1. Hoàn cảnh và thời điểm kiểm hiến
Thời điểm kiểm hiến và hoàn cảnh diễn ra việc kiểm hiến là hai yếu tố khác có tác động tới quy trình kiểm hiến. Nhữngquy tắc về việc khi nào và trong hoàn cảnh nào tòa án được phép xem xét tính hợp hiến có nhiều khả năng mở rộng hoặc hạn chế độ mạnh yếu của quyền kiểm hiến. Hiến pháp các quốc gia quy định về thời điểm và hoàn cảnh kiểm hiến rất khác nhau. Về yếu tố thời điểm, trong khi một số tòa án có quyền tiếp cận tính hợp hiến của các dự luật trước khi nó được thông qua và trở thành luật, một số khác lại chỉ có thể thực hiện quyền này sau khi luật được ban hành. Hiến pháp Sri Lanka cho phép Tòa án Tối cao được xem xét tính hợp hiến và bác bỏ dự luật nhưng Tòa không thể xem xét tính hợp hiến của các đạo luật một khi nó đã được ban hành. Những người ủng hộ kiểm hiến chỉ áp dụng đối với các dự luật coi trọng tính xác định chắc chắn của văn bản ngay khi nó chỉ là dự luật. Tuy nhiên ở khía cạnh khác, hiệu quả và tác động của đạo luật chỉ có thể được hiểu và cảm nhận một cách đầy đủ sau khi được ban hành. Chính vì vậy, một số nhà nghiên cứu khác coi trọng hơn việc xem xét tính hợp hiến của luật sau khi đã ban hành. Tương tự như vậy, một số bản hiến pháp trao cho tư pháp quyền tự chủ đáng kể trong việc quyết định khi nào cần kiểm hiến, một số bản hiến pháp khác trao quyền tự chủ đó cho các cơ quan khác hoặc chỉ cho phép kiểm hiến khi một số sự kiện nhất định phát sinh.
2. Một số bản hiến pháp tự động thực hiện kiểm hiến đối với đạo luật
Một số bản hiến pháp tự động thực hiện kiểm hiến đối với đạo luật trước khi thi hành. Ví dụ, Hiến pháp Pháp yêu cầu xem xét tính hợp hiến của các “đạo luật mang tính thiết chế” – là những đạo luật được hiến pháp đặc biệt yêu cầu ban hành để cụ thể hóa một số điều khoản trong hiến pháp - trước khi được ban hành. Tương tự, ở Chi-lê, Hội đồng Hiến pháp kiểm tra tính hợp hiến của tất cả các đạo luật cơ bản trước khi được ban hành. Trong một số bản hiến pháp khác, kiểm hiến chỉ thực hiện khi có một vụ việc hoặc tranh chấp cụ thể. Theo một số bản Hiến pháp, quy trình kiểm hiến được thực hiện khi có một cá nhân khiếu kiện trực tiếp tới Tòa án Hiến pháp về hành vi vi phạm hiến pháp. Trong bối cảnh có rất nhiều sự lựa chọn như vậy, có rất nhiều cách kết hợp để thiết lập các quy tắc kiểm hiến. Mặc dù những quy trình này có thể vận hành khác nhau ở các bối cảnh quốc gia khác nhau, một số quốc gia cho phép sự tự do và cơ hội lớn hơn trong việc kiểm hiến, theo đó mở rộng thẩm quyền tư pháp đối vớivấn đề về tính hợp hiến. Mức độ tự do và cơ hội lớn hơn cho nhánh tư pháp được thực hiện việc kiểm hiến cũng thể hiện mức độ tập trung quyền lực lớn hơn trong nhánh tư pháp. Các quốc gia cũng có sự điều chỉnh quy định về quyền kiểm hiến qua thời gian. Ví dụ như Hội đồng Bảo hiến (Conseil Constitutionnel) ở Pháp. Trước đây, Hội đồng Bảo hiến có thể kiểm tra tính hợp hiến của các đạo luật chỉ trước khi Tổng thống ký ban hành. Ngoài giới hạn về mặt thời gian, thời điểm tiến hành kiểm hiến, Tòa án cũng chỉ có thể kiểm tra tính hợp hiến của các văn bản lập pháp khi có đề xuất của các nhánh chính quyền khác – Tổng thống, Thủ tướng, Chủ tịch Thượng viện (Sénat) hay Hạ viện (Assemblée Nationale), hoặc bởi 60 thành viên Thượng viện hoặc Hạ viện. Tuy nhiên, kể từ tháng 3/2010, các bên tranh chấp cũng có thể yêu cầu Hội đồng Hiến pháp kiểm tra tính hợp hiến của các đạo luật đang được xem xét. Thời điểm kiểm hiến do đó cũng thay đổi. Bên cạnh việc kiểm tra tính hợp hiến của các luật trước khi được ban hành, nay Hội đồng Hiến pháp cũng có thể thụ lý các yêu cầu liên quan đến tính hợp hiến của đạo luật đã có hiệu lực. Bằng việc mở rộng phạm vi thẩm quyền kiểm hiến của Hội đồng Hiến pháp, cơ quan lập pháp Pháp đã tập trung nhiều quyền lực cho Hội đồng. Hơn thế nữa, cơ quan lập pháp cũng đã đưa Pháp tới gần hơn với mô hình làm luật mang tính pháp lý (legal model of law-making), tức là lệ thuộc ít hơn vào trách nhiệm giải trình mang tính chính trị để hủy bỏ các đạo luật vi hiến. Đáng chú ý là chủ thể và hoàn cảnh của việc kiểm hiến không phải luôn luôn được điều chỉnh trong Hiến pháp. Thậm chí ở các quốc gia mà sự tồn tại của kiểm hiến được thừa nhận và bảo vệ bởi Hiến pháp, nhiều bản hiến pháp đưa ra rất ít quy định chỉ dẫn quy trình hoạt động của nó. Thay vào đó, Hiến pháp quy định quy trình kiểm hiến cụ thể do luật định. Hungary là một ví dụ về sự ảnh hưởng của lập pháp đối với quy trình kiểm hiến: dù Điều 32(A) Hiến pháp Hungary thiết lập Tòa án Hiến pháp và trao cho nó quyền thực thi việc kiểm hiến có hiệu lực bắt buộc, nhưng phạm vi và các dạng thức khác nhau của kiểm hiến được quy định trong một đạo luật. Đạo luật 32 năm 1989 quy định về phạm vi kiểm hiến trong những điều khoản chi tiết về các vấn đề như: thẩm quyền, cơ cấu và quy trình thủ tục của Tòa án Hiến pháp.
3. Sự thiếu vắng “chức năng” kiểm hiến
Cuối cùng, một số quốc gia không trao quyền kiểm hiến cho nhánh tư pháp. Những quốc gia này bảo đảm thẩm quyền tuyệt đối của nhánh lập pháp, việc ban hành luật của nhánh lập pháp không chịu sự giám sát của một thiết chế độc lập nào. Trong một hệ thống như vậy, mặc dù hiện nay không nhiều quốc gia áp dụng hệ thống đó, nhánh lập pháp, cùng với các nhánh quyền lực khác và chủ thể quyền lực nhà nước khác, có nhiệm vụ tự bảo đảm sự tuân thủ hiến pháp của mình. Đó là trường hợp của Hiến pháp Hà Lan, trong đó quy định: “Tính hợp hiến của các đạo luật và hiệp ước không chịu sự xem xét lại của tòa án”. Một số hiến pháp khác cho phép các cơ quan tư vấn đặt vấn đề về tính hợp hiến nhưng không yêu cầu cơ quan lập pháp bị ràng buộc bởi những ý kiến đó. Ở Phần Lan, Ủy ban Luật hiến pháp đưa ra các phúc trình về tính hợp hiến và sự phù hợp với các công ước về quyền con người của các dự luật và về một số vấn đề khác cần họ tư vấn cho cơ quan lập pháp. Tuy nhiên, lập pháp vẫn giữ quyền thông qua dự luật đó bất kể quan điểm của Ủy ban luật hiến pháp như thế nào cũng như bất kể việc Tổng thống có từ chối chứng thực (confi rmation) đạo luật đó hay không. Nếu Tổng thống từ chối chứng thực, Nghị viện có thể tái thông qua dự luật và trong trường hợp này sự thông qua không cần sự chứng thực của Tổng thống.
4. Một số phân tích tiếp theo
Các nội dung trong Tài liệu được tiếp cận theo hướng xác định mức độ của khuynh hướng tập trung hay phân tản quyền lực của những điều khoản Hiến pháp và những hệ thống tổ chức chính quyền khác nhau. Cách tiếp cận này cũng phù hợp để phân tíchvấn đề “kiểm hiến”. Việc kiểm hiến tự bản thân nó hàm chứa sự tập trung quyền lực vào nhánh tư pháp, nơi sẽ đưa ra tiếng nói cuối cùng về nhữngyêu cầu của hiến pháp, bao gồm cả việc giải thích những yêu cầu đó có nghĩa gì đối với các nhánh quyền lực khác. Ở một mức độ nhất định, các nhánh chính quyền khác phải giải trình trước nhánh tư pháp. Tuy nhiên, xét dưới góc độ rộng lớn hơn, việc kiểm hiến đã phân tản một cách hiệu quả quyền lực giữa các nhánh chính quyền để không nhánh nào có quá nhiều thẩm quyền mà không có sự liên đới của các nhánh quyền lực khác. Các nhánh chính trị của chính quyền soạn thảo và thi hành luật, kiểm soát thuế và chi tiêu, thống lĩnh quân đội và điều hành phần lớn các thiết chế chính quyền. Kiểm hiến cho phép nhánh tư pháp tham gia cùng hoặc giám sát một số các quy trình đó. Tuy nhiên, cách thiết kế hoạt động kiểm hiến thường cũng tạo giới hạn về phạm vi kiểm hiến của nhánh tư pháp bằng việc đặt ra yêu cầu về điều kiện phát sinh kiểm hiến hay bằng việc giới hạn đối tượng chịu sự kiểm hiến. Trong một số trường hợp, tư pháp chỉ có thể xem xét các vụ án hoặc vấn đề tranh cãi một khi nó được các bên tranh tụng hoặc các nhánh quyền lực khác đưa ra trước tòa án. Theo một số hiến pháp khác, tư pháp bị giới hạn trong việc chỉ kiểm tra một số loại văn bản nhất định. Do đó, ngay cả khi nhánh tư pháp độc lập thì nó cũng chỉ có quyền lực hữu hạn. Chính vì vậy, trong khi quy trình kiểm hiến được xem như một công cụ tập trung hay phân tản quyền lực giữa các nhánh quyền lực, phần lớn các hiến pháp hiện hành đều thiết kế sao cho kiểm hiến có thể thực hiện được cả 2 nội dung này. Nếu thiết kế được sự cân bằng hợp lý giữa 2 nội dung này thì có thể có tác dụng cải thiện hoạt động của chính quyền cũng như tăng cường tính hợp pháp, chính danh của các hành vi của các nhánh chính quyền khác.
5. Phần lớn cách thiết kế mô hình kiểm hiến đều tạo dựng dạng thức bảo vệ pháp lý
Phần lớn cách thiết kế mô hình kiểm hiến đều tạo dựng dạng thức bảo vệ pháp lý mạnh. Vì mỗi nhánh quyền lực đều được giao nhiệm vụ áp dụng hiến pháp một cách thống nhất và không thiên vị, sự giám sát của tư pháp được coi như sự bảo vệ mang tính pháp lý chống lại sự vi phạm hiến pháp. Tuy nhiên, như chương này đã đề cập, các nhà lập hiến không nên cho rằng tư pháp sẽ không bị ảnh hưởng bởi các sức ép về mặt chính trị. Mặc dù có những cơ chế giảm thiểu ảnh hưởng chính trị lên nhánh tư pháp, tư pháp không vận hành một cách cô lập và miễn dịch khỏi những lực lượng chính trị. Các tác nhân chính trị nói chung bổ nhiệm thẩm phán và việc họ lựa chọn những cá nhân chia sẻ các quan điểm chính trị với họ cũng là dễ hiểu. Dù thẩm phán sẽ phải áp dụng luật để phân tích các dữ liệu thực tế nhưng việc áp dụng luật cho phép các thẩm phán có sự tự do nhất định khi đưa ra phán quyết. Và khi phán quyết, thẩm phán sẽ không bỏ việc cân nhắc ý kiến của người dân hoặc khả năng thi hành phán quyết của hành pháp. Vì những lý do nêu trên, kiểm hiến mang tính chất của cả những hành vi pháp lý và hành vi chính trị. Một lần nữa, cũng cần nhấn mạnh rằng, cần thiết kế sự cân bằng hợp lý về phạm vi kiểm hiến cũng như dạng thức kiểm hiến phù hợp với bối cảnh cụ thể của mỗi quốc gia.
Luật Minh Khuê ( sưu tầm và biên tập )