1. Hòa giải - Một phương thức giải quyết tranh chấp thay thế

Vì thế, cần phải có những phương thức giải quyết tranh chấp nhanh gọn, tiết kiệm và có thể duy trì được quan hệ làm ăn giữa các bên. Hòa giải là một trong những phương thức đáp ứng được những yêu cầu đó.

1. Khái niệm, đặc điểm của hòa giải

Hòa giải là một biện pháp truyền thống để giải quyết các tranh chấp trong đời sống xã hội, nhưng quan niệm về hòa giải còn nhiều vấn đề chưa thống nhất. Trên thế giới có nhiều quan niệm khác nhau về hòa giải: Hòa giải (conciliation) là sự can thiệp, sự làm trung gian hòa giải; hành vi của người thứ ba làm trung gian giữa hai bên tranh chấp nhằm thuyết phục họ dàn xếp hoặc giải quyết tranh chấp (GQTC) giữa họ. Việc GQTC thông qua người trung gian hòa giải (bên trung lập)1; Hòa giải là một quá trình mà bên thứ ba tạo điều kiện và phối hợp để các bên thương lượng với nhau. Từ điển pháp lý của Rothenberg định nghĩa hòa giải là “hành vi thỏa hiệp giữa các bên sau khi có tranh chấp, mỗi bên nhượng bộ một ít”. Một định nghĩa khác của hòa giải là “việc GQTC giữa hai bên thông qua sự can thiệp của bên thứ ba, hoạt động một cách trung lập và khuyến khích các bên xóa bớt sự khác biệt”. Theo Từ điển tiếng Việt, “hòa giải là việc thuyết phục các bên đồng ý chấm dứt xung đột, xích mích một cách ổn thoả”. Từ những quan niệm trên, có thể rút ra một số đặc trưng chung của hòa giải như sau:

Một là, hòa giải là một biện pháp GQTC.

Hai là, chủ thể trung tâm của hòa giải là bên trung gian giúp cho các bên tranh chấp thỏa thuận với nhau về GQTC. Điều này làm cho hòa giải có sự khác biệt với thương lượng. Người trung gian có thể là cá nhân, tổ chức luật sư, tư vấn, hoặc các tổ chức khác do các bên thỏa thuận lựa chọn. Người này phải có vị trí độc lập với các bên và hoàn toàn không có lợi ích liên quan đến tranh chấp. Bên thứ ba làm trung gian không đại diện cho quyền lợi của bất cứ bên nào và không có quyền đưa ra phán quyết.

Ba là, sự điều chỉnh, thỏa thuận về giải quyết các tranh chấp phải do chính các bên tranh chấp quyết định. Các thỏa thuận, cam kết từ kết quả của quá trình hòa giải không có giá trị bắt buộc cưỡng chế thi hành mà phụ thuộc vào thiện chí, sự tự nguyện của các bên.

Như vậy, có thể hiểu hòa giải là một phương thức GQTC với sự giúp đỡ của một bên thứ ba trung lập, các bên tranh chấp tự nguyện thỏa thuận giải quyết các tranh chấp phù hợp với quy định của pháp luật, truyền thống đạo đức xã hội.

Trong nhiều thế kỷ, “hòa giải” đã được sử dụng như một hình thức GQTC4. Trong xã hội phương Tây hiện đại, nó thường được mô phỏng như một hình thức GQTC “thay thế”, và hòa giải là một nét đặc trưng nổi bật của xu hướng GQTC thay thế (Alternative Dispute Res olution- ADR). Điều này đặt ra câu hỏi là nó thay thế cho cái gì. Nếu câu hỏi như vậy được đưa ra trong ngữ cảnh pháp luật, thì câu trả lời sẽ gắn với hình thức tố tụng. Ở đây, “thay thế” hàm nghĩa những khác biệt về định tính với hình thức tố tụng, nó bao gồm một tập hợp các nguyên tắc và quy định mà có thể là đối lập với những nguyên tắc và quy định về hoạt động của Tòa án. Trong ngữ cảnh này, “thay thế” còn hàm ý một sự lựa chọn, các bên cố ý lựa chọn sử dụng trung gian hòa giải vì những lợi thế được cảm nhận so với hình thức tố tụng.

Tuy nhiên, có thể sẽ có sự hiểu lầm khi coi hòa giải là biện pháp thay cho tố tụng. Hầu hết các tranh chấp trong xã hội hiện đại được chính các bên tự giải quyết thông qua đàm phán. Trong số tương đối ít vụ tranh chấp cần đến luật sư, thì chỉ có một tỷ lệ rất ít số vụ như vậy được tiến hành theo trình tự thủ tục tố tụng, thậm chí số vụ tranh chấp được đưa ra Tòa án xét xử còn ít hơn thế. Trong số những vụ cần đến luật sư và không được giải quyết bằng tố tụng, thì một vài vụ đơn giản là không được theo đuổi nữa, còn những vụ khác thì được luật sư giải quyết hoặc các bên giải quyết thông qua đàm phán hay thỏa thuận. Vì vậy, xét về phương thức chủ đạo được sử dụng để GQTC trong xã hội hiện đại, thì bản thân tố tụng lại chính là một phương thức “thay thế” với nghĩa là nó hiếm khi được sử dụng. Nếu trung gian hòa giải được cho là một phương thức thay thế, thì nó cần phải được nhìn nhận như một phương thức thay thế cho hầu hết các phương pháp GQTC thường được sử dụng nhất. Vì đa số các vụ tranh chấp được giải quyết thông thường bên ngoài hệ thống Tòa án, nên yêu cầu áp dụng phương thức hòa giải phải được đánh giá khác với các phương thức thay thế khác cho hình thức tố tụng, kể cả việc giải quyết tại Tòa án.

2. Ưu điểm của hòa giải

2.1. Linh hoạt về thủ tục

Hòa giải có thể được tiến hành trong nhiều môi trường khác nhau, thủ tục có thể được thỏa thuận và điều chỉnh cho thích nghi. Tính linh hoạt đem lại lợi thế là các bên được bày tỏ ý kiến xem quá trình nào thì phù hợp với họ; cho phép có những điều chỉnh khi bản chất của tranh chấp và các bên tranh chấp đòi hỏi phải vậy; tránh khả năng về việc có những yêu cầu về thủ tục kỹ thuật quá phức tạp. Ngược lại, phương thức tố tụng Tòa án có một cách thức tổ chức cứng nhắc hơn, có những quy định và thủ tục cố hữu. Có một vài yếu tố mang tính kỹ thuật đòi hỏi rất cao, buộc các bên phải nghiêm chỉnh chấp hành cả trong thời gian trước và đang diễn ra quá trình xét xử.

Một sự khác biệt quan trọng giữa hòa giải và biện pháp tố tụng là những thông tin và chứng cứ nào có thể được sử dụng, sử dụng và kiểm chứng như thế nào. Trong tố tụng, vấn đề này được điều chỉnh theo quy định về chứng cứ và thủ tục để đảm bảo tính chính xác và độ tin cậy. Trong hòa giải thường không có quy định nào về chứng cứ và cũng không có quy định về kiểm chứng cũng như xem xét về mặt thủ tục. Chỉ có những quy định thủ tục mở về phương pháp nói chuyện và giao tiếp. Các bên tranh chấp được phép kể chuyện của họ nếu thấy phù hợp và có thể biểu lộ tình cảm mà không bị bài bác và bị cho là không có ý nghĩa.

Tuy nhiên cũng có những giới hạn đối với tính linh hoạt của hoạt động hòa giải. Mặc dù nó không phải là một quá trình cứng nhắc, nhưng khi các hòa giải viên hướng dẫn, các bên vẫn phải có sự thống nhất cao trong các giai đoạn khác nhau. Các hòa giải viên phải thực hiện một cách có hệ thống qua từng giai đoạn của hoạt động hòa giải theo trình tự cụ thể. Điều này giúp khai thác được từng điểm mạnh trong toàn bộ quá trình hòa giải, vì mỗi một giai đoạn trong quá trình đó đều có cái lý lẽ riêng của nó. Vì thế, mặc dù có sự linh hoạt, nhưng hòa giải mang tính tổ chức hơn so với những cuộc đàm phán có tính chất tùy tiện. Một trong những đóng góp của một hòa giải viên là có thể xác lập trật tự trong những cuộc đàm phán vô tổ chức và thiếu thống nhất.

2.2. Tính thân mật

Tính thân mật trong hòa giải luôn luôn gắn liền với tính linh hoạt của nó. Ở đây, tính thân mật là muốn nói đến không gian và môi trường, phong thái và ngôn ngữ trong hòa giải, hành vi giao tiếp và ứng xử của những người tham gia. Hoạt động này thân mật, hoặc có khả năng thân mật, từ góc độ trang phục ăn mặc, địa điểm tổ chức, không gian và môi trường, ngôn ngữ sử dụng và thời gian tham dự. Hòa giải không có thủ tục nghi lễ và không gian trầm tĩnh huyền bí như của hoạt động xét xử. Hoạt động xét xử tại Tòa án luôn thể hiện tính trang trọng, nghi lễ và tính thứ bậc. Nhưng trong hòa giải, các bên tham gia thường không có cảm nhận về hình thức nghi lễ và tính thứ bậc trong đó.

Giá trị của tính thân mật là ở chỗ nó có thể làm cho quá trình trung gian hòa giải gần gũi và thân thiện với các bên tranh chấp hơn, không tạo ra sự lo lắng và căng thẳng so với hoạt động xét xử tại tòa. Đặc biệt hơn là trong trung gian hòa giải, các bên có thể sử dụng ngôn ngữ thông tục hàng ngày, khác hẳn với những hình thức giao tiếp được phong cách hóa trong môi trường Tòa án. Tuy nhiên, hòa giải viên cũng có thể yêu cầu sử dụng ngôn ngữ trang trọng và các bên tranh chấp cũng có thể khách sáo trong việc sử dụng ngôn từ khi hòa giải. Khác với hệ thống Tòa án, mức độ trang trọng đến đâu thì cũng có thể được các bên thỏa thuận để phù hợp với văn hóa của các bên tranh chấp.

2.3. Sự tham gia của các bên vào quá trình hòa giải

Chính tính thân mật và tính linh hoạt của hòa giải cho phép sự tham gia trực tiếp của các bên vào quá trình này. Sự tiếp cận và tham gia trước hết dành cho các bên tranh chấp. Trong hòa giải, các bên tranh chấp có thể nói chuyện, trao đổi, đàm phán và thảo luận về các giải pháp trong toàn bộ quá trình. Quá trình hòa giải tạo cơ hội cho mỗi bên bày tỏ quan điểm của mình về tranh chấp. Đây là một bước rất quan trọng trong việc giải quyết các tranh chấp của hòa giải5. Hòa giải đem lại cơ hội cho các bên trình bày, giải thích và đưa ra lời xin lỗi với nhau6. Sự tham gia trực tiếp của các bên tranh chấp trong hòa giải là rất cần thiết vì nó đề cao được tinh thần trách nhiệm của các bên đối với các lựa chọn của mình. Thông thường, so với việc để những người bên ngoài như thẩm phán hay trọng tài viên đưa ra quyết định thì bản thân các bên thường đưa ra những quyết định có lợi hơn cho mình7. Bằng cách này, sự tham gia có thể xóa bỏ cảm giác của các bên khi cho rằng họ phải chịu áp lực để đưa ra một quyết định nào đó8. Nếu các bên nhận thấy rằng họ “làm chủ” quá trình, thì họ có thể dễ dàng ủng hộ kết quả hơn9. Không một phương pháp GQTC nào có thể đảm bảo sự tham gia trực tiếp của các bên được như hình thức hòa giải, các bên đánh giá rất cao “quyền tự quyết” của hình thức này dù tranh chấp chưa được giải quyết. Quá trình tham gia vào hòa giải cũng mang tính giáo dục cho các bên ở chỗ họ được trực tiếp tham gia và học được cách thức giải quyết vấn đề mà có thể áp dụng trong những hoàn cảnh khác10.

Ngược lại, mô hình tố tụng truyền thống chỉ cho phép sự tham gia rất hạn chế và theo nguyên tắc nhất định đối với những bên có lợi ích hợp pháp liên quan. Nó khuyến khích sự thụ động, sự phụ thuộc và thiếu vắng trách nhiệm lựa chọn11.

2.4. Đặt con người ở vị trí trung tâm

Trong khi phần lớn việc GQTC có xu hướng tập trung vào hành vi, vào tình tiết là chính thì trong hòa giải, trọng tâm là con người chứ không phải tình tiết vụ việc. Việc này đòi hỏi hòa giải viên phải xét đến nhu cầu hiện tại cũng như mối quan tâm của các bên. Hòa giải cho phép giải quyết vụ việc dựa trên lợi ích mong muốn của các bên. Hòa giải viên thường không yêu cầu các bên phải thuyết phục hay làm cho họ tin về những tình tiết thực tế, hơn nữa, họ cũng thiếu những cơ chế hỗ trợ điều tra hoặc kiểm nghiệm sự thật. Mặt khác, các bên cũng không có điều kiện để chất vấn hay kiểm chứng những lời nói hay tuyên bố của nhau theo những cách thức giống như trong tố tụng Tòa án.

2.5. Duy trì mối quan hệ

Bên cạnh việc đặt con người ở vị trí trung tâm, hòa giải còn đặt trọng tâm vào khía cạnh duy trì mối quan hệ. Điều này mang ý nghĩa nhân văn của GQTC. Các bên có cơ hội thể hiện tình cảm, bày tỏ sự quan tâm đến các quan hệ trong tương lai giữa các bên. GQTC bằng hòa giải có thể duy trì hoặc cải thiện quan hệ giữa các bên12 nhờ việc xem xét đến lợi ích và quan tâm thực tế của các bên, có thủ tục dễ dàng và áp dụng phương pháp cùng tham gia, xây dựng mô hình đàm phán và các kỹ thuật giải quyết vấn đề mang tính xây dựng, có cách quản lý xung đột đầy tính nhân văn13… làm cho hòa giải trở thành một phương thức GQTC mềm dẻo chứ không cứng nhắc như tố tụng Tòa án14. Mặc dù hoạt động tố tụng cũng sẽ giải quyết được tranh chấp thông qua xét xử, nhưng nó có thể dẫn đến sự thiệt hại mà không thể sửa chữa được trong các mối quan hệ vì gắn với hoạt động tố tụng là những ngôn ngữ không thiện chí15. Thậm chí, hoạt động trọng tài cũng không thường xuyên đảm bảo việc duy trì các mối quan hệ được tiếp tục lâu dài16.

2.6. Tạo lập quy chuẩn

Khi đưa ra quyết định, Tòa án và các trọng tài viên đều dựa vào các quy phạm pháp luật, nghĩa là các quy tắc và nguyên tắc được quy định trong các đạo luật. Trong hòa giải, các bên không viện dẫn các quy phạm để định hướng giải quyết, nhưng các quy phạm lại có thể được các bên rút ra từ chính kết quả giải quyết vụ việc.

Trong hòa giải, các bên được tự do không áp dụng các quy tắc, nguyên tắc và chính sách mà vốn có tính ràng buộc với các Tòa án, trọng tài viên. Thỏa thuận giữa các bên có thể đạt được trên cơ sở lợi ích chung vì nó chỉ diễn ra vào một thời điểm cụ thể nhất định. Các bên thường có cách nhìn của họ về lợi ích rộng hơn so với một thẩm phán. Chính vì vậy, các doanh nghiệp mong muốn sớm đi đến một thỏa thuận GQTC trước đó mà không cần phải đề cập đến quyền và nghĩa vụ pháp lý để sao cho họ có thể lồng ghép những thương vụ làm ăn sau này vào trong thỏa thuận giải quyết. Khi xây dựng các quy phạm riêng để GQTC, các bên có thể quyết định những lợi ích riêng của họ, xác lập những ưu tiên, cân đối và hoàn thành hợp đồng xét theo cách thức kinh doanh hay đánh giá xã hội và phương pháp giải quyết của chính họ. Đây là một biểu hiện của quyền tự định đoạt. Một khía cạnh khác trong bản chất của việc tạo lập quy phạm trong hòa giải là tính linh hoạt của kết quả. Các bên có thể nhất trí về kết quả mà có lẽ chẳng bao giờ giống như kết luận của Tòa án. Tuy nhiên, các quyết định hòa giải của các bên phải là một thỏa thuận phải hợp pháp hoặc không được trái với chính sách công theo quy định trong luật.

2.7. Sự kín đáo và tính bảo mật

Sự kín đáo và tính bảo mật được thể hiện ở việc: phiên họp hòa giải được tổ chức kín, người ngoài chỉ có thể biết được trình tự thủ tục và nội dung nếu được các bên đồng ý; không công bố công khai nội dung được trao đổi trong phiên họp; việc công bố điều khoản giải quyết là vấn đề phải được hai bên thỏa thuận.

Trình tự, thủ tục hòa giải được tiến hành trên cơ sở “không có sự phản cung”, nghĩa là không cho phép các bên được sử dụng những tuyên bố trong hòa giải làm chứng cứ nếu sau này phải xét xử tại Tòa và hòa giải viên cũng thường bị ràng buộc bởi nguyên tắc bảo mật. Những yêu cầu này tạo điều kiện để có các cuộc đàm phán thẳng thắn và cởi mở và vì lợi ích của một bên hay của các bên nếu muốn tránh để các vấn đề riêng tư của họ bị công bố với các đối thủ cạnh tranh làm ăn kinh doanh, những người thân quen hoặc bạn bè.

3. Thực trạng pháp luật về hòa giải trong giải quyết tranh chấp thương mại

Hòa giải luôn được coi là một trong những phương thức GQTC kinh doanh thương mại quan trọng và có hiệu quả. Ở Việt Nam, phương thức hòa giải đã được sử dụng, nhưng phạm vi và hiệu quả áp dụng còn ở mức khiêm tốn. Đặc biệt hòa giải với tư cách là một phương thức GQTC thay thế dường như vẫn được coi là công việc riêng tư của các bên nên cho đến thời điểm hiện tại, hầu như không có văn bản nào quy định cụ thể, hướng dẫn chi tiết về quy trình, thủ tục, nội dung, hiệu lực của phương thức GQTC này.

Trong khi đó, ở nhiều quốc gia, về mặt lập pháp, hòa giải ngày càng được quan tâm thể chế hóa trên cả bình diện quốc gia, khu vực và quốc tế. Đây cũng là điều giải thích cho việc ra đời các trung tâm hòa giải, chẳng hạn như Trung tâm hòa giải Bắc Kinh để giải quyết các tranh chấp thương mại và hàng hải quốc tế… và các quy tắc hòa giải như Quy tắc hòa giải mẫu của UNCITRAL 2002, quy trình hòa giải không bắt buộc của Phòng Thương mại quốc tế tại London, Ủy ban quốc gia về thống nhất pháp luật Hoa Kỳ ban hành đạo luật Hòa giải thống nhất năm 2001. Gần đây nhất, Liên minh châu Âu đã ban hành Chỉ thị số 2008/52/EC về một số khía cạnh hòa giải các vụ việc dân sự, thương mại.

Ở nước ta, Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 2/6/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã khẳng định: “khuyến khích việc giải quyết một số tranh chấp thông qua thương lượng, hòa giải, trọng tài; Tòa án hỗ trợ bằng quyết định công nhận việc giải quyết đó”. Đây là chủ trương rất quan trọng làm cơ sở cho việc xây dựng các quy định pháp luật về các phương thức GQTC thay thế như hòa giải, trọng tài.

Pháp luật hiện hành đã có một số quy định liên quan đến hòa giải tranh chấp kinh doanh, thương mại, tuy nhiên mới chỉ được ghi nhận trong pháp luật thực định ở những nguyên tắc cơ bản. Điều 12 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “Trong quan hệ dân sự, việc hòa giải giữa các bên phù hợp với quy định của pháp luật được khuyến khích. Không ai được dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực khi tham gia quan hệ dân sự, giải quyết các tranh chấp dân sự”. Điều 11 Luật Thương mại năm 2005 quy định về nguyên tắc tự do, tự nguyện thỏa thuận trong hoạt động thương mại: “các bên có quyền tự do thỏa thuận không trái với các quy định của pháp luật, thuần phong mỹ tục và đạo đức xã hội để xác lập các quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động thương mại…”. Điều 317 Luật Thương mại có quy định hòa giải là một trong những phương thức GQTC nhưng hình thức này chưa được quy định một cách cụ thể. Điều 12 Luật Đầu tư năm 2005 quy định: “Tranh chấp liên quan đến hoạt động đầu tư tại Việt Nam được giải quyết thông qua thương lượng, hoà giải, Trọng tài hoặc Tòa án theo quy định của pháp luật”.

Trong các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia như các Hiệp định bảo hộ và khuyến khích đầu tư, các Hiệp định thương mại song phương và đa phương cũng có những quy định về áp dụng phương thức thương lượng, hòa giải như là các biện pháp ưu tiên trong việc giải quyết các tranh chấp phát sinh. Việc hòa giải ngoài tố tụng tư pháp được coi là công việc riêng tư của các bên mà pháp luật không có sự điều chỉnh trực tiếp và chi tiết. Hiện tại ở Việt Nam, mới chỉ có Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam (TTTTQTVN) bên cạnh Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam (VIAC) xây dựng và ban hành Quy tắc hòa giải. Đây là một nỗ lực lớn của VIAC trong việc định hướng cho các bên lựa chọn hòa giải viên và khuyến nghị trình tự, thủ tục cho các bên lựa chọn làm căn cứ cho quá trình hòa giải ngoài tố tụng tư pháp.

Quy tắc hoà giải của VIAC gồm 20 điều, có hiệu lực từ ngày 10/9/2007. Quy tắc hòa giải này áp dụng cho việc hoà giải tranh chấp phát sinh từ hoặc liên quan tới quan hệ pháp lý trong hoạt động thương mại, khi các bên quyết định tiến hành hoà giải tranh chấp thông qua VIAC. Những điểm nổi bật của việc hòa giải theo Quy tắc này là: các bên được quyền tự do lựa chọn hòa giải viên theo danh sách do VIAC giới thiệu hoặc người ngoài danh sách đó; các hòa giải viên phải tuân thủ nguyên tắc độc lập, vô tư, khách quan và phải tôn trọng thỏa thuận của các bên cũng như tính tới tập quán thương mại, thực tiễn kinh doanh của các bên, các bối cảnh liên quan đến tranh chấp để tiến hành hòa giải; tính công khai thông tin giữa hòa giải viên với các bên; nghĩa vụ giữ bí mật của hòa giải viên và các bên đối với những tổ chức, cá nhân không liên quan; các bên và hòa giải viên được chủ động đề xuất phương án GQTC; các bên cam kết không tiến hành bất cứ tố tụng trọng tài hoặc toà án nào đối với tranh chấp đang là đối tượng của quá trình hòa giải; khi hoà giải thành, các bên kết thúc tranh chấp và bị ràng buộc bởi thoả thuận hoà giải đã ký theo các quy định của pháp luật dân sự.

Hiện tại trong Luật Trọng tài thương mại năm 2010 cũng có một số quy định về hòa giải. Điều 9 Luật Trọng tài thương mại quy định về thương lượng, hoà giải trong tố tụng trọng tài như sau: “Trong quá trình tố tụng trọng tài, các bên có quyền tự do thương lượng, thỏa thuận với nhau về việc GQTC hoặc yêu cầu Hội đồng trọng tài hòa giải để các bên thỏa thuận với nhau về việc GQTC”.

Việc quy định thương lượng, hòa giải trong tố tụng trọng tài nhằm tăng cường vai trò của các hình thức GQTC thay thế, khuyến khích các bên tranh chấp sử dụng chúng; tăng cường vai trò hỗ trợ của Nhà nước (Tòa án). Thực tiễn GQTC nhiều nước trên thế giới cho thấy việc sử dụng các hình thức GQTC thay thế rất phổ biến, như Philippin, Inđônêsia, Malaysia, Singapore, Nhật Bản, Hoa Kỳ, Canađa… Điều khoản này cũng nhằm khuyến khích các bên GQTC một cách hòa bình, nghĩa là bằng thương lượng, hòa giải trước khi đưa vụ tranh chấp ra trọng tài. Khi đã thương lượng hoặc có trung gian hoà giải thì mối quan hệ giữa các bên sẽ có sự thân thiện. Hình thức của nó cũng linh hoạt và mềm dẻo. Quy trình và thủ tục hoà giải cũng rất đơn giản. Hoà giải nếu được thực hiện tốt thì sẽ rất nhanh chóng về thời gian và tiết kiệm được chi phí.

Việc ban hành Quy tắc hòa giải của VIAC và việc xây dựng một số điều khoản về hòa giải và thương lượng trong Luật Trọng tài thương mại thể hiện rằng, hòa giải đã bắt đầu có xu hướng phát triển thành một phương thức GQTC kinh doanh thương mại độc lập ở Việt Nam.

Mặc dù hòa giải đã được pháp luật quy định thành một nguyên tắc và được các nhà kinh doanh ghi nhận là phương thức GQTC có hiệu quả, nhưng Việt Nam còn thiếu sự nghiên cứu một cách có hệ thống để làm rõ các vấn đề lý thuyết về hòa giải, đưa ra các mô hình hòa giải có hiệu quả. Hiện nay, chúng ta mới chỉ có Pháp lệnh về Tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở là có quy định đầy đủ về nguyên tắc và phạm vi hòa giải, mô hình hòa giải, cách thức hòa giải. Tuy nhiên, Pháp lệnh về Tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở chủ yếu được áp dụng đối với những việc được quy định trong Điều 3 của Pháp lệnh mà không áp dụng đối với những tranh chấp thương mại. Theo đó, phạm vi hòa giải chỉ được tiến hành đối với những vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ trong cộng đồng dân cư, bao gồm: mâu thuẫn, xích mích giữa các cá nhân với nhau; tranh chấp về quyền, lợi ích phát sinh từ quan hệ dân sự, hôn nhân và gia đình; những việc vi phạm pháp luật khác mà theo quy định của pháp luật chưa đến mức bị xử lý bằng biện pháp hình sự hoặc biện pháp hành chính.

Việc hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và hệ thống pháp luật về GQTC thay thế nói riêng vẫn theo lối cắt khúc thành từng mảng, chưa thành hệ thống. Tư tưởng phân chia hệ thống pháp luật thành các ngành luật dựa trên đối tượng điều chỉnh và phương pháp điều chỉnh đã ngự trị trong nhiều năm qua không chỉ ở trong học thuật mà còn ở trong hoạt động xây dựng pháp luật. Chính vì thế, ở Việt Nam có cách tiếp cận là thương mại thuộc lĩnh vực kinh tế chứ không phải dân sự, nên khi xây dựng Pháp lệnh Hòa giải ở cơ sở chỉ đề cập đến những tranh chấp dân sự theo nghĩa hẹp mà không điều chỉnh những tranh chấp thương mại.

Một thiếu sót lớn là pháp luật Việt Nam cho đến nay vẫn chưa có quy định về vai trò của người hòa giải và thủ tục hòa giải. Thiếu sót đó đang làm cho những quy định về nguyên tắc hòa giải trong GQTC thương mại trong nước cũng như quốc tế vẫn nặng về hình thức17.

Đối với hòa giải tại Trung tâm Trọng tài thương mại (chủ yếu là được thực hiện bởi Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam), các quy định về hòa giải tuy có chi tiết và quy mô, song nhìn chung vẫn chưa thể hiện được một cách triệt để tính chất trung gian hòa giải. Hiệu quả hòa giải còn hạn chế do số vụ việc được Trọng tài Thương mại thụ lý và giải quyết còn rất ít. Các doanh nghiệp Việt Nam khi có tranh chấp thường đưa nhau ra Toà án.

Một số hạn chế nữa có thể nhận thấy như thể chế cho các phương thức này chưa hoàn thiện, nhân lực thực hiện chưa đảm bảo về số lượng và chất lượng, đối với người tiến hành tố tụng thì trình độ chuyên môn tương đối nhưng kỹ năng hòa giải thì chưa được đào tạo nhiều, do đó đã ảnh hưởng đến chất lượng thực hiện phương thức này.

4. Giải pháp tiếp tục hoàn thiện phương thức giải quyết tranh chấp thương mại thông qua hòa giải

4.1. Để các quy định pháp luật về hòa giải có thể đi vào cộc sống, cần phải tăng cường nhận thức của cộng đồng, đặc biệt là các cộng đồng doanh nghiệp về vai trò của hình thức giải quyết tranh chấp bằng hòa giải với tư cách là một phương thức giải quyết tranh chấp thay thế

Từ phía Nhà nước. Trên cơ sở nhận thức về lợi ích của các phương thức GQTC bằng hòa giải, thông qua pháp luật cũng như các giải pháp khác, Nhà nước cần có một chính sách nhất quán và những thông điệp chính thức về chính sách khuyến khích các bên GQTC của họ bằng con đường hòa giải. Có thể tham khảo kinh nghiệm của Anh, Hồng Kông, Canada, Ấn Độ… trong những đạo luật mới nhất đã quy định trách nhiệm của Tòa án từ chối thụ lý vụ tranh chấp nếu các bên chưa đưa vụ tranh chấp đó ra giải quyết bằng một trong những hình thức GQTC thay thế và nếu các bên quyết định đưa thẳng vụ tranh chấp ra Tòa án, thì phải có lý do xác đáng được Tòa án chấp nhận.

Luật Trọng tài thương mại năm 2010 của Việt Nam cũng đã phản ánh khá rõ xu hướng khuyến khích sử dụng hình thức GQTC bằng hòa giải. Điều 9 của Luật quy định: “Trong quá trình sử dụng trọng tài, các bên có quyền tự do thương lượng, thỏa thuận với nhau về GQTC hoặc yêu cầu Hội đồng Trọng tài hòa giải để các bên thỏa thuận với nhau về việc GQTC”. Tuy nhiên, ngoài quy định này, chưa có một văn bản nào của các cơ quan nhà nước đưa ra những chủ trương mang tính khuyến khích hoặc định hướng sử dụng các hình thức GQTC thay thế nói chung, hòa giải nói riêng thay vì đưa vụ kiện ra Tòa án.

Từ phía các chủ thể tranh chấp. Để có nhận thức đúng về vai trò của phương thức GQTC bằng hòa giải và khả năng sử dụng các phương thức đó trong việc giải quyết các tranh chấp phát sinh, các cộng đồng kinh doanh cũng như cá nhân nhà kinh doanh cần tạo cho mình những hiểu biết đúng đắn và đầy đủ về các hình thức GQTC thay thế.

4.2. Xây dựng các cơ sở pháp lý cần thiết cho việc mở rộng hình thức giải quyết tranh chấp bằng hòa giải

Phát triển và khuyến khích sử dụng hình thức hòa giải là điều cần thiết trong quá trình tạo “hạ tầng dịch vụ” GQTC thương mại. Tính thời sự của giải pháp GQTC bằng hòa giải được đặt ra bởi nhiều lý do. Trước hết, đó là sự quá tải của Tòa án. Cũng như trọng tài, hình thức hòa giải là sự lựa chọn thay thế cho tố tụng tại Tòa án bằng việc tạo cho các bên sự linh hoạt và bảo đảm bí mật. Mặt khác, chi phí ngày càng tăng của tố tụng tại Tòa án nhiều khi cũng là gánh nặng không chỉ cho các cá nhân doanh nhân mà cả đối với các công ty. Thêm vào đó, tố tụng tại Tòa án luôn luôn là hình thức bắt buộc, còn hình thức GQTC bằng hòa giải không mang tính bắt buộc. Trong hình thức không bắt buộc này thì ngoài hai bên tranh chấp cần có người thứ ba, làm nhiệm vụ phân xử, nhưng khác với Tòa án, họ là người trung gian, trung lập. Người này không áp đặt một quyết định nào đó với các bên, nhưng ngược lại vai trò của người này là giúp đỡ các bên, hỗ trợ, chỉ dẫn các bên tự GQTC của họ. Thủ tục này hoàn toàn không mang tính nghi thức.

Việc sử dụng hình thức hòa giải thương mại ở Việt Nam hiện nay chỉ mới được coi là việc làm tùy nghi của các bên. Luật Trọng tài thương mại năm 2010 cũng đưa ra một quy tắc mang tính khuyến cáo: “Trong quá trình tố tụng trọng tài, các bên có quyền tự do thương lượng, thỏa thuận với nhau về GQTC hoặc yêu cầu Hội đồng trọng tài hòa giải để các bên thỏa thuận với nhau về việc GQTC” (Điều 9, Luật Trọng tài thương mại năm 2010).

Tuy nhiên, để bảo đảm tính hiệu lực của hình thức trung gian hòa giải thương mại, cần tạo ra những cơ sở pháp lý vững chắc hơn, cũng giống như đã làm đối với Trọng tài Thương mại. Có thể nói rằng, thời gian qua, chúng ta đã nhìn nhận đúng và đã tạo được những cơ sở pháp lý cần thiết cho hoạt động trọng tài đáp ứng yêu cầu của kinh tế thị trường, của hoạt động kinh doanh và của quá trình hội nhập quốc tế. Thiết nghĩ, việc ban hành Luật Trung gian và hòa giải thương mại sẽ là một bước đi tiếp theo mang tính logic và tính hệ thống của hoạt động xây dựng pháp luật ở nước ta.

Việc thể chế hóa tư tưởng và định hướng này cần được thực hiện trên những quan điểm sau đây:

Thứ nhất, cần tạo dựng một chính sách công khai, chính thức khuyến khích các bên tự GQTC trước hết bằng con đường hòa giải, tương tự như việc Nhà nước đã có thái độ về hình thức trọng tài thể hiện ở Điều 6 Luật Trọng tài thương mại: “Tòa án từ chối thụ lý trong trường hợp có thỏa thuận trọng tài”.

Thứ hai, cần quy định trình tự, thủ tục mang tính giống tố tụng cho các hình thức trung gian, hòa giải với tính cách là những thủ tục GQTC thương mại. Thủ tục đó nhất thiết phải cho phép làm rõ thiện ý của các bên giải quyết các bất đồng của họ bằng hình thức thương lượng hoặc hòa giải: bằng hình thức nào, bắt đầu như thế nào, chủ thể là ai v.v.. đều thể hiện thiện chí đích thực đó? Nếu thiếu sự rõ ràng đó thì quá trình thương lượng, dù có bắt đầu, cũng không thể có khả năng tạo ra sự ràng buộc của các bên. Tính chính thức của thủ tục này còn cần được xác định bởi việc pháp luật coi đó như một phương thức GQTC, một phần của quá trình GQTC.

Thứ ba, cần hỗ trợ xúc tiến hình thành một mạng lưới các trung tâm hòa giải thương mại và hình thành, đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ hòa giải viên; xây dựng các bộ quy tắc về hòa giải. Cần nghiên cứu, tham khảo những bộ quy tắc hòa giải hiện đại và được áp dụng rộng rãi trong thực tiễn GQTC thương mại như Quy tắc hòa giải của UNCITRAL, ICC, ICSID, đặc biệt là Bộ Quy tắc hòa giải của UNCITRAL được Đại hội đồng Liên hiệp quốc giới thiệu tháng 12/1980. Ngoài ra, năm 2002, UNCITRAL xuất bản Luật mẫu về Hòa giải thương mại quốc tế. Giống như Luật mẫu của UNCITRAL về Trọng tài thương mại quốc tế, Luật này được dùng như một bản hướng dẫn và khuyến cáo cho các quốc gia muốn ban hành pháp luật về hòa giải.

Thực tiễn ký kết và thực hiện hợp đồng thương mại ở Việt Nam cho thấy, hòa giải cũng thường được các bên ghi nhận trong hầu hết các hợp đồng18. Tuy nhiên, cho đến nay, do pháp luật nước ta chưa có các quy định về hình thức pháp lý để ghi nhận thủ tục, các điều kiện và kết quả hòa giải giữa các bên tranh chấp nên việc thực thi những gì đã đạt được không được bảo đảm.

Chú thích:

(1) Pryan A. Garner chủ biên (2004), Black’s Law Dictionary, tái bản lần thứ 8, NXB West, Thomson, tr.307.

(2) F E A Sander và S B Goldberg, “Giải tỏa nỗi lo không cần thiết: Cẩm nang hướng dẫn thân thiện với người lựa chọn ADR” (1994), Nguyệt san Đàm phán 55.

(3) L Mulcahy và các tác giả, Trung gian hòa giải các vụ kiện về thiếu trách nhiệm trong y tế: một giải pháp cho tương lai? NHS Executive, 2000, tr. Xvii.

(4) J Wall và A Lynn, “Trung gian hòa giải: điểm lại hiện trạng” (1993), 37, Nguyệt san gải quyết xung đột, 160-169.

(5) F E A Sander và S B Goldberg, “Giải tỏa nỗi lo không cần thiết: Cẩm nang hướng dẫn thân thiện với người lựa chọn ADR” (1994), Nguyệt san Đàm phán 55.

(6) L Mulcahy và các tác giả, Trung gian hòa giải các vụ kiện về thiếu trách nhiệm trong y tế: một giải pháp cho tương lai? NHS Executive, 2000, tr. Xvii.

(7) P Wahrhaftig, “Giải quyết xung đột không chuyên nghiệp”, trong J Palenski và H Launer (chủ biên), Trung gian hòa giải xung đột và thách thức, Charles C Thomas, 1986.

(8) M Rogers và C McEwan, Trung gian hòa giải: Chính sách pháp luật và thực tiễn, Tổ hợp tác luật sư, Rochester New York, 1989, tr. 234-235.

(9) A Taylor “Hướng tới một lý thuyết toàn diện về trung gian hòa giải” (1981), 19, Tuần san hòa giải của Tòa án , 1-4.

(10) M Power, “Đào tạo cán bộ trung gian hòa giải” (1992), 3, ADRJ 214, tr. 214-215.

(11) G Bellow và B Moulton, Quá trình làm luật sư: đàm phán, Foundation Press, Mineola, New York, 1981, tr. 131.

(12) Trong một nghiên cứu của Trung tâm trung gian hòa giải Singapore, từ 1/1998 đến 8/1999, khoảng 68% các bên và 78% luật sư được hỏi đều khẳng định có sự cải thiện trong mối quan hệ giữa các bên. 81% luật sư cũng cho rằng mối quan hệ của họ với luật sư bên đối lập cũng cải thiện sau trung gian hòa giải. Phát hiện này rất có ý nghĩa vì thực tế các hoạt động trung gian hòa giải được tiến hành tại Trung tâm này cũng thường kết thúc trong một ngày. Kết quả điều tra đầy đủ được đăng trong cuốn sách: L Boulle và T Hwee Hwee, Trung gian hòa giải: nguyên tắc, quá trình và thực tiễn, Butterworths, Singapore, 2000, Chương 11 và Phụ lục A.

(13) Xem M Davies và các tác giả, Thúc đẩy trung gian hòa giải, Cơ quan kế hoạch chính sách và nghiên cứu, Báo cáo nghiên cứu về chương trình trung gian hòa giải của Hội luật học Bristol trong giai đoạn đầu, Nghiên cứu số 21, Hội luật học, 1996, tr. 26 thuộc Chương trình Bristol và H Genn, Báo cáo đánh giá thí điểm trung gian hòa giải Tòa án Trung tâm Luân Đôn, Chương trình nghiên cứu LCD, số 5/98, tr. Vi, 107 và 139 thuộc dự án Thí điểm tại Tòa án Trung tâm Luân Đôn.

(14) D Bok, “Một hệ thống không hoàn thiện”, 1983, Tạp chi Đoàn luật sư Bang New York 8. Về kết quả điều tra của Úc ghi nhận trung gian hòa giải có thể là một nhân tố cải thiện quan hệ giữa các bên, xem A Prior ‘Các bên nghĩ gì?’, 1993, 4, ADRJ 99. Về kết quả điều tra của Singapore, xem chú thích 15 ở trên.

(15) S Macaulay, “Quan hệ phi hợp đồng trong kinh doanh: Nghiên cứu sơ bộ”, 1963, 28(1), Tạp chí Xã hội học của Mỹ, 55-64.

(16) Một nghiên cứu ở Mỹ phát hiện ra rằng trong số 78 vụ việc trọng tài trong ngành dệt ở đây, chỉ có 14 trường hợp khôi phục và duy trì được quan hệ: M Galanter “Tìm hiểu toàn cảnh tranh chấp: chúng ta biết gì và không biết gì (và nghĩ chúng ta biết gì) về xã hội bất đồng và kiện tụng của chúng ta”, 31, Tạp chí Luật UCLA, 4-25.

(17) Hoàng Thế Liên (1999) Về các phương thức GQTC chủ yếu tại Việt Nam trong lĩnh vực kinh tế và đầu tư nước ngoài, được in trong số chuyên đề về “Các phương thức GQTC kinh tế ở Việt Nam hiện nay”, Thông tin Khoa học pháp lý, Viện Nghiên cứu Khoa học pháp lý- Bộ Tư pháp, tr.8

(18) Theo Báo cáo nghiên cứu: “Đánh giá chức năng và các phương thức GQTC kinh doanh thương mại ở Việt Nam hiện nay” do TANDTC-Chương trình hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện, năm 2007, khi khảo sát tại 6 tỉnh, thành phố đối với các doanh nghiệp đã từng phát sinh tranh chấp thương mại, có 42% doanh nghiệp được hỏi đã lựa chọn phương thức GQTC bằng thương lượng, đàm phán trực tiếp với đối tác. Tuy nhiên, chỉ có 20,3% doanh nghiệp được hỏi đã cho rằng việc giải quyết đó đã mang lại hiệu quả. Nhiều doanh nghiệp đã cho biết mặc dù trong quá trình thương lượng, đàm phán với đối tác để GQTC, các bên đã đạt được những thỏa thuận tích cực để GQTC nhưng sau đó, bên đối tác đã không thực hiện theo những thỏa thuận đã đạt được trong khi doanh nghiệp không có một công cụ pháp lý nào để bắt buộc đối tác tôn trọng và thực hiện thỏa thuận đã đạt được.

SOURCE: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP ĐIỆN TỬ - THS. DƯƠNG QUỲNH HOA – Viện Nhà nước và Pháp luật

Trích dẫn từ: http://www.nclp.org.vn

(MKLAW FIRM: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)

>> Xem thêm:  Tranh chấp về đất không có di chúc ? Làm thủ tục sang tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ?

2. Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng tài sản là đất phân lô

Gần ba năm nay, ông N.H.P (thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang) cứ ấm ức khi không được giao kiốt theo đúng vị trí trong bản đồ phân lô đã được niêm yết công khai tại UBND phường.

Tháng 10-2006, ông P. tham gia bốc thăm mua một kiốt tại chợ Vĩnh Đông (phường Núi Sam). Kết quả, ông bốc được kiốt số 45 lô B (dành cho ngành hàng vải, quần áo may sẵn).

Ngay sau đó, ông đã ký hợp đồng sử dụng kiốt với Doanh nghiệp tư nhân Như Ý – đơn vị đầu tư xây dựng chợ. Vài ngày sau, doanh nghiệp tổ chức công khai sơ đồ mặt bằng phân lô tại UBND phường Núi Sam. Theo đó, vị trí kiốt của ông P. nằm ở phía ngoài, giáp lối đi chính.

Không theo sơ đồ đã duyệt

Chừng đến ngày nhận kiốt thì ông P. giật mình khi vị trí thực tế của kiốt không giống như bản đồ đã công bố. Cụ thể, kiốt số 45B mà ông P. được giao không phải ở mặt tiền mà giáp đường đi phụ, nằm đâu lưng so với vị trí được ghi nhận trên bản đồ.

Qua tìm hiểu, ông P. được biết trước ngày bốc thăm kiốt, UBND thị xã Châu Đốc đã có quyết định phê duyệt đề án di dời chợ Vĩnh Đông. Theo đề án này, lô B có 84 kiốt. Bản đồ quy hoạch chợ được niêm yết tại phường cũng có nội dung này và đã được các cơ quan thẩm quyền của thị xã phê duyệt. Nhưng khi triển khai, doanh nghiệp Như Ý đã tự ý thay đổi một số chi tiết trong đề án.

Ông P. yêu cầu doanh nghiệp phải giao cho ông lô kiốt có vị trí như ông đã bốc thăm. Phía đơn vị lập quy hoạch phân lô (do doanh nghiệp Như Ý thuê) cho rằng đề án trên tuy đã được duyệt nhưng không được sử dụng. Bởi lẽ đơn vị này không được Phòng Kinh tế thị xã ký hợp đồng giao việc, cũng như chi trả các chi phí lập đồ án và bản vẽ phân lô. Về sau đơn vị này mới biết công trình chợ đã được thực hiện theo bản vẽ của một đơn vị khác.

Về phía doanh nghiệp Như Ý, mặc dù thừa nhận có lỗi vì đã không kiểm tra tính chính xác của bản đồ quy hoạch nhưng lại đổ lỗi cho Phòng Kinh tế thị xã đã đánh nhầm số của các kiốt khiến các vị trí bị lệch.

Đối với trường hợp của ông P., doanh nghiệp Như Ý không đồng ý giao kiốt cho ông P. theo bản đồ phân lô đã niêm yết “vì trên thực tế đó là lô số 44B, đã được giao cho người khác sử dụng”. Người này cũng bốc thăm và ký hợp đồng cùng ngày với ông P. nhưng đến nhận kiốt trước ông P. Nếu ông P. không chịu nhận kiốt được chỉ định, doanh nghiệp sẽ hoàn trả cho ông số tiền đã nhận cùng tiền lãi phát sinh.

Hai lần thua kiện

Tháng 8-2007, TAND thị xã Châu Đốc đã mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ tranh chấp giữa đôi bên. Cho rằng doanh nghiệp đã vi phạm nghĩa vụ giao tài sản cho ông P. theo hợp đồng, tòa sơ thẩm buộc doanh nghiệp phải bồi thường thiệt hại cho ông P. Tuy nhiên, do không có cơ sở xác định giá trị thực tế của kiốt để tính mức bồi thường thiệt hại nên tòa này đã xác định thiệt hại theo khoản tiền lãi tính theo mức lãi suất nợ quá hạn của ngân hàng tại thời điểm xét xử sơ thẩm. Tính ra, ông P. sẽ được doanh nghiệp hoàn trả 20 triệu đồng đã nhận, đồng thời được bồi thường một khoản tiền theo cách tính nêu trên.

Tháng 11-2007, tại phiên xử phúc thẩm, TAND tỉnh An Giang đã tuyên hủy bản án sơ thẩm trên để tòa án thị xã giải quyết lại vụ án.

Tòa án tỉnh nhận định: Ông P. hoàn toàn không có lỗi trong việc thay đổi vị trí kiốt. Để ông có điều kiện kinh doanh quần áo may sẵn là ngành nghề chính của gia đình, doanh nghiệp phải tiếp tục giao cho ông kiốt nằm ở trung tâm chợ. Nếu không thì tòa phải định giá kiốt ở vị trí ấy theo giá sang nhượng thực tế để buộc doanh nghiệp bồi thường thỏa đáng cho ông P.

Mặc dù tòa phúc thẩm yêu cầu như vậy nhưng phiên xử sơ thẩm lần hai vào tháng 3-2009 của TAND thị xã Châu Đốc cũng có cách xử lý tương tự như phiên xử lần một. Cho rằng quyền lợi của người nhận lô 44B phải được bảo đảm, lại nữa không thể xác định giá trị thực tế của kiốt do chưa có giao dịch chuyển nhượng kiốt trên thực tế, tòa này tiếp tục xử cho ông P. thua kiện. Phía doanh nghiệp phải thanh toán cho ông P. số tiền đã nhận và tiền lãi theo lãi suất ngân hàng.

Luật sư Phan Thanh Huân, Đoàn luật sư TP.HCM:

Khó làm khác hơn nếu không xác định thiệt hại

Về nguyên tắc, việc bồi thường trong dân sự phải được dựa trên mối quan hệ nhân quả do lỗi từ hành vi của người này gây thiệt hại cho người khác và phải xác định được mức thiệt hại cụ thể.

Ở trường hợp nêu trong bài, một khi đã xác định phía doanh nghiệp có lỗi vi phạm hợp đồng thì phía nguyên đơn cần chứng minh (hoặc đề nghị một cơ quan định giá chứng minh) có sự chênh lệch giá trị cụ thể giữa hai kiốt trong thời điểm hiện tại so với thời điểm mua thì mới có cơ sở để đòi bồi thường thiệt hại. Nếu cơ sở để xét bồi thường không có và cũng không thể giao kiốt đúng theo nguyện vọng của nguyên đơn thì chỉ còn cách hủy bỏ hợp đồng. Doanh nghiệp có nghĩa vụ hoàn trả số tiền đã nhận kèm theo khoản lãi tính theo lãi suất ngân hàng.

SOURCE: BÁO PHÁP LUẬT TPHCM - TRÙNG KHÁNH

Trích dẫn từ: http://www.phapluattp.vn/

(MKLAW FIRM: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)

>> Tham khảo dịch vụ: Tư vấn mua bán, chuyển nhượng đất đai;

>> Xem thêm:  Cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết tranh chấp về ranh giới đất với nhà hàng xóm ?

3. Tranh chấp tài sản đất đai giữa cha, mẹ, con ?

Mới đây, TAND huyện Cai Lậy (tỉnh Tiền Giang) vừa xử sơ thẩm vụ chị H. (câm, điếc bẩm sinh) kiện đòi một anh thanh niên phải cấp dưỡng cho con. Dù không nghe, nói được nhưng chị này biết chữ nên đã viết kể tường tận mối quan hệ giữa hai người…

Tòa đã ba lần mời anh chăn vịt đi giám định gien nhưng anh này đều không chịu đi nên có nghĩa đã mặc nhiên thừa nhận đứa bé là con mình?

Tác giả là anh chăn vịt

Theo đơn kiện và trình bày của người đại diện cho chị H., khoảng đầu năm 1996, chị thường đi ruộng vào ban đêm. Một anh thanh niên cùng xóm, nuôi vịt gần nhà, thấy chị hay tới lui nên đến làm quen. Lâu dần hai người trở thành thân…

Mấy tháng sau, chị H. ra dấu chỉ vào bụng. Người nhà thấy dáng vẻ chị là lạ nên vội vàng chở đi khám. Kết quả chị đã mang thai khoảng năm tháng.

Người nhà ra dấu hỏi lại chị mang thai với ai. Dù bị tật nhưng chị này vẫn học được chữ nên đã lấy giấy bút viết ra tên người thanh niên chăn vịt. Biết được “thủ phạm”, người nhà chị này liền báo với ấp mời anh này đến hỏi nguồn căn. Tuy nhiên, anh này lắc đầu, không chịu hợp tác.

Sau đó, ấp đã mời nhiều thanh niên lại để cho chị H. nhận mặt ai là tác giả của cái thai. Không chút ngần ngừ, chị chỉ ngay vào anh chăn vịt! Chị cho biết đã quan hệ với anh chăn vịt bảy lần và bào thai trên là kết quả của những lần hai người gần gũi…

Phải có nghĩa vụ cấp dưỡng

Ít lâu sau, chị H. sinh em bé. Sau nữa, chị yêu cầu anh chăn vịt cấp dưỡng cho con nhưng anh này không đồng ý. Do vậy, chị H. phải khởi kiện ra tòa…

Vừa rồi, tòa phải xử vắng mặt anh chăn vịt vì đã triệu tập hợp lệ theo quy định nhưng anh này không đến.

Tòa cho biết những lời khai trước đây anh này đều khẳng định con chị H. không phải con mình. Thế nhưng tòa đã ba lần ra thông báo đi giám định gien để làm rõ đứa bé có phải con của anh hay không, anh này đều không chịu đi.

Tòa nhận định anh này không chịu đi giám định nghĩa là mặc nhiên thừa nhận đứa bé trên là con mình.

Ngoài ra, nhiều người làm chứng cũng xác định đứa bé là con anh chăn vịt chứ không phải của ai khác. Bởi từ trước đến nay, mỗi lần được hỏi, chị H. đều chỉ vào anh này và chị cũng không quan hệ yêu thương ai ngoài anh này.

Cuối cùng tòa quyết đứa bé là con của anh chăn vịt. Tuy nhiên, tòa vẫn giao con cho chị H. tiếp tục nuôi dưỡng. Còn anh chăn vịt phải cấp dưỡng nuôi con. Chị H. yêu cầu anh phải cấp dưỡng 300.000 đồng/tháng là hợp lý vì so với điều kiện sinh hoạt, giá cả thị trường hiện nay thì không cao và thấp hơn 1/2 mức lương tối thiểu. Thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 12-1996 cho đến khi cháu bé thành niên và có khả năng lao động. Anh chăn vịt được quyền thăm nom con chung, không ai được quyền ngăn cản.

Viết giấy trả lời tòa

Tại phiên sơ thẩm, do chị H. không thể nghe, nói được nhưng biết chữ nên tòa đã viết câu hỏi ra giấy rồi đưa xuống cho chị này xem. Những câu hỏi đơn giản thì chị ra dấu để trả lời. Còn những câu hỏi phức tạp thì chị này viết lại gửi cho tòa. May nhờ vậy mà tòa đã không gặp khó khăn gì khi xét xử.

Thực ra, nhiều tòa đã khổ sở khi xét xử những bị cáo có khuyết tật như trên. Trước đây, có phiên tòa bị cáo bị lãng tai, chủ tọa nói bình bình thì đương sự không nghe rõ. Tòa đành phải mở âm lượng hết cỡ, đương sự mới loáng thoáng nghe nhưng có nhiều câu trả lời đâu đâu, không ăn nhập nội dung. Kết thúc phiên xử, cả tòa mệt nhoài.

Nhiều phiên khác tòa phải mời người phiên dịch cho những người câm, điếc thì mới có thể xét xử được.

SOURCE: BÁO PHÁP LUẬT TPHCM - THANH THIÊN (Trích dẫn từ: http://phapluattp.vn)

>> Xem thêm:  Cách giải quyết tranh chấp hợp đồng tặng cho đất đai ? Mua bán nhà đất cần những giấy tờ gì ?

4. Tranh chấp hợp đồng bán đất sau phán quyết của hai cấp tòa án ?

Sau hơn 20 năm, thủ tục mua bán nhà để xuất cảnh giữa bà Lê Thị Liên đang định cư nước ngòai với Cty Du lịch phục vụ dầu khí (nay là Cty TNHH MTV du lịch dịch vụ dầu khí Việt Nam – OSC Việt Nam) bị lật ngược bằng một vụ kiện mà phán quyết của hai cấp toà đã khiến dư luận vô cùng bức xúc.

Mua bán hay cho mượn nhà?

Căn nhà 143 Nguyễn Văn Trỗi (Nhà 143, trước là Nam Kỳ Khởi Nghĩa ), phường 11, quận Phú Nhuận, thuộc sở hữu của vợ chồng ông Châu Văn Được và bà Lê Thị Liên. Năm 1984, ông Được đi biểu diễn nghệ thuật rồi ở lại Tây Đức. Bà Liên xin bán nhà để xuất cảnh theo chồng định cư ở nước ngoài và OSC Việt Nam đã mua nhà 143, thanh toán đủ tiền cho bà Liên. Đến ngày xuất cảnh, thủ tục mua bán vẫn chưa xong nên bà Liên ủy quyền cho anh trai là ông Lê Mộng Ngọc tiếp tục thực hiện và chờ UBND TPHCM giải quyết.

Theo Biên bản bàn giao ngày 2/7/1986 giữa Cty quản lý nhà và bộ phận mua bán nhà xuất cảnh của Sở Nhà đất (Sở NĐ) TP HCM, hồ sơ thể hiện bà Liên đã bán nhà 143 cho OSC qua Văn tự bán nhà ngày 20/11/1985 có chữ ký của bà Liên và xác nhận của UBND phường 11, quận Phú Nhuận, các Biên lai thu tiền, công văn của OSC đề nghị được mua nhà…

OSC thanh toán tiền mua nhà có biên nhận tay do bà Liên ký nhận theo từng đợt trả tiền, với nội dung ghi rõ việc mua bán nhà, giao nhận tiền đợt thứ mấy và kết quả giám định chữ ký là của bà Liên. Tại Công văn số 19 ngày 19/3/1988, OSC giải trình với Sở NĐ về giá mua nhà như sau: Gíá thỏa thuận giữa cty và chủ nhà là 660.000 đồng, OSC đã thanh toán nhiều đợt với tổng số 729.688 đồng cho bà Liên ký nhận (có chứng từ), trong đó có cả tiền OSC trả thêm cho chủ nhà do thị trường biến động.

Ngày 21/5/86, Sở NĐ đã để bà Liên khai trình nhà và được phép xuất cảnh sang Pháp vào ngày 22/5/86. Bà Liên đã giao cho Sở NĐ giấy tờ sở hữu nhà cùng tài liệu mua bán với OSC và làm giấy ủy quyền cho anh trai là ông Ngọc tiếp tục thực hiện bán nhà.

Trong Đơn xin ủy quyền cho ông Ngọc, bà Liên viết “Tháng 12/1985, tôi có làm đơn bán nhà số 143 cho Cty quản lý nhà để xuất cảnh, trong khi đó nhà tôi có Cty du lịch phục vụ dầu khí mượn để sử dụng và đơn vị này đã được Chủ tịch Ủy ban duyệt cho phép mua căn nhà của tôi, nhưng đến nay đơn vị này vẫn chưa hoàn tất thủ tục mua nhà…”, nhằm để ông Ngọc thay mặt bà Liên ký các giấy tờ cần thiết tại Sở NĐ để chuyển quyền sở hữu cho OSC, đồng thời cũng để chứng minh với cơ quan quản lý xuất nhập cảnh rằng bà không còn sở hữu nhà đất tại Việt Nam tại thời điểm xuất cảnh theo quy định lúc bấy giờ. Tất nhiên, giấy ủy quyền này chỉ một mình bà Liên ký và không có cơ quan có thẩm quyền nào xác nhận.

Do vậy, việc mua bán nhà giữa bà Liên và OSC đã xong và đặt Sở NĐ vào “việc đã rồi”. Tại Công văn số 191/7 ngày 21/4/1988, Sở NĐ cho rằng: “Trong thời gian làm thủ tục mua bán nhà thì bà Liên xuất cảnh và nhận tiền trực tiếp với Cty du lịch phục vụ dầu khí. Cty này đã tùy tiện trả tiền cho bà Liên khi chưa có ý kiến của cơ quan chức năng (Sở NĐ) và hiện đang sử dụng căn nhà trên. Đề nghị Thường trực UBND TP HCM giải quyết: Thu hồi quản lý nhà nước nhà số 143; Chấp thuận cho Cty du lịch phục vụ dầu khí ký hợp đồng thuê lại”.

Và phán quyết của Toà

Trong việc chấp nhận yêu cầu khởi kiện của vợ chồng bà Liên, ông Được buộc OSC phải trả cho vợ chồng bà Liên 75.183.000.000 đồng (định giá năm 2008), tại Bản án sơ thẩm số 1860/2010 ngày 29/11/2010 của TAND TP.HCM và Bản án phúc thẩm số 164/2011 ngày 17/6/2011 của Tòa Phúc thẩm TANDTC tại TP.HCM có chung nhận định như sau: Nhà 143 thuộc quyền sở hữu của ông Được và bà Liên, là tài sản chung vợ chồng. Ông Được không bán nhà cho OSC vì đang ở nước ngoài, còn bà Liên giao nhà cho OSC mượn sử dụng. Bà Liên có ủy quyền cho ông Ngọc làm thủ tục bán nhà cho Nhà nước, nhưng việc mua bán chưa được thực hiện. Hơn nữa, OSC mua nhà là vi phạm pháp luật nên không có việc mua bán nhà như OSC nêu ra.

Thế nhưng, thực tế giao dịch giữa bà Liên với OSC thông qua Sở NĐ đã khiến lập luận trên chỉ là suy diễn, sai sự thực. Theo Chỉ Thị số 33 ngày 6/8/1984 của Chủ tịch UBND TP HCM, người xuất cảnh định cư nước ngoài phải bán nhà cho Sở NĐ hoặc ủy quyền cho người thân tiếp tục quản lý sử dụng nhà đất của mình. Theo đó, bà Liên sẽ phải bán căn nhà cho Sở NĐ và phải nộp ½ căn nhà, phần tiền của ông Được cho Nhà nước quản lý.

Tại Công văn số 191/7 ngày 21/4/1988 của Sở NĐ về việc giải quyết nhà 143 nêu: “Sở NĐ nhận được bút phê của Đ/c Nguyễn Văn Nam, Phó Chủ tịch UBND TP ngày 19/011986 chấp thuận cho bà Liên được bán nhà không phải nộp ½ vắng cộng đồng sở hữu…”. Như vậy, bà Liên được phép bán toàn bộ căn nhà, không phải nộp lại ½ vắng cộng đồng sở hữu.

Có thể nói, lúc đó việc bà Liên bán nhà để xuất cảnh được thực hiện theo quy định pháp luật, không hoàn toàn do chủ sở hữu định đoạt. Do vậy, Tòa án đã sai lầm khi cho rằng bà Liên bán nhà mà không có sự đồng ý của ông Được vì ông Được đang ở nước ngoài.

Toàn bộ hồ sơ nhà của bà Liên (số 141/VP ngày 11/6/1993 hiện lưu trữ tại Chi cục lưu trữ – Sở Nội vụ TP.HCM) là các tài liệu pháp lý về việc mua bán nhà, các chứng từ OSC trả tiền đều có chữ ký của bà Liên… là tài liệu trong hồ sơ nhà của bà Liên, được lưu giữ tại cơ quan có thẩm quyền và bản sao có chứng thực của Công chứng Nhà nước…. Đây là các tài liệu trong hồ sơ của bà Liên, nhưng Tòa án cho rằng OSC không có bản chính, chỉ có bản sao nên không công nhận là sai lầm nghiêm trọng trong đánh giá chứng cứ và trái với Khoản 1 Điều 83 Bộ luật Tố tụng dân sự: “Các tài liệu đọc được nội dung được coi là chứng cứ nếu là bản chính hoặc bản sao có công chứng, chứng thực hợp pháp hoặc do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cung cấp, xác nhận”.

Kết quả xác minh và theo đề nghị tại Công văn số 3058 ngày 20/4/1993 của Sở NĐ, UBND TP đã có Văn bản số 414 ngày 11/6/1993 “Chấp thuận hợp thức hóa việc mua bán nhà 143 của Cty du lịch phục vụ dầu khí Việt Nam, thực tế đã xảy ra từ năm 1986 với bà Liên. Cty du lịch phục vụ dầu khí Việt Nam chịu trách nhiệm trước pháp luật nếu có tranh chấp về hợp đồng mua bán nhà nói trên”. Do vậy, việc bà Liên ủy quyền cho ông Ngọc làm thủ tục mua bán nhà với Sở NĐ không còn giá trị vì UBND TP đồng ý cho OSC hợp thức hóa việc mua nhà. Tòa án nhận định OSC mua nhà là vi phạm pháp luật nên không có việc mua nhà là suy diễn, không phù hợp với diễn biến sự việc.

Có thể nói, sai lầm của hai bản án đã gây ra hậu quả là tòan bộ số tiền OSC mua nhà, gấp nhiều lần giá nhà quy định tại thời điểm mua bán đã không được đánh giá đúng và buộc OSC phải trả cho ông Được, bà Liên hơn 75 tỷ đồng là vô lý.

Vấn đề đặt ra là việc lật lại thủ tục mua bán nhà nói trên sau 20 năm và việc bỏ qua thực tế với những tài liệu chứng cứ hợp pháp cùng những nhận định sai lầm của hai cấp Tòa án có liên quan với nhau không?. Và người lật lại vụ việc là ai, thiết nghĩ cơ quan chức năng cần sớm làm rõ.

Bộ Văn hoá,Thể thao&Du lịch đã có công văn gửi TANDTC và VKSNDTC yêu cầu xem xét lại hai bản án trên. Ngày 8/9/2011, Chánh án TANDTC có Công văn số 261 yêu cầu Cục trưởng Thi hành án dân sự TP. HCM có quyết định hoãn thi hành án bản án phúc thẩm nói trên.

SOURCE: BÁO PHÁP LUẬT VIỆT NAM - NGUYỄN ĐÌNH BÍCH

Trích dẫn từ: http://www.phapluatvn.vn/

(MKLAW FIRM: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo và có thể một số thông tin pháp lý đã hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)

>> Xem thêm:  Tranh chấp về ranh giới thửa đất xử lý thế nào ? Mức bồi thường về đất khi nhà nước thu hồi đất ?

5. Tranh chấp quyền sở hữu tài sản là đất đai thực hiện như thế nào ?

KTNT - Một vụ kiện đòi lại quyền sử dụng đất trong 30 năm qua đã không còn xa lạ đối với người dân ấp An Bình, xã Định Yên (Lấp Vò – Đồng Tháp). Vấn đề đặt ra là: Ai đã bao che cho quan xã tước đi quyền lợi chính đáng của dân?

1. Theo kiện từ đời cha… đến con

Trên thửa đất 1.240m2, từ năm 1975, ông Nguyễn Văn Bé đã dựng nhà, sinh sống ổn định. Do nằm ở vị trí thuận lợi, năm 1978, UBND xã Định Yên đã biến thửa đất này thành kho chứa lương thực nhưng không hề thực hiện bồi hoàn hay hỗ trợ tiền di dời cho ông Bé. Ông Bé khiếu nại nhiều nơi nhưng không được giải quyết.

Từ năm 1993, kho lương thực bị bỏ hoang. Năm 2000, ông Kiều Thế Tính, Bí thư Đảng uỷ xã Định Yên đã tự ý sử dụng nhà kho này kinh doanh vật liệu xây dựng. Ngày 14/6/2005, Công ty Xuất – nhập khẩu Lương thực Vật tư nông nghiệp Đồng Tháp tổ chức bán đấu giá nhà kho. ông Tính trúng thầu với giá 103.400.000 đồng. Thấy quyền lợi hợp pháp của mình bị xâm hại, ông Bé nhiều lần gửi đơn khiếu nại đến các cơ quan có thẩm quyền đề nghị giải quyết nhưng kết quả không như mong muốn. Sau đó, ông Bé uỷ quyền cho con trai là Nguyễn Ngọc Thế tiếp tục theo kiện.

Ngày 10/4/2006, UBND huyện Lấp Vò ban hành Quyết định số 91/QĐ -UBND-NĐ trả lời khiếu nại đối với ông Thế với nội dung: “Không giao trả phần diện tích 1.240m2 cho ông Nguyễn Ngọc Thế vì phần diện tích đất này đang nằm trong quy hoạch chợ chiếu Định Yên, do đó bồi thường tiền”.

Ngày 11/9/2007, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 432/QĐ -UBND-NĐ cũng đồng ý với quan điểm chỉ bồi thường tiền cho gia đình ông Thế. Tuy nhiên, sự thật là công trình chợ chiếu vẫn bị bỏ ngỏ.

Điều đáng nói nữa là Công văn số 508/VPUBND-NC ngày 3/6/2008 thực hiện chỉ đạo của Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Tháp ghi: “Giao UBND huyện Lấp Vò tiến hành làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (CNQSDĐ) cho gia đình ông Thế nếu dự án quy hoạch chợ chiếu Định Yên chưa thực hiện hoặc không thực hiện. Trường hợp dự án đang triển khai thực hiện thì giải quyết bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho gia đình ông Thế theo quy định. Thời gian thực hiện là 30 ngày. Kết quả giải quyết báo cáo UBND tỉnh”.

Tuy nhiên, cho đến tận bây giờ, ông Thế vẫn chưa đòi lại được quyền lợi chính đáng cho mình.

Luật sư tư vấn pháp luật đất đai, nhà ở ?

Luật sư tư vấn luật Đất đai qua điện thoại gọi số: 1900.6162

2. Gian nan tìm công lý

Trong buổi làm việc với phóng viên Báo Kinh tế nông thôn, ông Kiều Thế Tính, Bí thư Đảng ủy xã Định Yên (Lấp Vò – Đồng Tháp), người hưởng lợi trên thửa đất của ông Nguyễn Văn Bé gần 10 năm qua, khẳng định mình là người “có quyền” sử dụng thửa đất này. Trong khi đó, Điều 5 Hợp đồng mua bán tài sản số 276/HĐKT ngày 15/6/2005 nêu: “Bên bán chỉ bán tài sản có trên phần đất do công ty đang quản lý, không bán đất”.

Trả lời về việc thực thi nghĩa vụ thuế đất, ông Tính cho biết, năm 2005 – 2007, đã gửi đơn xin thuê diện tích 1.400m2 đất nhà kho. Ngày 9/2/2007, Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Lấp Vò có Công văn số 30/TN&MT trả lời do thửa đất đang có tranh chấp nên không giải quyết.

Song song với việc xin thuê đất, ngày 23/6/2005, UBND xã Định Yên tiến hành lập “Biên bản xác nhận ranh giới, mốc giới thửa đất” bổ sung vào hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trong đơn ngày 18/7/2005 gửi Sở Tài nguyên và Môi trường, ông Tính đã loại hẳn vai trò của ông Bé với chi tiết: “Toàn bộ diện tích nói trên do Công ty Xuất nhập khẩu lương thực – vật tư nông nghiệp Đồng Tháp quản lý từ năm 1980 đến nay mà không có giấy chứng nhận quyền sở hữu đất và UBND xã Định Yên cũng không khai đất công thổ”! Thông qua việc đấu giá, Công ty và ông Tính đã ngầm đưa ra thoả thuận cho phép ông Tính được quyền sở hữu mảnh đất. Đến nay, do không đạt được nguyện vọng nên ông Tính cho rằng mình là nạn nhân của Công ty này?.

Đề cập đến dự án chợ chiếu Định Yên, ông Nguyễn Thanh Liêm, Giám đốc Ban quản lý dự án huyện Lấp Vò cho biết, công trình này hiện vẫn đang trong quá trình kêu gọi đầu tư. Tại Điều 2 Quyết định số 1569/QĐ – UBND-HCUBND ghi: “Chủ đầu tư có trách nhiệm hoàn thiện các thủ tục trình cấp thẩm quyền thu hồi đất, thông báo công khai phương án tổng thể bồi thường, hỗ trợ và tái định cư”. Tuy nhiên, đến nay ông Thế vẫn chưa nhận được khoản hỗ trợ nào.

Ngày 18/08/2008, Văn phòng UBND tỉnh Đồng Tháp đã có Công văn số 747/VPUBND–NC với nội dung: “Giao Thanh tra tỉnh thẩm tra, xác minh làm rõ các nội dung khiếu nại của ông Nguyễn Ngọc Thế, đồng thời kiểm tra lại nội dung chỉ đạo của Chủ tịch UBND tỉnh tại cuộc họp tiếp công dân tháng 5/2008, thời gian thực hiện 15 ngày”.

Sau 30 năm theo kiện, ông Thế đang lạc giữa “trận đồ bát quái” bởi cách giải quyết khó hiểu của chính quyền các cấp. Bao giờ các cơ quan chức năng giải quyết dứt điểm vụ việc trên? Câu trả lời xin dành cho lãnh đạo huyện Lấp Vò.

SOURCE: BÁO KINH TẾ NÔNG THÔN - HOA CÚC LỬA

Trích dẫn từ:http://kinhtenongthon.com.vn

(MKLAW FIRM: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo và có thể một số thông tin pháp lý đã hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)

>> Xem thêm:  Cách giải quyết tiền đền bù đất khi có tranh chấp ? Mức thuế khi chuyển mục đích sử dụng đất ?