- 1. Hệ thống bảo đảm gỗ hợp pháp Việt Nam là gì?
- 2. Các nguồn gốc gỗ được kiểm soát bởi VNTLAS là gì?
- 3. Hệ thống VNTLAS quy định gỗ trong nước như thế nào?
- 4. Hệ thống VNTLAS quy định vấn đề gỗ nhập khẩu như thế nào?
- 5. Hệ thống VNTLAS quy định xuất khẩu gỗ như thế nào?
- 6. Hệ thống VNTLAS quy định gỗ quá cảnh như thế nào?
- 7. Hiệp định VPA/FLEGT quy định các hệ thống chứng chỉ rừng như thế nào?
- 8. Các hành vi vi phạm pháp luật và không tuân thủ Hệ thống VNTLAS bị xử lý như thế nào?
Nội dung được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Dân sự của Công ty luật Minh Khuê
>> Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự, gọi: 1900 6162
1. Hệ thống bảo đảm gỗ hợp pháp Việt Nam là gì?
Hệ thống VNTLAS, trong tiếng Anh được gọi là VietNam Timber Legality Assurance System, viết tắt là VNTLAS.
Hệ thống VNTLAS hay còn gọi là hệ thống đảm bảo gỗ hợp pháp của Việt Nam nhằm mục đích đảm bảo gỗ và sản phẩm gỗ được quy định trong Hiệp định VPA/FLEGT.
VNTLAS được xây dựng dựa trên các qui định pháp luật liên quan đến từng giai đoạn của toàn bộ chuỗi cung ứng gỗ, bao gồm khai thác, nhập khẩu, vận chuyển, chế biến, mua bán và xuất khẩu.
VNTLAS được xây dựng dựa trên luật pháp hiện hành của quốc gia, cùng với các qui định bổ sung được ban hành nhằm thực thi Hiệp định, với sự tham gia của các Bộ, ngành, địa phương, khu vực tư nhân và các tổ chức xã hội dân sự liên quan đến lâm nghiệp và thương mại gỗ.
2. Các nguồn gốc gỗ được kiểm soát bởi VNTLAS là gì?
- Gỗ rừng tự nhiên trong nước: là gỗ được khai thác chính, tận dụng, tận thu từ diện tích rừng tự nhiên trong nước theo qui định của pháp luật.
- Gỗ rừng trồng tập trung trong nước: là gỗ được khai thác chính, tận thu, tận dụng từ rừng trồng phòng hộ và rừng trồng sản xuất tập trung trong nước, rừng trồng tập trung có diện tích tập trung từ 0,5 ha trở lên và có dải cây rừng có chiều rộng tối thiểu 20m với từ 3 hàng cây trở lên.
- Gỗ vườn nhà, trang trại và cây phân tán: là gỗ được khai thác, tận dụng, tận thu từ cây ngoài diện tích được qui hoạch cho đất rừng và rừng trồng tập trung, bao gồm cây xung quanh nhà và vườn, ven đường, dọc bờ kênh, bờ mương, bờ ruộng, quanh đình, chùa.
- Gỗ cao su trong nước: là gỗ được khai thác từ diện tích cao su trong nước trên đất nông nghiệp và đất lâm nghiệp.
- Gỗ sau xử lí tịch thu: là tang vật của các vụ vi phạm hành chính và hình sự được các chủ thể có thẩm quyền (Cơ quan Chính phủ, cơ quan tiến hành tố tụng) quyết định tịch thu xung quĩ nhà nước và được xử lí bán đấu giá theo một trình tự, thủ tục luật định.
- Gỗ nhập khẩu: là tất cả các loại gỗ, bao gồm cả gỗ cao su, được đưa vào lãnh thổ Việt Nam từ nước ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo qui định của pháp luật. (Theo VPA-FLEGT, VCCI)
3. Hệ thống VNTLAS quy định gỗ trong nước như thế nào?
Hệ thống VNTLAS bao trùm tất cả các nguồn gỗ trong nước tại Việt Nam, bao gồm gỗ khai thác từ rừng trồng sản xuất; gỗ từ vườn nhà, trang trại và cây trồng phân tán; gỗ cao su; gỗ có thể được phép khai thác từ rừng tự nhiên. Theo các quy định hiện hành, gỗ rừng tự nhiên không được phép khai thác chính mà chỉ được phép khai thác tận thu, tận dụng. Các Tổ chức và Hộ gia đình phải chịu trách nhiệm khi mua, bán gỗ nhằm đảm bảo rằng chỉ có gỗ hợp pháp được đi vào chuỗi cung ứng và việc khai thác gỗ tuân thủ các quy định về quyền sử dụng đất, quyền sử dụng rừng, quản lý, môi trường và xã hội. Định nghĩa gỗ hợp pháp liệt kê các tiêu chí và bằng chứng áp dụng cho các Tổ chức và Hộ gia đình sử dụng gỗ từ các nguồn khác nhau trong nước.
4. Hệ thống VNTLAS quy định vấn đề gỗ nhập khẩu như thế nào?
Hiệp định VPA/FLEGT không chỉ giải quyết tính hợp pháp của gỗ trong nước mà còn giải quyết tính hợp pháp của gỗ nhập khẩu vào Việt Nam. Để đảm bảo tính hợp pháp của gỗ nhập khẩu, cách tiếp cận xác minh dựa trên rủi ro sẽ được áp dụng. Các yếu tố chính của kiểm soát gỗ nhập khẩu bao gồm:
- Các bộ lọc rủi ro đối với gỗ nhập khẩu. Bên cạnh hệ thống phân loại rủi ro của hải quan thì sẽ áp dụng hai bộ lọc rủi ro sau đối với gỗ nhập khẩu. Bộ lọc thứ nhất là nhóm loài rủi ro. Các loài gỗ nhập khẩu sẽ được phân loại thành hai nhóm – nhóm rủi ro cao và nhóm rủi ro thấp – dựa trên một số tiêu chí. Ví dụ như, các loài rủi ro cao bao gồm các loài nguy cấp, quý, hiếm theo quy định của pháp luật Việt Nam và được quy định trong các Phụ lục của CITES. Bộ lọc thứ hai là rủi ro gắn với xuất xứ vùng địa lý. Gỗ nhập khẩu có loài thuộc nhóm rủi ro cao và/hoặc đến từ vùng địa lý rủi ro cao sẽ chịu sự kiểm soát nhiều hơn. Các tiêu chí đối với các bộ lọc rủi ro này được quy định trong Hiệp định VPA/FLEGT và quy định về Hệ thống VNTLAS.
- Trách nhiệm giải trình về nguồn gốc gỗ nhập khẩu. Các nhà nhập khẩu gỗ sẽ phải thực hiện trách nhiệm giải trình để đảm bảo rằng gỗ nhập khẩu được khai thác, sản xuất và xuất khẩu hợp pháp theo quy định pháp luật của quốc gia khai thác. Trách nhiệm giải trình có nghĩa rằng nhà nhập khẩu phải thu thập thông tin từ các nhà cung cấp ở các quốc gia khác, phân tích thông tin nhằm xác định bất kỳ rủi ro về tính bất hợp pháp và áp dụng các biện pháp giảm thiểu rủi ro về nguồn gốc gỗ. Theo quy định của Hiệp định VPA/FLEGT, đánh giá rủi ro này bao trùm các lĩnh vực: quyền khai thác, các hoạt động lâm nghiệp, thuế và các loại phí, thương mại và hải quan theo quy định pháp luật của quốc gia khai thác.
- Yêu cầu về kê khai. Nhà nhập khẩu cần phải hoàn thiện một bản kê khai giải thích hoạt động giải trình của mình. Bản kê khai được áp dụng cho tất cả các lô gỗ nhập khẩu vào Việt Nam, ngoại trừ gỗ có giấy phép CITES hoặc giấy phép FLEGT từ một quốc gia VPA khác được Việt Nam công nhận. Bản kê khai sẽ được nộp cùng với hồ sơ hải quan hiện hành.
- Yêu cầu tài liệu bổ sung. Đối với gỗ nhập khẩu có loài thuộc nhóm rủi ro cao và/hoặc đến từ vùng địa lý rủi ro cao thì sẽ phải bổ sung tài liệu làm bằng chứng về tính hợp pháp. Tài liệu này có thể là: chứng chỉ tự nguyện hoặc chứng chỉ quốc gia được Hệ thống VNTLAS công nhận; giấy phép khai thác theo quy định pháp luật của quốc gia khai thác; hoặc tài liệu bổ sung thay thế khác chứng minh nguồn gốc hợp pháp của gỗ theo quy định pháp luật của quốc gia khai thác.
- Xác minh dựa trên rủi ro đối với gỗ nhập khẩu. Việc tuân thủ các quy định về nhập khẩu, bao gồm các yêu cầu về trách nhiệm giải trình, sẽ được thực hiện thông qua thanh tra, kiểm tra hải quan và kiểm tra sau thông quan của cơ quan hải quan phối hợp với cơ quan kiểm lâm sở tại. Trong trường hợp không tuân thủ các quy định về nhập khẩu, các biện pháp xử phạt hành chính hoặc xử lý hình sự phù hợp và mang tính răn đe sẽ được thực hiện theo quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam.
5. Hệ thống VNTLAS quy định xuất khẩu gỗ như thế nào?
Cách tiếp cận dựa trên rủi ro cũng sẽ được áp dụng để xác minh gỗ xuất khẩu sang cả thị trường EU và ngoài EU. Tất cả các nhà xuất khẩu gỗ cần phải tuân thủ các yêu cầu áp dụng cho hồ sơ gỗ xuất khẩu. Khi xuất khẩu, các Tổ chức nhóm 2 và các cá nhân phải có xác nhận của cơ quan kiểm lâm sở tại vào hồ sơ gỗ xuất khẩu trước khi tiến hành xuất khẩu. Các Tổ chức nhóm 1 sẽ tự xác nhận vào hồ sơ gỗ xuất khẩu.
Khi Hiệp định VPA/FLEGT được thực thi đầy đủ và cơ chế cấp phép FLEGT bắt đầu hoạt động thì các nhà xuất khẩu sang EU sẽ phải đề nghị cấp giấy phép FLEGT cho lô hàng xuất khẩu và phải có giấy phép FLEGT khi xuất khẩu.
6. Hệ thống VNTLAS quy định gỗ quá cảnh như thế nào?
Gỗ quá cảnh không thuộc phạm vi điều chỉnh của Hệ thống VNTLAS.
“Sản phẩm gỗ quá cảnh” là bất kỳ sản phẩm gỗ nào có xuất xứ từ một nước thứ ba được đưa vào lãnh thổ Việt Nam dưới sự kiểm soát của hải quan và được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam theo đúng nguyên trạng của sản phẩm đó tại nước xuất xứ.
Gỗ quá cảnh tách biệt với gỗ thuộc phạm vi điều chỉnh của Hệ thống VNTLAS và chịu sự kiểm tra, giám sát của hải quan từ khi nhập vào Việt Nam cho đến khi xuất ra khỏi Việt Nam chưa qua chế biến theo quy định của pháp luật Việt Nam. Gỗ quá cảnh không chịu sự xác minh tính hợp pháp theo quy định của Hệ thống VNTLAS và không được cấp phép FLEGT.
7. Hiệp định VPA/FLEGT quy định các hệ thống chứng chỉ rừng như thế nào?
Hiệp định VPA/FLEGT quy định việc công nhận các hệ thống chứng chỉ rừng tự nguyện và hệ thống chứng chỉ quốc gia. Việt Nam sẽ đánh giá các hệ thống chứng chỉ tự nguyện và hệ thống chứng chỉ quốc gia theo yêu cầu của Hệ thống VNTLAS làm cơ sở công nhận các hệ thống này. Hệ thống chứng chỉ tự nguyện và hệ thống chứng chỉ quốc gia được công nhận sẽ được coi là bằng chứng bổ sung khi xác minh dựa trên rủi ro đối với gỗ nhập khẩu. Các hệ thống chứng chỉ tự nguyện, trách nhiệm giải trình tự nguyện và chuỗi hành trình sản phẩm cũng có thể được tích hợp vào phương pháp luận của Hệ thống phân loại tổ chức. Ủy ban thực thi chung (JIC) có vai trò quan trọng trong việc quyết định phương pháp luận đánh giá các hệ thống này.
8. Các hành vi vi phạm pháp luật và không tuân thủ Hệ thống VNTLAS bị xử lý như thế nào?
Quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam sẽ được áp dụng để xử lý các hành vi vi phạm Luật Lâm nghiệp và các hành vi không tuân thủ Hệ thống VNTLAS. Tùy thuộc vào loại hình và mức độ nghiêm trọng của hành vi vi phạm hoặc không tuân thủ mà áp dụng các thủ tục, biện pháp xử phạt hành chính hoặc xử lý hình sự. Các hành vi vi phạm Luật lâm nghiệp được lưu trữ trong cơ sở dữ liệu vi phạm ở trung ương (Cục Kiểm lâm). Hồ sơ vi phạm sẽ được xem xét trong hệ thống xác minh dựa trên rủi ro.
Trên đây là tư vấn của chúng tôi về "Hệ thống bảo đảm gỗ hợp pháp quy định như thế nào về gỗ trong nước, gỗ nhập khẩu và xuất khẩu gỗ". Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Luật Minh Khuê - Sưu tầm & biên tập