam có quy định về “Thỏa thuận vể chế độ tài sản của vợ, chồng”. Đây là thủ tục giúp vợ, chồng đặt ra các nguyên tắc nhằm phân định tài sản nào phát sinh trong thời kỳ hôn nhân sẽ thuộc sở hữu riêng của vợ hoặc chồng thay vì áp dụng quy định pháp luật đều xem là tài sản chung. Tuy nhiên, yêu cầu đặt ra đối với lập “Thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng” là thỏa thuận này phải được vợ, chổng lập trước khi kết hôn. Như vậy, nếu vợ chổng bạn đã kết hôn với nhau rồi nhưng chưa lập “Thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chổng” mà nay lại có nhu cầu phần chia tài sản chung thì bạn cẩn làm như thế nào?

Câu hỏi: Chào luật sư, vợ chồng tôi kết hôn được 2 năm. Chồng tôi là công chức Nhà nước, tôi làm nội trợ. Trước khi kết hôn ba mẹ tôi để lại cho tôi một căn nhà có 5 phòng cho thuê. Tiền thuê mỗi tháng thu về được 25 triệu đồng. Vì đây là tài sản riêng và cũng là thu nhập chính của tôi, nên tôi muốn phân chia rõ tài sản trong thời kỳ hôn nhân. Như vậy, sau khi tôi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân có làm ảnh hưởng đến các tài sản khác không?

Luật sư tư vấn: Cảm ơn câu hỏi của bạn. Tôi xin thay mặt Luật Minh Khuê giải đáp vấn đề như sau:

1. phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là gì?

Pháp luật về hôn nhân và gia đình của Việt Nam quy định, tài sản chung của vợ, chồng bao gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ, chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Căn cứ theo quy định tại Điều 38 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân:

1. Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung, trừ trường hợp quy định tại Điều 42 của Luật này; nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Thỏa thuận về việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản. Văn bản này được công chứng theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật.

3. Trong trường hợp vợ, chồng có yêu cầu thì Tòa án giải quyết việc chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định tại Điều 59 của Luật này.”

Như vậy, Có 2 cách thức để phân chia tài sản chung vợ chổng trong thời kỳ hôn nhân, cụ thể gồm:

- Lập văn bản thỏa thuận chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân; và

- Yêu cầu Tòa án phần chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân.

Bạn sẽ áp dụng cách thức thứ nhất “Lập văn bản thỏa thuận phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân” trong trường hợp vợ chồng bạn có thể thỏa thuận được với nhau để phân chia các tài sản chung của mình. Trong trường hợp chỉ có vợ hoặc chồng đưa ra đề nghị phân chia tài sản chung còn người kia không đồng ý hoặc vợ, chồng không thể thống nhất được cách thức phân chia tài sản chung dẫn đến tranh chấp thì một trong hai bên có thể khởi kiện yêu cầu Tòa án thực hiện việc phần chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân.

>> Xem thêm:  Chuyển nhượng quyền sử dụng đất nông nghiệp chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất?

2. Tại sao phải thực hiện phân chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân?

Thứ nhất: Như tên gọi của thủ tục này, đây là thủ tục giúp cho vợ, chồng phân chia rõ ràng các tài sản chung nào trong thời kỳ hôn nhân sẽ thuộc sở hữu riêng của mỗi người sau khi hoàn tất việc phân chia. Vợ, chồng có thể thỏa thuận để chỉ phần chia một phẩn tài sản chung hoặc phân chia toàn bộ các tài sản chung, hoặc thậm chí ghi nhận sự công nhận của một bên đối với tài sản riêng đã có sẵn trước đầy của bên còn lại nhằm tránh tranh chấp vể sau. Trong trường hợp sau này vợ, chồng quyết định ly hôn với nhau, văn bản thỏa thuận phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân sẽ được Tòa án sử dụng để làm căn cứ phần chia tài sản của vợ, chồng như đã thỏa thuận.

Thông thường thì các cặp vợ, chồng sống với nhau sẽ ít khi phát sinh nhu cầu phải phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Với văn hóa trọng tình cảm hơn vật chất của người Việt Nam, việc đề cập đến phân chia tài sản chung sẽ dễ khiến bên còn lại hiểu lầm về việc người vợ/chồng đang có vấn đề về tình cảm và mối quan hệ hôn nhân có thể vì vậy mà bị ảnh hưởng.

Thứ hai: Trong một số trường hợp, một bên vợ hoặc chồng có thể buộc phải yêu cầu phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân nhằm mục đích bảo quản tài sản cho gia đình chẳng hạn (trong trường hợp bên còn lại đang phá tán tài sản của gia đình).

Ví dụ: Chồng chị A là anh B có thói đam mê cờ bạc và cá độ bóng đá. Sau nhiều lần khuyên nhủ, anh B không nghe lời, tài sản củ gia đình ngày một vơi đi. Khi ấy, vì mục đích đảm bảo việc chăm sóc con cái và gia đình hai bên. Chị A quyết định yêu cầu Tòa án phân chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân.

Thứ ba: Ngoài ra, đối với một số cặp vợ chồng trẻ thường tiếp xúc với văn hóa phương Tây có tư tưởng thoáng hơn, thì việc phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân cũng có thể dễ dàng chấp nhận hơn. Việc phân chia tài sản như vậy sẽ buộc hai bên phải có trách nhiệm hơn với tài sản của mình, tránh việc thu nhập ỉ lại vào một người. Từ đó, nâng cao sự bình đẳng giữ vợ và chồng trong gia đình.

3. Hệ quả đối với chế độ tài sản giữa vợ và chồng sau phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân?

Cần khẳng định, chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân không làm thay đổi chế độ tài sản giữa vợ và chồng. Dù vợ, chồng tiến hành chia toàn bộ tài sản chung thì chế độ tài sản của vợ, chồng vẫn là chế độ tài sản theo luật định. Việc chia tài sản chung khi hôn nhân đang tồn tại chỉ thay đổi hình thức sở hữu từ chung sang riêng đối với những tài sản nhất định. Những tài sản còn lại không nằm trong thỏa thuận vẫn thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng.

Khối tài sản chung của vợ chồng mang tính chất mở, chừng nào hôn nhân còn tồn tại thì khối tài sản đó còn tiếp tục phát sinh và thay đổi. Do đó, ngay cả trong trường hợp vợ chồng phân chia toàn bộ tài sản chung thì cũng không làm thay đổi chế độ tài sản trong tương lai. Nội dung này cũng được quy định cụ thể tại khoản 1 Điều 14 Nghị định 126/2014/NĐ-CP: “Việc chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân không làm chấm dứt chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định”.

4. Hình thức sở hữu tài sản sau phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân

>> Xem thêm:  Nghĩa vụ trả nợ chung sau khi ly hôn được quy định như thế nào?

Khoản 1 Điều 40 Luật HNGĐ 2014 xác định hậu quả của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân là “… phần tài sản được chia, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của mỗi bên sau khi chia tài sản chung là tài sản riêng của vợ, chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác. Phần tài sản còn lại không chia vẫn là tài sản chung của vợ chồng”.

Điều luật này được hướng dẫn rõ hơn tại văn bản quy định chi tiết, theo đó, khoản 2 Điều 14 Nghị định 126/2014/NĐ-CP liệt kê những tài sản sau sẽ trở thành tài sản riêng của vợ chồng do hậu quả của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, bao gồm: phần tài sản được chia; hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đó; hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng khác của vợ, chồng.

- Đối với phần phần tài sản được chia phát sinh hoa lợi, lợi tức thì những hoa lợi, lợi tức này cũng thuộc về tài sản riêng của một bên. Rõ ràng, những quy tắc chung về thành phần cấu tạo nên khối tài sản chung và khối tài sản riêng của vợ, chồng đã có sự thay đổi. Sự kiện phân chia tài sản chung khi hôn nhân đang tồn tại làm cho một bộ phận tài sản đáng lẽ sẽ là tài sản chung nay lại trở thành tài sản riêng. Cũng cần lưu ý là hệ quả này chỉ áp dụng cho hoa lợi, lợi tức phát sinh sau khi đã chia tài sản chung, những hoa lợi, lợi tức có trước đó vẫn thuộc sở hữu chung hợp nhất mà không bị lấy ra khỏi tài sản chung và nhập vào tài sản riêng.

Điểm tiến bộ trong pháp luật hiện hành còn nằm ở quy định hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng khác của vợ, chồng (những tài sản thuộc sở hữu riêng không phải do việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân). Việc bổ sung thêm nhóm tài sản này giúp các bên quản lý và xác định tài sản chung – riêng dễ dàng hơn. Mục đích của việc chia tài sản chung là tạo sự độc lập nhất định về tài chính, vì vậy thừa nhận hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng cũng là tài sản riêng sẽ phù hợp với mong muốn của các bên. Hơn nữa, suy cho cùng, tài sản gốc làm phát sinh hoa lợi, lợi tức vốn là tài sản riêng, nếu không có sự kiện kết hôn thì những hoa lợi, lợi tức này sẽ thuộc sở hữu riêng. Dễ nhận thấy, sau khi chia tài sản chung, tính chất “riêng” của các tài sản riêng trở nên “triệt để” hơn khi mà hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng lại trở về thuộc sở hữu riêng.

Pháp luật hiện hành ghi nhận khả năng vợ chồng có thỏa thuận khác về hậu quả của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân. Tuy nhiên, việc xác định hậu quả phân chia tài sản chung không nên được hiểu theo hướng mở rộng để vợ chồng có thể “thỏa thuận khác” đối với mọi loại tài sản mà chỉ nên giới hạn trong phạm vi “tài sản được chia; hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đó và hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng khác”. Nói cách khác, “thỏa thuận khác” của vợ chồng sẽ mang tính chất một chiều là giảm bớt khối lượng tài sản chuyển từ sở hữu chung hợp nhất sang sở hữu riêng mà không có chiều ngược lại.

- Đối với thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh: văn bản hướng dẫn có quy định: “Từ thời điểm việc chia tài sản chung của vợ chồng có hiệu lực, nếu tài sản có được từ việc khai thác tài sản riêng của vợ, chồng mà không xác định được đó là thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh của vợ, chồng hay là hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng đó thì thuộc sở hữu chung của vợ chồng”. Như vậy, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh luôn thuộc sở hữu chung hợp nhất, bất kể có nguồn gốc từ tài sản riêng hay tài sản chung. Sự kiện phân chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân hoàn toàn không ảnh hưởng đến hình thức sở hữu của nhóm tài sản này. Quy định trên cũng phù hợp với nguyên tắc suy đoán pháp lý: tài sản không chứng minh được là tài sản riêng của một bên thì thuộc sở hữu chung của vợ chồng.

Ví dụ: Như trường hợp của chị, do bố mẹ để lại cho chị căn nhà cho thuê hoa lợi 1 tháng là 25 triệu đồng. Trong khi làm nội trợ, chị làm thêm một công việc khác như bán đồ online thì lợi nhuận thu được từ việc kinh doanh đó sẽ được xác định là tài sản chung, nếu chị không chứng minh được số vốn chị bỏ ra để kinh doanh là khoản tiền chị lấy từ tiền hoa lợi của căn nhà cho thuê.

5. Quyền, nghĩa vụ về tài sản giữa vợ, chồng với người thứ ba sau phân chia tài sản chung

Thỏa thuận về việc phân chia tài sản không làm thay đổi quyền và nghĩa vụ về tài sản xác lập trước thời điểm phân chia tài sản có hiệu lực. Cụ thể quyền và nghĩa vụ về tài sản giữa vợ, chồng với người thứ ba phát sinh trước thời điểm việc phân chia tài sản chung có hiệu lực vẫn có giá trị pháp lý, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

Ngoài ra, pháp luật hiện hành còn quy định việc khôi phục chế độ tài sản chung của vợ chồng (Điều 41 LHNGĐ 2014). Theo đó, trường hợp vợ chồng đã chia tài sản chung và sau đó muốn khôi phục chế độ tài sản chung thì vợ chồng phải thỏa thuận bằng văn bản và ghi rõ các nội dung như: lý do khôi phục chế độ tài sản chung, phần tài sản thuộc sở hữu riêng của mỗi bên, phần tài sản thuộc sở hữu riêng của vợ chồng, thời điểm có hiệu lực của việc khôi phục chế độ tài sản chung…

>> Xem thêm:  Sống chung với nhau như vợ chồng trước ngày 3/1/1987 thì có quyền với tài sản chung không ?

Ví dụ: Trong trường hợp của chị A nêu trên, chồng chị có thói quen cờ bạc và nợ tiền người khác. Ta gọi đó là người thứ 3 có liên quan đến giao dịch về tài sản giữ vợ, chồng chị. Nếu giao dịch cho vay đó được thực hiện trước khi vợ chồng chị thỏa thuận về phân chia tài sản, thì chị vẫn phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ bằng tài sản và hoa lợi có được từ tiền cho thuê nhà.

Hậu quả về quan hệ tài sản sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân là mối quan tâm chủ yếu của các cặp vợ chồng khi tiến hành phân chia tài sản. Quy định hiện hành giữ vững chế độ tài sản pháp định giữa vợ và chồng, qua đó ổn định mối quan hệ tài sản và cao hơn là ổn định mối quan hệ gia đình, vợ, chồng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bên yếu thế hơn.

>> Xem thêm:  Các trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng ? Chia tài sản chung khi vợ chồng ly hôn ?

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là gì?

Trả lời:

Tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân được xác định theo quy định tại Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình thì: “Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tại ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Câu hỏi: Sở hữu chung hợp nhất có nghĩa là gì?

Trả lời:

Sở hữu chung hợp nhất là sở hữu chung mà trong đó, phần quyền sở hữu của mỗi chủ sở hữu chung không được xác định đối với tài sản chung. Sở hữu chung hợp nhất bao gồm sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia và sở hữu chung hợp nhất không phân chia.

Câu hỏi: Sở hữu chung theo phần nghĩa là gì?

Trả lời:

Sở hữu chung theo phần (căn cứ theo quy định tại Điều 209 Bộ luật dân sự năm 2015)

Sở hữu chung theo phần là sở hữu chung mà trong đó phần quyền sở hữu của mỗi chủ sở hữu được xác định đối với tài sản chung.

Mỗi chủ sở hữu chung theo phần có quyền, nghĩa vụ đối với tài sản thuộc sở hữu chung tương ứng với phần quyền sở hữu của mình, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.