Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Dân sự của Công ty luật Minh Khuê

Thanh tra được xem là hoạt động quan trọng hành đầu trong việc thanh chỉnh bộ máy nhà nước. Hoạt động nhà nước nói chung và bộ máy hành chính nói riêng được vận hành theo trật tự có tổ chức và rất phức tạp, vì vậy trong bộ máy nhà nước cũng như bộ máy hành chính nhà nước có nhiều lỗ hổng pháp lý kiến thiệt hại nhiều về vật chất và tạo gánh nặng, tiêu cực cho toàn hệ thống. Vì vậy trong cơ quan nhà nước bắt buộc phải có thanh tra để giải quyết những khó khăn đó. Vậy theo quy định của pháp luật về thanh tra như thế nào.

>> Luật sư tư vấn pháp luật Dân sự, gọi:  1900 6162

 

Trả lời:

Chào bạn, cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

Luật sư tư vấn:

1. Vai trò pháp lý của cơ quan thanh tra nhà nước

Chức năng của cơ quan thanh tra nhà nước được quy định tại điều 5 Luật Thanh tra 2010:

Điều 5. Chức năng của cơ quan thanh tra nhà nước

Cơ quan thanh tra nhà nước trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện và giúp cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện quản lý nhà nước về công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng; tiến hành thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng theo quy định của pháp luật.”

Như vậy, cơ quan thanh tra nhà nước làm nhiệm vụ phát hiện và xử lý vi phạm pháp luật trong quản lý nhà nước, thanh lọc sai lầm của cán bộ, công chức, viên chức, điều tra, rà soát quy trình thực hiện pháp luật trong đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức nhà nước. Thanh tra nhà nước là hoạt động nhằm ổn định các công việc thi hành pháp luật, đánh giá toàn diện về công tác của cơ quan nhà nước đó từ đó có những biện pháp xử lý kịp thời, phù hợp với pháp luật và tạo môi trường cho nhân tố tích cực trong cơ quan nhà nước phát triển, triệt tiêu nhân tố tiêu cực. Đó là nhìn nhận chung về toàn thể ngành thanh tra, còn đối với Thanh tra Chính phủ, với tư cách là một trong 4 cơ quan ngang bộ, cũng có vai trò pháp lý cũng như thực tiễn riêng của cơ quan. Luật Thanh tra 2010 có đưa ra vai trò pháp lý đối với đất nước của Thanh tra Chính phủ tại các khoản 2,3,4 điều 15:

Điều 15. Nhiệm vụ, quyền hạn của thanh tra 

Trong hoạt động thanh tra, Thanh tra Chính phủ có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:

Thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật và nhiệm vụ, quyền hạn của bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; thanh tra đối với doanh nghiệp nhà nước do Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập;

Thanh tra vụ việc phức tạp, liên quan đến trách nhiệm quản lý của nhiều bộ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh;

Thanh tra vụ việc khác do Thủ tướng Chính phủ giao;

Kiểm tra tính chính xác, hợp pháp của kết luận thanh tra và quyết định xử lý sau thanh tra của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ (sau đây gọi chung là Bộ trưởng), Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh khi cần thiết.

Quản lý nhà nước về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo; thực hiện nhiệm vụ giải quyết khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.

Quản lý nhà nước về công tác phòng, chống tham nhũng; thực hiện nhiệm vụ phòng, chống tham nhũng theo quy định của pháp luật về phòng, chống tham nhũng.”

Thông qua quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Thanh tra Chính phủ, ta có thể thấy được vai trò pháp lý của cơ quan này như sau:

Thực hiện hoạt động thanh tra để phát hiện và sử lý sai phạm trong thực hiện pháp luật, khiếu nại, tố cáo, phòng chống tham nhũng ở cấp độ quốc gia nên giữ vai trò trọng yếu trong các công tác kể trên

Công tác hoạt động có phạm vi bao trùm lên toàn bộ các cơ quan cấp Trung ương vì vậy phạm vi hoạt động và thực quyền lớn cùng với chức năng chống tiêu cực quan trọng, Thanh tra Chính phủ là một trong số ít các cơ quan có phạm vi tác động trên diện rộng khắp hệ thống chính trị. Chính vì vậy, không thể không xem trọng, phát triển cơ quan để tránh trường hợp làm mất cân bằng, suy yếu các hệ thống cơ quan còn lại do nhân tố tiêu cực hoạt động mạnh.

Thanh tra Chính phủ là cơ quan quan trọng nhất cũng như thẩm quyền hoạt động nhiều nhất về giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng chống tham nhũng trong hệ thống chính trị Việt Nam. Do vậy, cơ quan đóng vai trò cao trong công tác này, là trụ cột hoạt động của công tác khiếu nại, tố cáo, phòng chống tham nhũng.

Thông qua hoạt động của mình, Thanh tra Chính phủ không trực tiếp tạo ra giá trị của cải vật chất cho đất nước mà tác động gián tiếp lên các cơ quan còn lại trong Chính phủ. Nên, trong thành quả to lớn trong tất cả các lĩnh vực của các cơ quan nhà nước đã có một bộ phận thành quả không nhỏ của thanh tra Chính phủ. Tổng hợp lại, đóng góp của Thanh tra Chính phủ bằng vật chất đối với đất nước thực sự không hề nhỏ nhưng lại không thể tính toán hết được.

Thanh tra Chính phủ thực hiện chức năng thanh tra và quản lý khiếu nại, tố cáo, phòng chống tham nhũng ở cấp vĩ mô nên chiếm đại đa số thành quả của toàn ngành thanh tra nói chung, cũng như hoạt động trong những cuộc thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo có tính chất khó khăn nhất cả nước.

2. Thanh tra hành chính theo quy định pháp luật

Theo quy định của luật Thanh tra 2010 tại khoản 2 điều 3:

Thanh tra hành chính là hoạt động thanh tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trực thuộc trong việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn được giao.

 Hoạt động này là hoạt động điều tra, đánh giá và xem xét có phương hướng để đưa đến kết luận đối với đối tượng thanh tra trong việc thực thi pháp luật, thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, nghị quyết của bộ chính trị cũng như thực hiện các văn bản pháp luật khác do nhà nước ban hành, nghị quyết, nghị định, chỉ thị, thông tư…. Hoạt động thanh tra hành chính là hoạt động thanh tra trên phương diện pháp luật và sử dụng văn bản pháp luật làm công cụ thanh tra chính. Khi thực hiện, bản chất cũng như việc làm của nó chính là ở chỗ đối chiếu giữa quy định trong các văn bản pháp luật với thực tiễn công tác của đối tượng thanh tra để tìm ra hành vi hợp pháp và hành vi bất hợp pháp. Thanh tra hành chính cần yêu cầu thanh tra viên được đào tạo kiến thức pháp luật phục vụ công tác. Do chỉ hoạt động đánh giá và đưa ra kết luận dựa theo phương châm thực hiện tốt pháp luật nhà nước nên thanh tra hành chính là hoạt động thanh tra theo chiều rộng bề ngang vấn đề. Tuy hoạt động này không thể đi sâu vào từng lĩnh vực kiến thức nhất định để có những kết luận chính xác nhất nhưng nó lại đánh giá đối tượng một cách tổng thể, trên nhiều lĩnh vực, phương diện của pháp luật cũng như xã hội. Về tổ chức thực hiện, thanh tra hành chính được tổ chức trong tất cả các cơ quan thanh tra nhà nước. Đồng thời ở các cơ quan thanh tra, luôn có một lực lượng thanh tra viên riêng làm công tác thanh tra hành chính. Thanh tra hành chính không có quyền lập biên bản xử phạt theo quy định của pháp luật.

3. Thanh tra chuyên ngành theo quy định pháp luật

Theo quy định tại khoản 3 điều 3 Luật Thanh tra 2010 thì:

Thanh tra chuyên ngành là hoạt động thanh tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo ngành, lĩnh vực đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc chấp hành pháp luật chuyên ngành, quy định về chuyên môn – kỹ thuật, quy tắc quản lý thuộc ngành, lĩnh vực đó. Theo đó ta thấy được bản chất của thanh tra chuyên ngành là hoạt động thanh lọc vi phạm mà vi phạm đó là vi phạm về kiến thức chuyên môn, hoạt động chuyên môn, thanh chỉnh các vi phạm về phương pháp làm việc, cách thức làm việc. Nó mang tính thực tiễn về áp dụng kiến thức cuả từng lĩnh vực hơn là thanh tra hành chính, chỉ nhìn chung thanh tra về việc thực hiện các văn bản pháp luật và áp dụng đúng quy trình làm việc. Không như thanh tra hành chính, thanh tra chuyên ngành đôi khi khó thực hiện hơn và có trường hợp còn khó thực hiện hơn nữa. Lý do là bởi vì thanh tra hành chính dễ áp dụng văn bản pháp luật để làm việc, trong khi thanh tra chuyên ngành đi sâu vào chuyên môn, kỹ thuật, cần có phán đoán cao, độ tỉ mỉ hơn. Thanh tra hành chính nhìn chung chỉ cần nắm vững kiến thức pháp luật và sử dụng tốt công cụ thanh tra cũng như có năng lực tư duy truy tìm tốt trong hoạt động thì thanh tra chuyên ngành lại phải được đào tạo về kiến thức chuyên môn. Họ phải có văn bằng, chứng chỉ về chuyên môn, nghiệp vụ lĩnh vực mình đang làm công tác thanh tra, hoặc tốt nghiệp những cơ sở đào tạo kiến thức lĩnh vực đó. Bởi lẽ, làm thanh tra chuyên ngành phải nắm vững kiến thức chuyên môn có khi phải hơn hẳn đối tượng thanh tra vì kiến thức có uyên thâm hơn thì mới giỏi hơn để tìm được những sai phạm mà đối tượng đang dấu kín. Thanh tra chuyên ngành là hoạt động thanh tra theo chiều sâu, chiều dọc của vấn đề. Nó phát hiện vi phạm về thực hiện công việc theo kiến thức của cả quá trình hoạt động. Trong bộ máy nhà nước ta, thanh tra chuyên ngành có nhiều tại các cơ quan có thẩm quyền chuyên môn trong hệ thống các cơ quan hành chính. Tuy nhiên, cũng vì vậy mà nó đặt ra một vấn đề mà hiện nay đang được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và nêu quan điểm: Nếu như trong cùng một lĩnh vực có cả đối tượng thanh tra và cơ quan thanh tra thì đồng nghĩa với việc bộ, sở, phòng, ban đó đang vừa vi phạm lại vừa có thẩm quyền xử lý vi phạm. Như thế là đang tự nâng đỡ ngầm, thay đổi kết luận thanh tra, coi hoạt động thanh tra là bề mặt, hình thức. Trong hoạt động của thanh tra chuyên ngành, thì họ hoàn toàn có quyền lập biên bản xử phạt đối tượng thanh tra. Bởi lẽ, họ được đào tạo kiến thức để vận dụng và thực tiễn thanh tra hành chính không có kiến thức này trong khi các sai phạm phải được xử lý triệt để.

4. Quyết định thanh tra theo quy định pháp luật 

Trong công tác thanh tra, để thành lập một cuộc thanh tra thì ra quyết định thanh tra là việc rất quan trọng. Đây chính là căn cứ pháp lý chứng minh tính hợp pháp của cuộc thanh tra.  Khoản 1 điều 44 Luật Thanh tra 2010 đã quy định về quyết định thanh tra hành chính như sau:

Quyết định thanh tra bao gồm các nội dung sau đây:

Căn cứ pháp lý để thanh tra;

Phạm vi, đối tượng, nội dung, nhiệm vụ thanh tra;

Thời hạn thanh tra;

Trưởng đoàn thanh tra, Thanh tra viên và các thành viên khác của Đoàn thanh tra.”

Căn cứ pháp lý chính là yếu tố đầu tiên và quan trọng hàng đầu trong việc ra quyết định thanh tra. Đó là cơ sở để áp dụng pháp luật trong quyết định thanh tra. Căn cứ pháp lý là cơ sở pháp lý để mở quyết định thanh tra. Căn cứ pháp lý có thể khác nhau tuỳ vào từng hoàn cảnh, nó có thể phụ thuộc vào mục đích thanh tra hoặc hình thức thanh tra… Nó có tác dụng như chứng cứ chứng minh tính hợp pháp của quyết định thanh tra để yêu cầu đối tượng chấp hành. Đồng thời căn cứ pháp lý còn có giá trị pháp lý đối với kết luận thanh tra giống như cơ sở bước đầu cho kết luận.

Phạm vi, đối tượng, nội dung, nhiệm vụ thanh tra: đây là yếu tố chính của quyết định thanh tra. Nó chiếm phần lớn quyết định thanh tra và khái quát toàn bộ quyết định thanh tra. Yếu tố này không thể thiếu được trong quyết định thanh tra. Phạm vi thanh tra xác định những khu vực được phép thanh tra. Nó cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến báo cáo kết quả thanh tra. Vì, phạm vi thanh tra chính xác, vừa vặn sẽ giúp tra cứ thông tin, nắm bắt thông tin trong thanh tra tốt hơn, từ đó điều tra dễ dàng hơn và có kết quả nhanh hơn cũng như chính xác hơn. Ngược lại, nếu phạm vi thanh tra mà quá rộng sẽ gây tình trạng mất thời gian, hao tổn công sức tìm hiểu hoặc đôi khi là không giúp ích được gì cho công cuộc thanh tra. Còn nếu phạm vi thanh tra mà quá hẹp sẽ dẫn đến không đủ thông tin cho điều tra, suy luận của đoàn thanh tra trong cuộc thanh tra, cuối cùng dẫn tới khó khăn trong khi làm việc. Đối tượng thanh tra là yếu tố xác định tư cách một chủ thể có khả năng phạm sai lầm hay không và có bị áp dụng hoạt động thanh tra lên hoạt động của chủ thể đó hay không. Chính vì thế, trong quyết định thanh tra, các thông tin về đối tượng thanh tra thường là thông tin trong sơ yếu lý lịch tư pháp (tên, địa chỉ, …). Yếu tố đối tượng thanh tra cũng là cơ sở để xác định danh tính chủ thể bị thanh tra, thể hiện ý chí yêu cầu của nhà nước để chủ thể đó chấp nhận hoạt động thanh tra. Nội dung thanh tra là những lĩnh vực đoàn thanh tra sẽ điều tra cũng như hoạt động để tìm ra kết quả trong các cuộc điều tra đó. Nó được người có thẩm quyền ra quyết định thanh tra ấn định (cơ sở pháp lý: khoản 2 điều 43, khoản 1 điều 51 luật Thanh tra 2010) dựa trên phát hiện sai phạm từ đối tượng thanh tra. Nội dung thanh tra phải nói được cụ thể hướng hoạt động thanh tra của đoàn thanh tra để từ đó cho đối tượng thanh tra thấy họ sẽ bị thanh tra ở các sai phạm nào. Nhiệm vụ thanh tra là yêu cầu đặt ra do trưởng đoàn thanh tra thay mặt cho cơ quan thanh tra yêu cầu đoàn thanh tra thực hiện và đối tượng thanh tra có nghĩa vụ phải chấp nhận và phối hợp thực hiện nhiệm vụ thanh tra ấy. Nhiệm vụ thanh tra có vai trò như là yêu cầu trách nhiệm, cam kết trách nhiệm của đoàn thanh tra với thủ trưởng cơ quan thanh tra và có tác dụng như thể một yếu tố dẫn đến việc tạo ra thành quả trong quá trình thanh tra.

Thời hạn thanh tra: Đối với thanh tra hành chính thời hạn thanh tra được quy định tại khoản 1 điều 45 Luật Thanh tra, và đối với thanh tra chuyên ngành được quy định tại khoản 1 điều 16 nghị định số: 07/2012/NĐ-CP quy định về cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành và hoạt động chức năng thanh tra chuyên ngành. Theo đó cuộc thanh tra của cơ quan thanh tra có thẩm quyền càng cao thì thời gian thanh tra càng dài, kể cả thời gian kéo dài do cuộc thanh tra là trường hợp phức tạp hoặc nguyên nhân khác.

Trưởng đoàn thanh tra, Thanh tra viên và các thành viên khác của đoàn thanh tra: Yếu tố này chỉ nhằm giới thiệu thành viên của đoàn thanh tra cho đối tượng thanh tra, cũng như điểm danh, xác định vị trí làm việc của từng người một trong đoàn thanh tra đối với người có thẩm quyền ra quyết định thanh tra.

5.  Xử lý và chỉ đạo thực hiện kết luận thanh tra như thế nào

Đây là bước cuối cùng trong một cuộc thanh tra và giải quyết thanh tra. Theo quy định của pháp luật, thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp với cơ quan thanh tra hoặc thủ trưởng cơ quan được giao chức năng thực hiện thanh tra chuyên ngành có trách nhiệm thực hiện bản kết luận thanh tra. Quy định này xuất phát từ bản chất của việc cơ quan thanh tra chỉ là cơ quan có chức năng nhiệm vụ thanh tra sai phạm là chính chứ không phải là xử lý vi phạm là chính, mà đó là chức năng thuộc thẩm quyền của bản thân một cơ quan khi có người trong cơ quan bị xử lý vi phạm hoặc đa số hơn trong nhà nước là thuộc về cơ quan hành pháp nơi có nhiều công việc, nhiều vi phạm nhất và thẩm quyền xử lý vi phạm của cản bộ, công chức, viên chức cũng đặt lên hàng đầu. Tựu chung, quy định cũng chỉ nhằm tránh chồng chéo thẩm quyền. Tuy nhiên, nếu giao việc thực hiện kết luận thanh tra cho chính cơ quan quản lý nhà nước đó hoặc cơ quan thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành làm việc thì đôi khi dễ gây ra tình trạng vừa “đá bóng vừa thổi còi”. Tại khoản 2 điều 40 Luật Thanh tra 2010 cũng về vấn đề này luật có quy định trách nhiệm thi hành bản kết luận của người đứng đầu cơ quan đó nếu không xử lý, xử lý không đầy đủ kết luận thanh tra. Tuy nhiên thực tiễn phức tạp hơn rất nhiều so với quy định của luật. Tình trạng hối lộ, trù dập, đe doạ hay uy hiếp, mua chuộc đoàn thanh tra vẫn diễn ra, ảnh hưởng đến kết luận thanh tra. Nếu trong quá trình thực hiện công tác thanh tra đoàn thanh tra thông thường bị mua chuộc bởi tiền hối lộ hoặc sức ép quyền lực của quan chức cấp cao thì sẽ không tận tâm thực hiện công việc. Khi đó việc thực hiện kết luận thanh tra chỉ còn trên hình thức. 

Trên đây là tư vấn của chúng tôi.  Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900 6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Dân sự - Công ty luật Minh Khuê