1. Tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân được hiểu như thế nào?

Trong thời kỳ hôn nhân, việc chia tài sản chung của vợ chồng có thể gặp nhiều khó khăn và mâu thuẫn. Điều này thường xảy ra khi có sự không đồng ý giữa vợ chồng về việc chia tài sản hoặc khi có tranh cãi về giá trị và phạm vi của tài sản chung. Trong một số trường hợp, có thể có những hậu quả pháp lý và tâm lý phức tạp khiến việc chia tài sản trở nên phức tạp.

Dưới đây là một số tình huống phổ biến có thể dẫn đến tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng:

Không đồng ý về tỷ lệ chia tài sản: Một vấn đề chính trong việc chia tài sản chung là khả năng không đồng ý về tỷ lệ chia tài sản giữa vợ chồng. Một bên có thể muốn chia tài sản chung một cách bình đẳng, trong khi bên kia muốn chia không bình đẳng dựa trên đóng góp tài chính hoặc công sức vào tài sản chung. Điều này có thể dẫn đến tranh cãi và mâu thuẫn giữa vợ chồng về cách thức chia tài sản.

Tran tính trong việc xác định tài sản chung và tài sản riêng: Xác định tài sản chung và tài sản riêng có thể là một nhiệm vụ phức tạp. Trong nhiều trường hợp, có thể có sự giao động giữa tài sản riêng và tài sản chung, làm cho việc xác định rõ ràng trở nên khó khăn. Điều này có thể dẫn đến tranh cãi về việc tài sản nào thuộc về vợ hoặc chồng và tài sản nào là tài sản chung.

Đánh giá giá trị tài sản: Một vấn đề quan trọng khác là đánh giá giá trị thực tế của tài sản. Trong một số trường hợp, việc xác định giá trị chính xác của tài sản có thể gây ra mâu thuẫn giữa vợ chồng. Mỗi bên có thể có quan điểm khác nhau về giá trị của tài sản, dẫn đến tranh chấp về việc tài sản nào có giá trị cao hơn và nên thuộc về ai.

Yêu cầu bồi thường: Trong một số trường hợp, một trong hai bên có thể có ý định che giấu tài sản chung hoặc chuyển tài sản chung sang tên riêng, dẫn đến yêu cầu bồi thường hoặc yêu cầu chia tài sản chung một cách công bằng.

Tranh cãi về tài sản riêng: Ngoài tranh chấp về tài sản chung, việc chia tài sản riêng cũng có thể gây ra tranh cãi. Nếu có tranh cãi về tài sản riêng của mỗi bên, điều này cũng có thể dẫn đến mâu thuẫn trong việc chia tài sản chung.

Trong trường hợp vợ chồng không thể tự thỏa thuận được về việc chia tài sản chung, một trong hai bên có thể yêu cầu Tòa án can thiệp và giải quyết tranh chấp theo quy định tại Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 hoặc các quy định hướng dẫn thi hành liên quan. Khi có sự can thiệp của Tòa án, quyết định cuối cùng về việc chia tài sản chung sẽ dựa trên các yếu tố như đóng góp tài chính và lao động vào tài sản chung, quyền lợi và nhu cầu của con cái, cơ hội sinh sống

 

 

2. Thẩm quyền giải quyết đối với vụ án tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân?

Về nguyên tắc, tài sản chung vẫn tồn tại chừng nào hôn nhân còn tồn tại và chế độ tài sản này chỉ chấm dứt khi quan hệ hôn nhân chấm dứt. Nhưng trên thực tế, nhiều cặp vợ chồng muốn chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân do vợ chồng mâu thuẫn về mặt quản lý tài chính, hoặc vì nhiều lý do khác. Do đó, trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận về việc chia tài sản chung của vợ chồng.

Theo khoản 2 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (BLTĐS năm 2015) của Việt Nam, những tranh chấp về hôn nhân và gia đình bao gồm:

Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn; chia tài sản sau khi ly hôn.

Tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân.

Tranh chấp về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc xác định con cho cha, mẹ.

Tranh chấp về cấp dưỡng.

Tranh chấp về sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, mang thai hộ vì mục đích nhân đạo.

Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc khi hủy kết hôn trái pháp luật.

Các tranh chấp khác về hôn nhân và gia đình, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật.

Trong số các tranh chấp trên, tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân là một trong những loại tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Vì vậy, nếu vợ chồng có tranh chấp về việc chia tài sản chung trong thời gian hôn nhân, họ có quyền nộp đơn khởi kiện tại Tòa án. Quyết định về việc chia tài sản sẽ được Tòa án đưa ra dựa trên luật pháp hiện hành và các nguyên tắc công bằng, hợp lý.

Thẩm quyền giải quyết của Tòa án dân sự được xác định theo quy định của Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 như đã trình bày trong câu trả lời trước đó. Tùy vào địa điểm cư trú, làm việc của bị đơn, vụ án có thể được giải quyết tại Tòa án cấp huyện hoặc Tòa án cấp tỉnh.

Trong quá trình xem xét vụ án, Tòa án sẽ xem xét các chứng cứ và bằng chứng liên quan đến tài sản chung của vợ chồng, cân nhắc các yếu tố liên quan đến quá trình tích lũy tài sản và đóng góp của từng bên vào việc xây dựng gia đình, đồng thời đưa ra quyết định hợp lý và công bằng về việc chia tài sản giữa vợ và chồng.

Về cách xác định thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định như sau:
- Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các Điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;
- Các đương sự có quyền tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;
- Đối tượng tranh chấp là bất động sản thì chỉ Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết.
Căn cứ vào các quy định pháp luật trên thì đối với vụ án tranh chấp về chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, mà tài sản đó là bất động sản thì thẩm quyền giải quyết của Tòa án được xác định theo quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều 39 BLTTDS năm 2015; cụ thể là Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc. Như vậy, trong trường hợp của bạn, bạn phải nộp đơn khởi kiện tại Tòa án nơi chồng bạn cư trú, làm việc.

 

3. Nguyên tắc chia tài sản chung của vợ chồng trong quá trình hôn nhân

- Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung, trừ trường hợp quy định tại Điều 42 của Luật Hôn nhân và gia đình 2014; nếu không thỏa thuận được thì hoàn toàn có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Thỏa thuận về việc chia tài sản chung thì phải lập thành văn bản. Văn bản này được công chứng theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật.

- Đối với trường hợp vợ, chồng có yêu cầu thì Tòa án giải quyết việc chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định tại Điều 59 của Luật Hôn nhân gia đình 2014.

Lưu ý: Thỏa thuận chia tài sản chung phải được thành lập bằng văn bản, vì đây sẽ là căn cứ để bảo vệ quyền và lợi ích của mỗi bên khi có tranh chấp phát sinh, đặc biệt là khi xảy ra vấn đề và buộc phải ly hôn.

Bên cạnh đó, Điều 39 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có quy định về thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân như sau:

- Thời điểm có hiệu lực của việc chia tài sản chung của vợ chồng là thời điểm do vợ chồng thỏa thuận và được ghi trong văn bản; nếu trong văn bản không xác định thời điểm có hiệu lực thì thời điểm có hiệu lực được tính từ ngày lập văn bản.

- Trong trường hợp tài sản được chia mà theo quy định của pháp luật, giao dịch liên quan đến tài sản đó phải tuân theo hình thức nhất định thì việc chia tài sản chung của vợ chồng có hiệu lực từ thời điểm việc thỏa thuận tuân thủ hình thức mà pháp luật quy định.

- Trong trường hợp Tòa án chia tài sản chung của vợ chồng thì việc chia tài sản chung có hiệu lực kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

- Quyền, nghĩa vụ về tài sản giữa vợ, chồng với người thứ ba phát sinh trước thời điểm việc chia tài sản chung có hiệu lực vẫn có giá trị pháp lý, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

Như vậy, vợ chồng hoàn toàn có thể thực hiện việc chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân. Tuy nhiên cần lưu ý các quy định của pháp luật về vấn đề này, đồng thời thực hiện việc chia tài sản một cách rõ ràng, nghiêm túc để tránh những tranh chấp không đáng có sau này.

Các bạn có thể tham khảo thêm các bài viết liên quan đến lĩnh vực hôn nhân và gia đình tại đây: Hướng dẫn nhập tài sản riêng vào tài sản chung của vợ chồng?

Liên hệ với Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến qua số hotline 1900.6162. Hoặc qua email: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ nhanh chóng.

Trân trọng!