1. Khái niệm:

Chế độ tài sản vợ chồng là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ tài sản của vợ chồng, bao gồm các quy định về căn cứ xác lập tài sản, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng; nguyên tắc phân chia tài sản giữa vợ chồng. Việc quy định chế độ tài sản vợ chồng ở các quốc gia là khác nhau tùy thuộc vào chế độ kinh tế, xã hội cũng như tập quán, thuần phong, mỹ tục. Pháp luật Hôn nhân và Gia đình thường quy định hai chế độ tài sản vợ chồng: Một là theo pháp luật, hai là theo thỏa thuận. Chế độ tài sản theo pháp luật là việc pháp luật đề ra các hình thức xác lập và thực hiện các quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với khối tài sản của họ. Chế độ tài sản theo thỏa thuận là việc vợ chồng tự thỏa thuận và thỏa thuận cùng với nhau về việc xác lập và thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với tài sản của họ. Vợ chồng có thể lựa chọn một trong các chế độ tài sản do pháp luật quy định hoặc tự thiết lập một chế độ riêng với điều kiện không trái với quy định của pháp luật. Có rất nhiều cách gọi khác nhau về thỏa thuận của vợ chồng liên quan đến tài sản như: hôn ước, hợp đồng tiền hôn nhân hay thỏa thuận tài sản của vợ chồng,...
Khác với chế độ tài sản vợ chồng theo luật định, chế độ tài sản của vợ chồng theo thoản thuận có bản chất là chế độ tài sản được xác lập dựa trên ý chí của vợ chồng cùng bàn bạc, thống nhất để điều chỉnh quan hệ tài sản bao gồm:
+ Xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng;
+ Quyền, nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng và những giao dịch có liên quan; tài sản để đảm bảo nhu cầu thiết yếu của gia đình;
+ Điều kiện, thủ tục và nguyên tắc phân chia tài sản khi chấm dứt chế độ tài sản.
Ngoài những nội dung chủ yếu nêu trên, trong nội dung của thỏa thuận vợ, chồng có thể thỏa thuận những nội dung khác ( như vấn đề cấp dưỡng cho cha, mẹ, con ...) liên quan đến chế độ tài sản của vợ chồng phù hợp với nhu cầu và hoàn cảnh của mỗi
bên.
- Thỏa thuận này sau khi được xác lập sẽ là căn cứ pháp lý điều chỉnh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng trong suốt thời kỳ hôn nhân.

Hiện nay, pháp luật chưa ghi nhận một định nghĩa nào liên quan đến thỏa thuận tài sản vợ chồng trước hôn nhân.

Tuy nhiên, có thể hiểu thỏa thuận tài sản vợ, chồng trước hôn nhân là sự thỏa thuận của vợ và chồng về việc phân định tài sản chung, tài sản riêng của vợ, chồng; quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng với tài sản chung, tài sản riêng, giao dịch liên quan; điều kiện, thủ tục và nguyên tắc phân chia tài sản khi chấm dứt chế độ tài sản và các nội dung khác… trước khi các bên tiến hành kí kết giấy đăng ký kết hôn.

2. Hình thức và nội dung của thoả thuận chế độ tài sản vợ, chồng trước hôn nhân

 

a. Về hình thức:

Theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 thì việc thoả thuận xác lập chế độ tài sản chỉ được thể hiện dưới hình thức văn bản và có chữ ký của vợ và chồng vẫn chưa đủ để thoải mãn điều kiện mà còn cần được công chứng hoặc chứng thực. Sở dĩ pháp luật VN đòi hỏi điều này để đảm bảo hiệu lưhc đối với loại thỏa thuận này để tránh trường hợp thỏa thuận bị vô hiệu, không thể thực hiện được trên thực tế do chứa các nội dung vi phạm điều cấm của luật và tránh để xảy ra các tranh chấp liên quan tới chế độ tài sản của vợ chồng.

b. Về nội dung:

Luật HN&GD 2014 quy định chi tiết về những nội dung cơ bản được nêu trong thoả thuận về chế độ tài sản của vợ chồng, cụ thể:
 - Những tài sản nào được xác định là tài sản chung và tài sản riêng
- Quyền và nghĩa vụ của mỗi người đối với tài sản chung, tài sản riêng và giao dịch có liên quan; tài sản để đảm bảo nhu cầu thiết yếu của gia đình
- Điều kiện, thủ tục và nguyên tắc phân chia tài sản khi chấm dứt chế độ tài sản
- Những nội dung khác liên quan tùy theo thỏa thuận của vợ chồng.
Theo khoản 1, Điều 28, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:
“Vợ chồng có quyền lựa chọn áp dụng chế độ tài sản theo luật định hoặc chế độ tài sản theo thỏa thuận”. Chế độ tài sản theo thỏa thuận là việc vợ chồng tự thỏa thuận và thỏa thuận cùng với nhau về việc xác lập và thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với tài sản của họ.
Vì bản chất thỏa thuận về chế độ tài sản vợ, chồng là một giao dịch dân sự nên nó cũng cần phải đáp ứng các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự quy định tại Bộ Luật Dân sự năm 2015.

3. Điều kiện có hiệu lực của thoả thuận về chế độ tài sản vợ, chồng trước hôn nhân

Cụ thể về điều kiện có hiệu lực của thoả thuận về chế độ tài sản của vợ, chồng như sau:

a. Về thời điểm xác lập:

Thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng được xác lập trước khi đăng ký kết hôn. Đây cũng chính là đặc trưng cơ bản của chế định này để phân biệt với các thỏa thuận khác có thể được xác lập trong thời kỳ hôn nhân như Thỏa thuận chia tài sản chung quy định tại Điều 38 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, thỏa thuận nhập tài sản riêng vào tài sản chung quy định tại Điều 46 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014...
Mặc dù được lập trước khi kết hôn, nhưng thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng lại có hiệu lực kể từ ngày đăng ký kết hôn hay thời điểm họ trở thành vợ chồng hợp pháp. Bắt đầu từ thời điểm đó, mọi vấn đề về tài sản của vợ chồng được thực hiện theo thỏa thuận.
* Lưu ý: 
Trong trường hợp nam nữ đã xác lập thỏa thuận về chế độ tài sản vợ chồng nhưng sau đó không đăng ký kết hôn thì thỏa thuận đó sẽ không có giá trị pháp lý.
Thỏa thuận này sẽ hết hiệu lực trong trường hợp vợ, chồng ly hôn trên thực tế hoặc trường hợp vợ chồng thỏa thuận thay đổi tài sản theo thoả thuận sang chế độ tài sản theo luật định.
 

b. Về mặt hình thức:

Căn cứ theo quy định tại điều 47 Luật Hôn nhân và gia đình 2014:
“ Trong trường hợp hai bên kết hôn lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận thì thỏa thuận này phải được lập trước khi kết hôn, bằng hình thức văn bản có công chứng hoặc chứng thực. Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận được xác lập kể từ ngày đăng ký kết hôn”.
Như vậy, khi hai bên lựa chọn chế độ tài sản vợ, chồng theo thỏa thuận thì thỏa thuận đó phải được lập thành văn bản. Văn bản này bắt buộc phải được lập trước khi kết hôn. 
 
Sau khi đã được lập thành văn bản, thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng vẫn chưa thể phát sinh hiệu lực (Ngay cả khi đã được công chứng hoặc chứng thực). Văn bản này chỉ phát sinh hiệu lực khi vợ chồng hoàn tất các thủ tục đăng kí kết hôn một cách hợp pháp. Trong trường hợp việc kết hôn không xảy ra, thỏa thuận về xác lập chế độ tài sản trong hôn nhân mặc nhiên không phát sinh hiệu lực. Có thể thấy, việc luật quy định như vậy là hoàn toàn phù hợp, bởi lẽ, sau khi vợ chồng đã kết hôn mà không xác lập chế độ tài sản theo thỏa thuận thì chế độ tài sản theo pháp luật quy định mặc nhiên được áp dụng. Lúc này, vợ chồng muốn thỏa thuận về tài sản có thể áp dụng các quy định chung về việc chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân được cụ thể tại các điều 39 đến 42 Luật hôn nhân và gia đình 2014.

C. Về mặt nội dung:

Căn cứ theo quy định tại Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, thoả thuận về chế độ tài sản vợ, chồng có các nội dung sau đây:
- Nội dung của thỏa thuận vợ chồng đáp ứng các nguyên tắc chung về chế độ tài sản của vợ chồng, cụ thể: Vợ, chồng bình đẳng với nhau về quyền, nghĩa vụ trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung, không phân biệt lao động trong gia đình và lao động có thu nhập; vợ, chồng có nghĩa vụ đảm bảo điều kiện để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình; việc thực hiện quyền, nghĩa vụ tài sản của vợ chồng mà xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác thì phải bồi thường.
-Xác định quyền sở hữu của vợ, chồng đối với tài sản. Vợ chồng cần xác định rõ tài sản nào là tài sản riêng của mỗi bên, tài sản nào là tài sản chung của vợ chồng để xác định quyền và nghĩa vụ của mỗi người đối với tài sản đó.
- Đối với tài sản là nhà ở duy nhất của vợ chồng thì việc xác lập, thực hiện, chấm dứt các giao dịch liên quan đến tài sản này cần phải có sự thỏa thuận giữa cả vợ và chồng. Trong trường hợp, nhà ở là tài sản riêng của vợ hoặc chồng thì người có quyền sở hữu tài sản này có quyền thực hiện các giao dịch liên quan đến tài sản nhưng phải đảm bảo chỗ ở cho người còn lại.
- Ngoài những nội dung chủ yếu như trên thì vợ chồng có thể thỏa thuận liên quan đến những nội dung khác như vấn đề cấp dưỡng cho cha, mẹ, con cái... phù hợp với nhu cầu và hoàn cảnh mỗi bên.
- Đối với những nội dung chưa được ghi nhận trong quy định thỏa thuận của vợ chồng thì sẽ được quy định theo nguyên tắc chung của chế độ tài sản theo luật định.
- Nội dung của chế độ tài sản theo thỏa thuận của vợ chồng có thể được sửa đổi bổ sung một phần hay toàn bộ bằng văn bản có công chứng hoặc chứng thực. Bên cạnh đó, pháp luật Việt Nam vẫn cho phép vợ chồng thay đổi chế độ tài sản và áp dụng chế độ tài sản theo luật định trong thời kỳ hôn nhân, mặc dù trước đó đã áp dụng chế độ tài sản theo thỏa thuận. 

d. Thoả thuận về chế độ tài sản vợ, chồng vô hiệu

Căn cứ theo quy định tại khoản 1 điều 50 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về các trường hợp thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng sẽ bị vô hiệu nếu thuộc một trong các trường hợp
sau đây:
a) Không tuân thủ điều kiện có hiệu lực của giao dịch được quy định tại Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan;
b) Vi phạm một trong các quy định tại các điều 29, 30, 31 và 32 của Luật này;
c) Nội dung của thỏa thuận vi phạm nghiêm trọng quyền được cấp dưỡng, quyền được thừa kế và quyền, lợi ích hợp pháp khác của cha, mẹ, con và thành viên khác của gia đình”.