1. Khái quát chung

Trên thực tế có những người bị tạm giữ, tạm giam chấp hành tốt các quy định của pháp luật còn có những người không tự giác chấp hành mà còn có thái độ chống đối, lẩn tránh pháp luật. Các hoạt động tiêu cực này xuất phát từ nhiều nguyên nhân, từ việc hạn chế nhận thức pháp luật cho đến vướng mắc tâm lý cá nhân. Do đó, để có thể đạt được mục đích của việc quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam thì không chỉ quản lý chặt chẽ người bị tạm giữ, tạm giam mà còn phải giáo dục họ. Thông qua giáo dục, người bị tạm giữ, tạm giam sẽ nhận thức được tội lỗi do hành vi của mình gây ra cũng như chính sách của Nhà nước đối với họ, những yêu cầu, đòi hỏi của xã hội để từ đó họ hối cải, tích cực cộng tác với các cơ quan chức năng trong qúa trình làm rõ sự thật của vụ án. Nội dung giáo dục là các quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ, tạm giam trong thời gian bị giam, giữ; chính sách của Nhà nước đối với họ cũng như giải quyết các vấn đề liên quan đến thái độ không thành khẩn của họ trong khai báo để người bị tạm giữ, người bị tạm giam thấy rõ tội lỗi, trách nhiệm của mình, từ đó khai báo thành khẩn và chấp hành tốt nội quy, quy chế của cơ sở giam giữ.

2. Quyền của người bị tạm giữ, người bị tạm giam trong luật thi hành tạm giữ, tạm giam

Theo khoản 1 Điều 9 Luật thi hành tạm giữ, tạm giam 2015 thì người bị tạm giữ, người bị tạm giam có các quyền sau đây:
Điều 9. Quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ, người bị tạm giam
1. Người bị tạm giữ, người bị tạm giam có các quyền sau đây:
a) Được bảo vệ an toàn tính mạng, thân thể, tài sản, tôn trọng danh dự, nhân phẩm; được phổ biến các quyền và nghĩa vụ của mình, nội quy của cơ sở giam giữ;
b) Được thực hiện quyền bầu cử theo quy định của Luật bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, quyền bỏ phiếu trưng cầu ý dân theo quy định của Luật trưng cầu ý dân;
c) Được bảo đảm chế độ ăn, ở, mặc, đồ dùng sinh hoạt cá nhân, chăm sóc y tế, sinh hoạt tinh thần, gửi, nhận thư, nhận quà, nhận sách, báo, tài liệu;
d) Được gặp thân nhân, người bào chữa, tiếp xúc lãnh sự;
đ) Được hướng dẫn, giải thích và bảo đảm thực hiện quyền tự bào chữa, nhờ người bào chữa, trợ giúp pháp lý;
e) Được gặp người đại diện hợp pháp để thực hiện giao dịch dân sự;
g) Được yêu cầu trả tự do khi hết thời hạn tạm giữ, thời hạn tạm giam;
h) Được khiếu nại, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật;
i) Được bồi thường thiệt hại theo quy định của Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước nếu bị giam, giữ trái pháp luật;
k) Được hưởng các quyền khác của công dân nếu không bị hạn chế bởi Luật này và luật khác có liên quan, trừ trường hợp các quyền đó không thể thực hiện được do họ đang bị tạm giữ, tạm giam.

3. Hệ thống tổ chức cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam nhiệm vụ, quyền hạn của Cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam

Cơ quan quản lý tạm giữ tạm giam là cơ quan nhà nước, được thành lập để thực hiện việc quản lý tạm giữ, tạm giam trên phạm vi toàn quốc. Hệ thống tổ chức của cơ quan này bao gồm: Cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam trong Công an nhân dân và Cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam trong quân đội nhân dân.
Điều 10. Hệ thống tổ chức cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam
1. Cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam trong Công an nhân dân bao gồm:
a) Cơ quan quản lý thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp thuộc Bộ Công an thực hiện quản lý tạm giữ, tạm giam trong phạm vi cả nước (sau đây gọi là cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam thuộc Bộ Công an);
b) Cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện quản lý tạm giữ, tạm giam trong địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam cấp tỉnh);
c) Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện quản lý tạm giữ, tạm giam trong địa bàn huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam cấp huyện).
Theo quy định tại khoản 1 Điều 10 Luật thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015 thì Cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam trong Công an nhân dân bao gồm:  Cơ quan quản lý thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp thuộc Bộ Công an thực hiện quản lý tạm giữ, tạm giam trong phạm vi cả nước (sau đây gọi là cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam thuộc Bộ Công an); Cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thực hiện quản lý tạm giữ, tạm giam trong địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam cấp tỉnh);  Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương thực hiện quản lý tạm giữ, tạm giam trong địa bàn huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam cấp huyện).
Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam thuộc Bộ Công an được quy định tại khoản 1 Điều 12 Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam 2015 như sau: Giúp Bộ trưởng Bộ Công an thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều 63 của Luật này như:cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam giúp bộ trưởng trong việc chỉ đạo nghiệp vụ, hướng dẫn việc áp dụng thống nhất các quy định của pháp luật về thi hành tạm giữ, tạm giam; Quyết định phân bổ kinh phí, bảo đảm điều kiện cho hoạt động quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam….Tổ chức triển khai thi hành pháp luật về thi hành tạm giữ, tạm giam;>> cơ quan quản lý tạm giữ, tạm giam thuộc Bộ Công an Xác định trách nhiệm và phân công nhiệm vụ cụ thể cho các Bộ, ngành, địa phương trong triển khai thi hành Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam, bảo đảm thống nhất, hiệu quả; tuyên truyền, phổ biến Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam đến cán bộ, công chức, viên chức và cho nhân dân…Chỉ đạo nghiệp vụ, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật về thi hành tạm giữ, tạm giam thông qua việc tập huấn chuyên sâu về Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam, bồi dưỡng nâng cao nhận thức pháp luật về công tác tạm giữ, tạm giam; Quyết định việc điều chuyển người bị tạm giữ, tạm giam giữa các cơ sở giam giữ bằng việc đưa ra những quyết định , tiến hành theo đúng trình tự thủ tục mà pháp luật quy định. Thanh tra, kiểm tra về tạm giữ, tạm giam theo thẩm quyền. Việc thanh tra, kiểm tra việc tổ chức thực hiện độc lập dưới sự quản lý, chỉ đạo theo đúng thẩm quyền để tránh tình trạng cơ quan điều tra và cơ quan phụ trách nhà tạm giữ, tạm giam cùng một đầu mối làm chỉ huy dễ dẫn tới sai sót, lạm quyền trong tiếp xúc hỏi cung, hạn chế oan sai do bức cung, nhục hình gây raThực hiện chế độ thống kê, báo cáo về thi hành tạm giữ, tạm giam; Tổng kết công tác thi hành tạm giữ, tạm giam thể hiện ở việc Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác do Bộ trưởng Bộ Công an giao.

4. Hệ thống tổ chức cơ quan thi hành tạm giữ, tạm giam và nhiệm vụ, quyền hạn của nhà tạm giữ, trại tạm giam

4.1 Hệ thống tổ chức cơ quan thi hành tạm giữ, tạm giam

Các cơ quan thi hành tạm giữ, tạm giam được thành lập trên phạm vi toàn quốc tạo thành hệ thống tổ chức cơ quan thi hành tạm giữ, tạm giam, các cơ quan đó bao gồm:Trại tạm giamthuộc Bộ Công an; Trại tạm giam thuộc Bộ Quốc phòng; Trại tạm giam Công an cấp tỉnh; trại tạm giam thuộc quân khu và tương đương (sau đây gọi chung là trại tạm giam cấp quân khu); Nhà tạm giữ Công an cấp huyện; nhà tạm giữ Cơ quan điều tra hình sự khu vực trong Quân đội nhân dân;Buồng tạm giữ của đồn biên phòng ở hải đảo, biên giới xa trung tâm hành chính cấp huyện.

4.2 Nhiệm vụ, quyền hạn của nhà tạm giữ, trại tạm giam

Theo quy định tại khoản 1 Điều 13 Luật thi hành tạm giữ, tạm giam 2015 thì nhà tạm giữ, trại tạm giam có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:Tiếp nhận, lập hồ sơ, lập danh bản, chỉ bản của người bị tạm giữ, người bị tạm giam theo lệnh, quyết định của người có thẩm quyền được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự hoặc người có quyết định điều chuyển theo quy định của Luật này;Thực hiện các biện pháp quản lý giam giữ người bị tạm giữ, người bị tạm giam;Áp dụng các biện pháp bảo vệ an toàn tính mạng, thân thể, tài sản, tôn trọng danh dự, nhân phẩm của người bị tạm giữ, người bị tạm giam;Bảo đảm cho người bị tạm giữ, người bị tạm giam thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của Luật này và pháp luật có liên quan; giải quyết kiến nghị theo thẩm quyền hoặc chuyển kháng cáo, khiếu nại, tố cáo, yêu cầu, kiến nghị, đề  nghị của người bị tạm giữ, người bị tạm giam đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết;Giao người bị tạm giữ, người bị tạm giam theo lệnh trích xuất, quyết định điều chuyển của người có thẩm quyền;Báo cáo cơ quan có thẩm quyền khi có căn cứ cho rằng lệnh, quyết định tạm giữ, tạm giam, trả tự do là trái pháp luật;Phối hợp với các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan trong điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án;Thông báo bằng văn bản cho cơ quan đang thụ lý vụ án 01 ngày trước khi hết thời hạn tạm giữ, gia hạn tạm giữ, 05 ngày trước khi hết thời hạn tạm giam, 10 ngày trước khi hết thời hạn gia hạn tạm giam và yêu cầu cơ quan đang thụ lý vụ án giải quyết theo pháp luật; trường hợp hết thời hạn tạm giữ, thời hạn tạm giam, cơ quan đang thụ lý vụ án không giải quyết thì kiến nghị ngay Viện kiểm sát nhân dân có thẩm quyền kiểm sát quản lý, thi hành tạm giữ, tạm giam xử lý;Trả tự do cho người bị tạm giữ, người bị tạm giam theo quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền;Thực hiện thống kê, báo cáo về thi hành tạm giữ, tạm giam. Đối với nhà tạm giữ Công an cấp huyện và trại tạm giam, ngoài nhiệm vụ, quyền hạn được quy định tại khoản 1 Điều 13 Luật thi hành tạm giữ, tạm giam 2015 còn có nhiệm vụ, quyền hạn tiếp nhận, quản lý giam giữ, giáo dục cải tạo phạm nhân và thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.