Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã gửi yêu cầu đến công ty của chúng tôi, để giải đáp thắc mắc của bạn, bạn hãy cùng chúng tôi theo dõi các nội dung sau:

1. Hình thức Hiến pháp:

Hình thức Hiến pháp là cách thức thể hiện các quy phạm pháp luật hợp thành Hiến pháp. Như đã đề cập trên đây, các quy phạm này có thể nằm trong một hay nhiều văn bản. Đa số các nước có Hiến pháp là một văn bản duy nhất, tuy nhiên một số nước có hiến pháp gồm nhiều văn bản hợp thành. Ví dụ, Hiến pháp Thụy Điển gồm 3 văn bản quy phạm: Chính thể (1974), văn bản này quy định về tổ chức nhà nước Thụy Điển, quyền nghĩa vụ cơ bản của công dân, cơ cấu tổ chức, nguyên tắc hoạt động của hệ thống các cơ quan nhà nước; Luật về quyền kế thừa ngôi vua (1810); Luật về tự do báo chí (1974). Hiến pháp Anh bao gồm: Luật về Nghị viện (1911 và 1919) Luật về thủ tục truất quyền đại biểu viện Bình dân (1957 và 1975); luật về viện Bình dân (1978)... Ngoài ra Hiến pháp Anh còn bao hàm cả các án lệ, tập quán Hiến pháp. Đặc điểm chung cho tất cả các văn bản hợp thành Hiến pháp (từ Hiến pháp Anh, Ixaen, NiuDilân) là những vãn bản đó có hiệu lực pháp lý cao nhất.

2. Cấu trúc Hiến pháp

Thông thường việc xem xét cấu trúc hiến pháp chỉ áp dụng đối với Hiến pháp là một văn bản duy nhất. Hiến pháp loại này thường bao gồm 3 phẩn: Lời nói đầu, phần nội dung cơ bản, phần những điều khoản cuối cùng và điều khoản chuyển tiếp.

2.1 Lời mở đầu

Lời nói đầu thường nêu ra mục đích của bản Hiến pháp, chỉ ra điều kiện lịch sử ban hành bản Hiến pháp. Lời nói đầu của một số bản Hiến pháp còn điểm qua quá trình lịch sử của đất nước. Nói chung các quy định trong lời nói đầu không mang tính chất quy phạm pháp luật. Những quy định này mang ý nghĩa chính trị, tư tưởng và thường được dùng để giải thích hoặc vận dụng những điều khoản nằm trong phần cơ bản và phần các điều khoản chuyển tiếp, điều khoản cuối cùng. Tuy nhiên cũng có Hiến pháp, ví dụ, Hiến pháp Cộng hòa Pháp năm 1958, lời nói đầu bao hàm các quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý như các quy phạm nằm trong phần nội dung cơ bản.

>> Xem thêm:  Quyền tư pháp là gì ? Quyền tư pháp theo quy định của Hiến pháp năm 2013

2.2 Phần nội dung cơ bản

Phần nội dung cơ bản bao gồm các quy phạm pháp luật về chế độ nhà nước và Ghế độ xã hội, về quyền tự do và nghĩa vụ của con người và của công dân, về tổ chức và hoạt động của hệ thống các cơ quan nhà nước Trung ương (Nghị viện, Người đứng đầu nhà nước, Chính phủ, cơ quan tư pháp), về tổ chức chính quyền địa phương, về hiệu lực của Hiến pháp, và việc sửa đổi Hiến pháp. Trình tự này có thể thay đổi tùy theo Hiến pháp của mỗi nước.

2.3 Phần điều khoản chuyển tiếp và điều khoản cuối cùng

Phần điều khoản chuyển tiếp và điều khoản cuối cùng quy định trình tự Hiến pháp có hiệu lực, xác định thời hạn có hiệu lực của một số điều khoản của Hiến pháp, xác định thời hạn và trình tự thay đổi những thiết chế Hiến pháp cũ bằng thiết chế Hiến pháp mới.

Ngoài 3 phần cơ bản trên, Hiến pháp của một số nước còn bao hàm một số điều khoản bổ sung.

Hiến pháp Ấn Độ năm 1950 có thêm một số bổ sung trong đó bao hàm những quy định về phân định thẩm quyền giữa liên bang với chủ thể của liên bang.

3. Tìm hiểu về hiến pháp của Anh:

3.1 Chế độ quân chủ lập hiến (Constitutional monarchy)

“Nhà vua trị vì mà không cai trị’’ (The Queen reigns, but she does not rule” - câu nói của nhà văn Anh Walter Bagehot về nhà vua Anh đã trở thành câu châm ngôn nổi tiếng bởi nó nói rất đúng về chế độ quân chủ lập hiến ở Anh. Theo Hiến pháp Vua là người đứng đầu Nhà nước có rất nhiều quyền nhưng những quyền đó nhà vua không trực tiếp thực hiện hoặc thực hiện theo sự tư vấn của Thủ tướng. Theo Hiến pháp Vua có các thẩm quyền sau đây:

  • Bổ nhiệm và miễn nhiệm Thủ tướng;
  • Bổ nhiệm và miễn nhiệm các Bộ trưởng;
  • BỔ nhiệm các công chức cấp cao;
  • Triệu tập, trì hoãn, khai mạc, bế mạc các kỳ họp của Nghị viện và giải tán Nghị viện.
  • Tuyên bố chiến tranh và hoà bình;
  • Tổng chỉ huy các lực lượng vũ trang;
  • Phê chuẩn các hiệp ước;
  • Bổ nhiệm các giám mục và Tổng giám mục của nhà thờ Anh;
  • Phong tặng các danh hiệu quý tộc.

Quyền bổ nhiệm Thủ tướng của Vua, phần lớn, chỉ mang tính hình thức vì sau khi bầu cử Nghị viện ai cũng biết trước rằng thủ lĩnh của Đảng cầm quyền sẽ trở thành Thủ tướng. Lần cuối cùng Vua bổ nhiệm Thủ tướng không theo ý chí của đảng chiếm đa số ghế trong Nghị viện là bổ nhiệm Harold Wilson làm Thủ tướng tháng 2 năm 1974 mặc dù Đảng của Harold Wilson không chiếm đa số trong Hạ viện. Nữ hoàng Elizabeth II đã thực hiện quyền này theo sự tư vấn của Hội đồng cơ mật.

>> Xem thêm:  Lập hiến là gì ? Quy định pháp luật về lập hiến

Quyền miễn nhiệm Thủ tướng cũng thường là hệ quả của việc Hạ viện bỏ phiếu bất tín nhiệm chính phủ. Lần cuối cùng Vua nước Anh tự mình quyết định bãi nhiệm Thủ tướng không cần việc bỏ phiếu bất tín nhiệm chính phủ là vào năm 1834, Vua Wiliam IV đã giải thể Chính phủ của Lord Melboum thay nó bằng Chính phủ của Công tước Wellington. Quyền phủ quyết luật của Vua cũng mang tính hình thức vì lần cuối cùng quyền này được thực hiện là vào năm 1708.

3.2 Chế độ chính trị lưỡng đảng

Cũng như Hoa Kỳ, nước Anh có chế độ chính trị đa nguyên nhưng vì chỉ có hai đảng có khả năng thay nhau cầm quyền nên được gọi là chế độ chính trị lưỡng đảng. Công đảng (Labour party) và Đảng bảo thủ (Conservative party) là hai đảng thường xuyên thay nhau cầm quyền. Khi một trong hai Đảng này thắng cử trong bầu cử Nghị viện,

Đảng thứ hai sẽ trở thành đảng đối lập. Đảng đối lập là lực lượng kiểm tra, giám sát và phản biện đường lối chính sách của Đảng cầm quyền. Văn hoá chính trị hiện đại của Anh quốc cũng như nhiều nước trên thế giới ngày nay cho phép tổn tại chế độ chính trị đa nguyên nói chung và lưỡng đảng nói riêng vì các lực lượng chính trị đều chấp nhận sự thắng thua trong chính trường không phải bằng súng đạn mà bằng lá phiếu của người dân trong bầu cử. Kể từ năm 1950 đến nay Công đảng đã cầm quyền trong các thời kỳ sau đây theo nhiệm kỳ của Nghị viện: 1965-1970; 1975-1980; 1995-2000; 2000-2005; 2005-2010. Đảng Bảo thủ cầm quyền trong các giai đoạn: 1950-1955; 1955-1960; 1960- 1965; 1965-1970; 1980-1985; 1985-1990; 1990-1995. Gần đây sau 3 nhiệm kỳ liên tục chiếm đa số ghế trong Nghị viện (từ năm 1995- 2010) Công đảng thất thủ trong cuộc bầu cử Nghị viện ngày 6/5/2010, chỉ chiếm 258 ghế trong số 650 ghế của Hạ viện. Đảng Bảo thủ vượt lên Công đảng chiếm 306 /650 ghế Hạ viện, tuy nhiên thiếu 20 ghế nữa mới đủ đa số trong Nghị viện nên phải liên kết với Đảng Dân chủ - tự do (Liberal Democrat) để thành lập chính phủ. Hiện nay thủ lĩnh của Đảng Bảo thủ, David Cameron, là Thủ tướng của Chính phủ Liên hiệp vương quốc Anh.

3.3 Sự gắn kết và thống nhất giữa lập pháp và hành pháp

Do chính phủ được thành lập từ đảng chiếm đa số ghế trong Nghị viện và Nghị viện có thể bỏ phiếu bất tín nhiệm Chính phủ buộc Chính phủ phải giải tán nên giữa Chính phủ và Nghị viện có mối quan hệ chặt chẽ và mật thiết. Đối với Anh chế độ dân chủ Nghị viện buộc Chính phủ phải lãnh đạo đất nước trong và thông qua Nghị viện. Chính phủ chịu trách nhiệm tập thể trước Nghị viện vì thế muốn tổn tại đến hết nhiệm kỳ Chính phủ phải luôn luôn ở trong vòng kiểm soát của Nghị viện.

3.4 Sự tách bạch giữa chính trị và công vụ

Nước Anh xây dựng một nền công vụ vô tư và khách quan bằng việc quy định công chức không đảng phái, các tiêu chuẩn bổ nhiệm các chức vụ trong bộ máy hành chính và tư pháp không gắn với các đảng phái chính trị, không cần một bằng chính trị cao cấp nào. Phẩm chất của công chức là nghiệp vụ chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp và tuân thủ pháp luật.

3.5 Tư pháp độc lập và án lệ

Người Anh có thể tự hào về nền tư pháp của mình, một nền tư pháp độc lập không chịu sự sai khiến của bất cứ đảng phái chính trị nào. Thẩm phán có uy tín cao, bằng việc áp dụng án lệ cũng có thể sáng tạo ra các quy phạm pháp luật để duy trì trật tự pháp luật và công bằng xã hội. Thẩm phán được bổ nhiệm suốt đời và chủ yếu từ các luật sư có uy tín trong xã hội.

>> Xem thêm:  Hợp hiến là gì ? Khái niệm hợp hiến được hiểu như thế nào ?

3.6 Tập quán hiến pháp (Constitutionel convention)

Người Anh quan niệm pháp luật là đại lượng của công bằng công lý vì thế pháp luật được hiểu không những là những quy tắc bắt buộc thực hiện do các cơ quan nhà nước ban hành mà còn là những quy tắc do* cuộc sống tạo lập nên mặc dù trong pháp luật thành văn không tìm thấy. Quan niệm mềm dẻo về pháp luật cho phép người Anh thừa nhận các tập quán hiến pháp. Đó là những quy tắc mang tính bắt buộc đối với một số hành vi chính trị được hình thành từ lâu trong đời sống chính trị. Chẳng hạn theo quy định của Hiến pháp Vua có đặc quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm Thủ tướng tuy nhiên thực tế đã hình thành tập quán hiến pháp vua chỉ bổ nhiệm thủ lĩnh của đảng cầm quyền làm Thủ tướng. Vua có quyền phủ quyết luật nhưng hình thành tập quán hiến pháp vua phê chuẩn luật khi đa số nghị sĩ đã chấp thuận thông qua dự luật.

3.7 Chủ quyền tối cao của Nghị viện

Vào thế kỷ XIX, một luật gia, một nhà Hiến pháp học Anh nổi tiếng là A.v. Dicey đã viết rằng: “ Hai trụ cột của Hiến pháp Anh là chủ quyền tối cao của Nghị viện và nhà nước pháp quyền". Theo học thuyết chủ quyền tối cao thuộc về Nghị viện, Nghị viện có thể ban hành bất kỳ luật nào mà nó muốn. Các luật do Nghị viện ban hành có hiệu lực tối cao và là nguồn cuối cùng của pháp luật. Điều này trái ngược với các nước có Hiến pháp thành văn, tất cả các luật do Nghị viện ban hành đều không được trái với Hiến pháp. Rất nhiềư luật của Liên hiệp vương quốc Anh có ý nghĩa như là Hiến pháp. Ví dụ, Nghị viện Anh có quyền kéo dài nhiệm kỳ của mình. Đạo luật năm 1911 và năm 1949 quy định nhiệm kỳ của Nghị viện là 5 năm, tuy nhiên nó có thể kéo dài nếu 2 Viện đổng ý. Quyền này được sử dụng trong thòi kỳ Đại chiến thế giới lần thứ hai. Nghị viện thành lập năm 1935 đã kéo dài nhiệm kỳ của mình đến năm 1945. Tuy nhiên, Vua vẫn giữ lại quyền giải tán Nghị viện theo tư vấn của Thủ tướng. Nghị viện có quyền thay đổi diện mạo của các viện và mối quan hệ giữa hai viện. Luật năm 1999 đã thay đổi thành viên của Thượng viện, huỷ bỏ 92 Thượng nghị sĩ là quý tộc kế truyền. Nghị viện không những có quyền kéo dài nhiệm kỳ mà còn có quyền quyết định hàng thừa kế ngai vàng. Quyền này đã được thực hiện trong thời gian gần đây nhất bằng việc ban hành Luật thoái vị ngai vàng 1936 với hệ quả của nó là Vua Edward vin thoái vị và con, cháu của vị vua này đã mất quyền thừa kế ngai vàng. Nghị viện còn có quyền tước bỏ và điều chỉnh quyền lực của Vua.

Cảm ơn quý khách đã gửi yêu cầu đến Công ty Luật Minh Khuê, trên đây là nội dung tư vấn của Công ty, nội dung tư vấn có giá trị tham khảo, nếu còn vấn đề mà quý khách hang còn chưa rõ xin vui lòng liên hệ đến tổng đài của Công ty Luật Minh Khuê 1900.6162 hoặc vui lòng gửi tin nhắn đến email [email protected] để được giải đáp thắc mắc.

Trân trọng!

Bộ phận tư vấn pháp luật - Công ty Luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Tư pháp là gì ? Khái niệm tư pháp được hiểu như thế nào ?

Câu hỏi thường gặp về cấu trúc hiến pháp nước ngoài ?

Câu hỏi: Hệ thống ngành luật Hiến pháp bao gồm những yếu tố nào?

Trả lời:

Hệ thống ngành luật Hiến pháp bao gồm các yếu tố cấu thành, các nguyên tắc tổ chức của hê thống và những quan hệ giữa các yếu tố đó. 

Câu hỏi: Thành phần cơ bản của hệ thống luật hiến pháp bao gồm?

Trả lời:

Thành phần cơ bản của hệ thống luật hiến pháp bao gồm: các nguyên tắc, các chế định và những quy phạm pháp luật hiến pháp.

Câu hỏi: Nguyên tắc chung của luật hiến pháp là?

Trả lời:

Nguyên tắc chung là nguyên tắc xuyên suốt, chi phối toàn bộ nội dung của hệ thống Luật Hiến pháp.