- 1. Khái quát về hệ thống pháp luật Anh
- 2. Lịch sử pháp luật Anh quốc
- 3. Hệ thống toà án Anh quốc
- 3.1. Tổ chức của các tòa cấp cao ở Anh (senior courts)
- 3.2. Tòa án Tối cao của Liên hiệp Anh (Supreme Court of UK)
- 3.3. Hội đồng cơ mật
- 3.4. Xét xử các vụ việc hành chính
- 4. Cấu trúc hệ thống và nguồn luật ở Vương Quốc Anh
- 4.1. Án lệ
- 4.2. Lẽ phải
- 4.3. Nguồn khác
- 5. Vai trò của thẩm phán
1. Khái quát về hệ thống pháp luật Anh
Pháp luật Anh là hệ thống pháp luật được áp dụng cho toàn xứ Anh và xứ Wales được xây dựng cơ sở của Thông luật. Hệ thống pháp luật Anh được sử dụng trong hầu hết các quốc gia thuộc Khối Thịnh Vượng Chung và Hoa Kỳ, ngoại trừ tiểu bang Louisiana (sử dụng hệ thống Dân luật). Nó được truyền bá sang các nước Khối thịnh vượng chung trong khi Đế quốc Anh bành trướng vào thế kỷ 19 và nó hình thành nên cơ sở của khoa học pháp lý của hầu hết các quốc gia chịu ảnh hưởng. Pháp luật Anh cũng tác động và ảnh hưởng mạnh mẽ ở nước Mỹ trước khi cuộc Cách mạng Mỹ năm 1776, nó là một phần của luật pháp của Hoa Kỳ thông qua quy chế tiếp nhận, ngoại trừ ở Louisiana từ đó Pháp luật Anh và cung cấp cơ sở nền tảng cho truyền thống pháp lý và chính sách ở Mỹ mặc dù nó không có thẩm quyền thay thế pháp luật.
2. Lịch sử pháp luật Anh quốc

Hệ thống thông luật trên toàn thế giới bắt nguồn từ Anh quốc vào giai đoạn phát triển về kinh tế, xã hội, chính trị và pháp luật dưới chế độ phong kiến. Một trong những đặc điểm ở Anh lúc đó là các tranh chấp được giải quyết hoàn toàn trong phạm vi hẹp của các lãnh địa mà không quan tâm đến các vùng khác giải quyết như thế nào. Khi nhà vua muốn thiết lập quyền lực tập trung, ý định này gặp phải sự phản kháng từ các vị lãnh chúa. Mặc dù vậy, nhà vua vẫn thành lập các tòa án của mình và cử các thẩm phán đi xét xử lưu động trên toàn vương quốc với thẩm quyền về một số loại vụ việc, chứ không phải có thẩm quyền chung. Bằng các phán quyết của mình có tính chất chung, thông lệ (common) trên toàn vương quốc, các tòa án hoàng gia đã tạo nên những luật lệ thống nhất đầu tiên, tạo nền tảng cho sự thống nhất của cả trật tự pháp lý.
Từ đây xuất hiện khái niệm “thông luật”- common law, tức là pháp luật có tính chất chung trên toàn vương quốc Anh. Đáng nói là, quá trình phát triển và tập trung hóa hệ thống pháp luật ở Anh diễn ra sớm hơn nhiều so với sự phát triển của nghị viện Anh. Trong suốt quá trình song hành, luôn diễn ra sự xung đột giữa luật của tòa án và luật thành văn, phản ánh mâu thuẫn giữa vương quyền và nghị viện. Khi luật thành văn có thể áp dụng trực tiếp cho một tình huống cụ thể, tòa án phải ra phán quyết theo quy định thành văn; nhưng khi có sự nghi ngờ, văn bản pháp luật do nghị viện ban hành sẽ được giải thích một cách rất hạn hẹp nhằm giảm thiểu tối đa sự “xâm chiếm” của văn bản và dành cho tòa án thẩm quyền tối đa.
Hệ thống các quy phạm pháp lý đã định hình cơ bản dựa trên các phán quyết của tòa án. Cần biết đặc điểm này để hiểu được bản chất của thông luật nói chung và án lệ nói riêng ở Anh quốc, nhất là đặt trong mối quan hệ giữa án lệ và luật thành văn. Nguyên tắc stare decisis, theo đó, nghĩa vụ của thẩm phán Anh quốc phải tuân theo những quy tắc có trong những quyết định toà án được đưa ra trước đó bắt đầu ăn sâu ở Anh chỉ từ nửa sau thế kỷ XIX. Việc ban hành "Luật về Tổ chức toà án" vào thời điểm này làm cho cấu trúc của hệ thống toà án trở nên rõ ràng, chặt chẽ hơn và việc nâng cao chất lượng của các tuyển tập án lệ đã hỗ trợ đáng kể cho quy tắc án lệ được đưa vào thực tế nhiều hơn.
3. Hệ thống toà án Anh quốc
Hệ thống toà án Anh chia ra xét xử cấp cao (senior courts), với đỉnh là Tòa án tối cao Liên hiệp Anh (Supreme Court of the UK) và xét xử cấp thấp do số lượng lớn các toà cấp dưới và những cơ quan bán pháp lý tương đương thực hiện. Tuy nhiên, từ góc độ nghiên cứu án lệ, phần này của bài viết chỉ đề cập đến hoạt động của các toà cấp cao bởi những toà đó không chỉ xem xét các vụ việc cụ thể mà còn đưa ra quyết định thường vượt ra khỏi khuôn khổ của vụ án và trong những điều kiện nhất định tạo ra tiền lệ cho những vụ việc sau này. Các quan toà những toà án cấp cao ở Anh có vị trí quan trọng và vai trò của họ rất to lớn. Ở Anh tồn tại mộtquyền lực tư pháp thực thụ mà về uy tín lẫn ý nghĩa đều không thua kém quyền lực lập pháp và hành pháp.
3.1. Tổ chức của các tòa cấp cao ở Anh (senior courts)
Theo Luật về Toà án năm 1971 của Anh, các tòa cấp cao ở Anh gồm: Toà tối thượng Công lý (Hight Court of Justice), Toà Vương miện (Crown Court) và Toà phúc thẩm (Court of Appeal). Toà tối thượng gồm ba bộ phận: bộ phận Hoàng gia (Queen’s Bench Division), Tòa đại pháp - bộ phận xét xử theo luật công lý (Chancery Division) và bộ phận về luật gia đình (Family Division). Trong khuôn khổ của bộ phận Hoàng gia có Toà Đô đốc và Toà Thương mại; trong khuôn khổ Tòa đại pháp có Toà môn bài.
Toà tối thượng có gần 100 quan toà (mang danh hiệu "Justices") cộng với Chánh án (Lord) đứng đầu bộ phận Hoàng gia, Phó pháp quan (Vice Chancellor) đứng đầu Tòa đại pháp và quan toà đứng đầu bộ phận luật gia đình. Các quan toà được bổ nhiệm từ những luật sư mà đối với họ, trở thành quan toà là đỉnh cao trong đường sự nghiệp.
Những vụ việc ở cấp sơ thẩm do một quan toà xét xử. Hiện nay, bồi thẩm đoàn chỉ tham gia vào những vụ việc dân sự trong những trường hợp ngoại lệ. Toà Vương miện - một tổ chức mới do Luật về Toà án 1971 lập ra. Toà xem xét những vụ án hình sự. Thành phần của toà đa dạng hơn. Phụ thuộc vào dạng tội phạm, vụ án có thể do quan toà của Toà tối thượng, hoặc quan toà hạt (phải là quan toà chuyên nghiệp, thường xuyên làm việc), hoặc luật sư - recorders (barristers, solisiters) tạm thời gánh trách nhiệm của quan toà xem xét.
Nếu bị cáo không chịu công nhận mình có tội, bồi thẩm đoàn sẽ tham gia xét xử - điều hiếm thấy hiện nay. Toà phúc thẩm gồm có hai bộ phận: bộ phận dân sự (Civil Division) và hình sự (Criminal Division); các quan toà được gọi là pháp quan (lord - justices) và do người đứng đầu bộ phận dân sự (Master of the Rolls) lãnh đạo. Các vụ án do hội đồng gồm ba thẩm phán xem xét. Đơn kháng án sẽ bị bãi bỏ nếu đa số họ phủ quyết.
Một trong những hội đồng của toà án chỉ chuyên phụ trách các vụ án hình sự - bộ phận hình sự của Toà phúc thẩm. Hội đồng này thường hoạt động với thành phần một pháp quan và hai thẩm phán từ bộ phận Vành móng ngựa hoàng gia. Khác với những hội đồng xem xét các vụ án dân sự, ở đây không chấp nhận để ý kiến của các thẩm phán thiểu số được tuyên bố công khai.
3.2. Tòa án Tối cao của Liên hiệp Anh (Supreme Court of UK)
Trước đây, Viện Nguyên lão (Thượng viện Anh) là cấp xét xử cao nhất và chung thẩm trên toàn bộ lãnh thổ Liên hiệp Anh[9]. Từ tháng 10/2009, theo quy định của Luật Cải cách hiến pháp năm 2005, Tòa án Tối cao của Liên hiệp Anh (UKSC) được thành lập thay thế Viện Nguyên lão thực hiện công việc này[10]. Mười hai thẩm phán của UKSC do Nữ hoàng bổ nhiệm theo giới thiệu của Thủ tướng sau khi được một Ủy ban tuyển chọn đề xuất theo một quy trình phức tạp. Luật pháp Anh không huỷ bỏ quyết định và trả vụ việc về để xử lại. Cả Tòa án Tối cao hiện nay (Viện Nguyên lão trước đây) lẫn Toà phúc thẩm đều luôn đưa ra phán quyết về những vụ việc bị kháng án.
3.3. Hội đồng cơ mật
Các thẩm phán của Tòa án tối cao Liên hiệp Anh đồng thời cũng là thành viên Ủy ban Tư pháp thuộc Hội đồng cơ mật có thẩm quyền xem xét những đơn kháng án đối với các quyết định của các toà án tối cao ở các lãnh thổ hải ngoại thuộc Liên hiệp Anh hoặc các nhà nước thành viên của Khối thịnh vượng chung, vì những nhà nước này không loại trừ khả năng của những đơn kháng án như thế (New Zealand, Gambia, Sirea - Leone...). Như vậy, các thẩm phán thường phải áp dụng luật pháp nước khác. Các quyết định của Uỷ ban dựa trên thông luật có uy tín như những quyết định của Viện Nguyên lão trước đây và Tòa án tối cao hiện nay. Chúng đều được xuất bản trong cùng những tuyển tập về thực tiễn tòa án.
3.4. Xét xử các vụ việc hành chính
Ở Anh không có hệ thống đẳng cấp các toà án hành chính, cũng như không có "cấp toà cao nhất'' chuyên trách xem xét những vụ việc trong đó một trong các bên là cơ quan nhà nước. Những nỗ lực thành lập ''bộ phận hành chính'' ở Toà án tối cao đều gặp phải sự phản kháng của những ai không muốn phát triển luật hành chính theo mẫu lục địa, tức là ngoài khuôn khổ của thông luật. Tuy vậy, từ 1981 bắt đầu có danh mục những vụ việc hành chính do các cấp toà tối cao xem xét. Những vụ việc này do 9 thẩm phán của bộ phận đặc biệt thuộc Toà Hoàng gia xét xử. Có những vụ án thuộc thẩm quyền Toà phúc thẩm.Vào năm 1980 đã xác định được thủ tục chính để xem xét những yêu cầu về bãi bỏ các quyết định của cơ quan quản lý và toà cấp dưới.
4. Cấu trúc hệ thống và nguồn luật ở Vương Quốc Anh
Khác với Civil law, Pháp luật Anh không phân chia thành Luật công (Công pháp) và luật tư (Tư pháp) vì sự phân biệt này ít có ý nghĩa trong thời kì phong kiến ở Anh, giai đoạn đầu của sự phát triển Thông luật vì các quyền công và tư được xác định thông qua quyền lợi về tài sản, nhưng không có sự phân biệt giữa sở hữu tài sản và các sơ quan công theo kiểu Civil law. Mặt khác, theo quan điểm của người Anh thì vua là tối cao, tất cả đều phải phục tùng nhà vua không phân biệt công hay tư. Hệ thống tòa án trở thành nơi xem xét các hoati động lập pháp, hành pháp, kể cả trong tranh chấp tư. Do vậy không có sự phân biệt hoàn toàn về quyền lực theo kiểu Civil law.
4.1. Án lệ
Án lệ là nguồn chính của Pháp luật Anh, phân biệt với các nước Dân luật coi pháp luật thành văn (status law) làm nguồn chính. Hệ thống án lệ này sẽ được phát triển qua các vụ việc được tòa án xét xử. Việc sử dụng án lệ làm nguồn chính cho thấy đặc điểm tư duy pháp lý chủ nghĩa kinh nghiệm (empiricism) hay lối suy luận quy nạp đi từ trường hợp cá biệt đến cái tổng quát, nguyên tắc. Hệ quả tích cực của nó là làm thành một hệ thống luật mở, gần gũi với đời sống thực tế, tạo nên tính chủ động sáng tạo, mềm dẻo và linh hoạt trong tư duy pháp luật. Đồng thời cũng hạn chế sự phát sinh của luật (trong trường hợp nhiều vụ án tương tự nhau có thể cùng áp dụng một án lệ).
Chỉ có những bản án có tính chất bắt buộc mới trở thành án lệ và có tính pháp lý. Còn các bản án khác chỉ có tính gợi ý, tham khảo. Ví dụ như ở Anh, chỉ có Tòa án tối cao mới được phép ban hành án lệ, các tòa án cấp dưới phải tuân theo. Các án lệ bắt buộc được viết trong Law Reports (Tập san án lệ), All England Law Reports, Weekly Law Reports… nó đã được pháp điển hóa. Đây có thể coi là một minh chứng cho sự xích lại gần nhau của 2 hệ thống Common law và Civil law. Viện dẫn các tập quán không có giá trị bắt buộc hoặc bản án không phải là án lệ hoặc các obiter dicta (bình luận, nhận xét của thẩm phán).
4.2. Lẽ phải
Lẽ phải cũng là một nguồn luật thể hiện nét đặc thù của pháp luật Anh thể hiện ở Luật Công bình. Trong trường hợp một vụ án phát sinh không có tiền lệ pháp phù hợp, không có luật thành văn hay tập quán pháp thì thẩm phán chính là ngưới tạo ra luật pháp bằng cách sử dụng lẽ phải.
4.3. Nguồn khác
Một số nguồn khác cũng như: học thuyết pháp luật, tập quán pháp… đặc biệt là các văn bản pháp luật ngày càng được sử dụng nhiều ở các nước Common law như là hệ quả của việc học tập hệ thống Luật lục địa.
5. Vai trò của thẩm phán
Có thể thấy vai trò của các thẩm phán và luật sư tại pháp luật Anh là rất quan trọng, Thẩm phán vừa là người sáng tạo ra luật pháp, người ta thường gọi Common law là hệ thống pháp luật được tạo nên bởi các thẩm phán judge – made law),vừa là người giải thích và áp dụng luật pháp, kiểm soát các thủ tục tố tụng rất được coi trọng ở Thông luật. Thẩm phán được lựa chọn từ một tổ chức gồm các luật sư thực hành (barrister). Những luật sư thực hành được phân cấp và thẩm phán chỉ được lựa chọn từ những luật sư thực hành cấp cao hơn, giỏi và giàu kinh nghiệm (thường là có từ 10 năm kinh nghiệm trở lên)
Luật sư tại các nước Thông luật đặc biệt rất được coi trọng. Do thủ tục tố tụng mang tính tranh tụng, các bên tham gia vào thủ tục tố tụng được coi là có địa vị pháp lý bình đẳng với nhau, thẩm phán chỉ có vai trò người trung gian phân xử, không tham gia vào quá trình tranh tụng nhưng lại là người đưa ra phán xét cho vụ án. Họ chủ yếu dựa vào sự thật tại tòa do các luật sư nêu, nhiều khi không đúng với sự thật trên thực tế. Vì vậy bên nguyên hay bên bị, bên nào muốn thắng kiện thì phần nhiều dựa vào tài biện hộ của luật sư bên đó.