1. Học việc trước khi thử việc cho được nhận lương không ?

Thưa luật sư! Em có một câu hỏi nhờ luật sư tư vấn giúp! Em được nhận thỏa thuận vào làm việc ở một công ty tư nhân về môi trường. Em làm trong phòng thí nghiệm phân tích một số chỉ tiêu của nước. Lúc đầu chị phó giám đốc công ty trao đổi với em, em sẽ học việc 1 tuần, sau đó công ty sẽ kí hợp đồng thử việc với em. Chị nói lương chính thức của công việc này là 4.500.000đ + 400.000đ tiề phụ cấp cơm trưa. Còn thử việc là 4000.000đ. Lúc trao đổi em có hỏi chị học việc có được nhận lương hay không.
Chị nói là có. Tuy nhiên sau khi hết 1 tuần học việc, em làm thêm 1 tuần nữa (tuần này được gọi là tuần bắt đầu thử việc). Em làm tuần thứ 2 mà không ai cho em kí hợp đồng thử việc hết, công việc không hợp nên hết tuần 2 em xin nghỉ luôn. Em có hỏi lương 2 tuần làm việc của em nhưng công ty đó bảo không trả vì nói là em nghỉ ngang. Trong quá trình làm việc 2 tuần đó em có phân tích được một số mẫu nước, có nhập kết quả vào máy nội bộ công ty. Chị đó còn nói công ty không trả lương để cho những người vô công ty rồi nghỉ như em thôi không làm thế ?
Luật sư cho em hỏi như vậy có đúng luật không ạ! Em cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn luật lao động trực tuyến, gọi:1900.6162

Trả lời

Thứ nhất về thỏa thuận giữa bạn và phó giảm đốc về việc học việc, pháp luật không quy định về quá trình học việc hay thực chất là làm quen với công việc như bạn đã thỏa thuận, học việc là quá trình đào tạo trong một khoảng thời gian nhất định qua đó người lao động được học tập, nâng cao tay nghề và trong thời gian học việc người sử dụng lao động cũng phải ký hợp đồng học việc bằng văn bản với người lao động, tuy nhiên quá trình bạn làm việc tuần đầu tiên theo thỏa thuận lại không coi là thời gian thử việc do bạn và phó giám đốc không có thỏa thuận. Việc phó giám đốc nói với bạn thời gian này được hưởng lương nhưng bạn lại không được trả, bạn có thể khiếu nại với công ty về hành vi của phó giám đốc.

Thứ hai về thỏa thuận giữa bạn và phó giám đốc về việc thử việc, pháp luật không bắt buộc giữa hai bên phải ký kết hợp đồng thử việc bằng văn bản, tuy nhiên hai bên đã có thỏa thuận về việc thử việc này nên những thỏa thuận giữa hai bên được coi là hợp đồng bằng miệng và phát sinh hiệu lực kể từ khi hai bên thỏa thuận. Việc công ty không thực hiện trả lương cho bạn có thể đã vi phạm quy định tại khoản c điều 6 Nghị định 88/2015/NĐ-CP:

Điều 6. Vi phạm quy định về thử việc

1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động khi có một trong các hành vi sau đây:

a) Yêu cầu thử việc đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ;

b) Không thông báo kết quả công việc người lao động đã làm thử theo quy định của pháp luật.

2. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với người sử dụng lao động có một trong các hành vi sau đây:

a) Yêu cầu người lao động thử việc quá 01 lần đối với một công việc;

b) Thử việc quá thời gian quy định;

c) Trả lương cho người lao động trong thời gian thử việc thấp hơn 85% mức lương của công việc đó;

d) Kết thúc thời gian thử việc, người lao động vẫn tiếp tục làm việc mà người sử dụng lao động không giao kết hợp đồng lao động với người lao động.

3. Biện pháp khắc phục hậu quả:

Buộc trả đủ 100% tiền lương của công việc đó cho người lao động đối với hành vi vi phạm quy định tại Điểm a Khoản 1, Điểm a, Điểm b và Điểm c Khoản 2 Điều này

Trên đây là quy định pháp luật chúng tôi đưa ra để bạn tham khảo để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Bạn có thể trao đổi lại với công ty hoặc nhờ cơ quan có thẩm quyền - Ủy ban nhân dân hoặc thanh tra lao động để xử phạt công ty trong trường hợp xác đinh có hành vi vi phạm thật sự.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

2. Bồi thường thiệt hại của hợp đồng thử việc như thế nào ?

Kính Gửi : Luật Sư Minh Khuê: Em có kí *hợp đồng thử việc* với chức vụ Quản Lý Bán Hàng (8h/ ngày) tại Công Ty được 2 tháng. Sau 2 tháng, em xin nghỉ việc, vì ở Cửa Hàng không có an ninh, camera không có, hệ thống chống trộm không có, hàng hóa tự ý cho về, không thể sắp xếp được.
Sau khi kết thúc hợp đồng THỬ VIỆC ngày 29/01/2016 ( em kí ngày 30/11/2015 ). Em xin thôi việc, lúc này Công Ty không cho, còn nói đã làm qua 29/01/2016 là công ty tự động gia hạn, nhưng theo em biết, nếu vậy thì trước 1 tuần hết hợp đồng công ty phải cho em biết kết quả thử việc ra sao, có tiếp tục không. Công ty im lặng đến khi em nghỉ việc thì không cho, và yêu cầu làm thêm 16 ngày nữa, để bàn giao công viêc, dù đã có người thế vị trí Quản Lý. Ngày 16/02/2016 người Công Ty xuống kiểm thì mất 32 món hàng. Ngày 15/03/2016 báo tổng hàng mất là 14 triệu 500 ngàn đồng. và yêu cầu em xác nhận mail để bồi thường, em không xác nhận cũng xem như là em đồng ý.
Em thấy không hợp lý, vì khi em tiếp nhận Cửa Hàng thì giao là người của Công Ty kiểm hàng chứ không phải bản thân em, lúc kiểm hàng có hành vi gian lận do nhân viên cũ, em không biết là ai, nhưng khi kiểm gần xong công ty mới báo, và lờ đi, không kiểm lại lần 2, và bắt em ký xác nhận vô , dù em không đứng ra kiểm, lúc giao trả Cửa Hàng để nghỉ việc cũng vậy, người Công Ty xuống kiểm, rồi báo mất 32 món, lại tiếp tục bắt em ký, Sau 1 tháng ( 15/03/2016 ) báo tổng đền bù là 14 triệu 500 ngàn đồng và nói là do nhân viên lấy. Họ có trả em 10 ngày lương làm thêm, và giam lại 6 ngày, nhưng 10 ngày lương họ trả họ* tính theo lương thử việc* ( tức là 2 tháng trả lương thử việc và họ trả thêm 10 ngày lương thử việc khi bắt em ở lại làm thêm, giam lại phần còn lại ) Em thấy sự việc có nhiều khúc mắt xin nhờ luật sư tư vấn dùm em. Em có phải bồi thường thiệt hại không?
Vì khi em đã hết hợp đồng thử việc và công ty không chứng minh được là tại sao mất hàng, cũng như khi giao hàng ký nhận bàn giao là đã ngoài thời gian của hợp đồng Thử Việc.
Xin chân thành cảm ơn luật sư!

>> Luật sư tư vấn trực tiếp về pháp luật lao động, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Thứ nhất, về việc bạn có phải bồi thường thiệt hại hay không mặc dù đã ngoài thời gian thử việc ?

Trước hết, giữa bạn và công ty có giao kết hợp đồng thử việc. Theo Điều 26 Bộ luật lao động năm 2012:

Điều 26. Thử việc

1. Người sử dụng lao động và người lao động có thể thoả thuận về việc làm thử, quyền, nghĩa vụ của hai bên trong thời gian thử việc. Nếu có thoả thuận về việc làm thử thì các bên có thể giao kết hợp đồng thử việc.

Nội dung của hợp đồng thử việc gồm các nội dung quy định tại các điểm a, b, c, d, đ, g và h khoản 1 Điều 23 của Bộ luật này.

2. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động mùa vụ thì không phải thử việc.

về thời gian thử việc thì Thời gian thử việc căn cứ vào tính chất và mức độ phức tạp của công việc nhưng chỉ được thử việc 01 lần đối với một công việc và bảo đảm các điều kiện sau đây:

1. Không quá 60 ngày đối với công việc có chức danh nghề cần trình độ chuyên môn, kỹ thuật từ cao đẳng trở lên;

2. Không quá 30 ngày đối với công việc có chức danh nghề cần trình độ chuyên môn kỹ thuật trung cấp nghề, trung cấp chuyên nghiệp, công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ.

3. Không quá 6 ngày làm việc đối với công việc khác.

Như vậy, khi hết hợp đồng thử việc nhưng bạn và công ty vẫn chưa giao kết hợp đồng lao động vì vậy vẫn chưa phát sinh quan hệ lao động. Tới ngày 29/1/2016 bạn viết đơn xin nghỉ . Như vây hợp đồng lao động của bạn không mặc nhiên coi là hợp đồng chính thức được. Vì vậy bạn có thể nghỉ việc mà không cần phải báo trước 30 ngày.

Ngoài ra, theo điều 29 BLLĐ năm 2012:

"Điều 29. Kết thúc thời gian thử việc

1. Khi việc làm thử đạt yêu cầu thì người sử dụng lao động phải giao kết hợp đồng lao động với người lao động.

2. Trong thời gian thử việc, mỗi bên có quyền huỷ bỏ thoả thuận thử việc mà không cần báo trước và không phải bồi thường nếu việc làm thử không đạt yêu cầu mà hai bên đã thoả thuận.

Chính phủ ban hành Nghị định 05/2015/NĐ-CP hướng dẫn thi hành một số nội dung Bộ luật Lao động quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số nội dung của Bộ luật Lao động cụ thể tại điều 7

Điều 7. Thông báo kết quả về việc làm thử

1. Trong thời hạn 03 ngày trước khi kết thúc thời gian thử việc đối với người lao động làm công việc có thời gian thử việc quy định tại Khoản 1 và 2 Điều 27 của Bộ luật Lao động, người sử dụng lao động phải thông báo cho người lao động kết quả công việc người lao động đã làm thử; trường hợp công việc làm thử đạt yêu cầu thì khi kết thúc thời gian thử việc, người sử dụng lao động phải giao kết ngay hợp đồng lao động với người lao động.

Như vậy, trong thời hạn 03 ngày trước khi kết thúc thời gian thử việc, công ty bạn phải thông báo cho bạn về kết quả công việc mà bạn đã làm thử, trường hợp công việc làm thử đạt yêu cầu thì khi kết thúc thời gian thử việc, công ty phải giao kết ngay hợp đồng lao động với người lao động.

Tuy nhiên, bạn đã xin nghỉ, điều này là đúng luật vì "mỗi bên có quyền huỷ bỏ thoả thuận thử việc mà không cần báo trước và không phải bồi thường nếu việc làm thử không đạt yêu cầu mà hai bên đã thoả thuận". Còn về phía công ty không thông báo về kết quả thử việc, yêu cầu bạn làm thêm 16 ngày nữa là trái quy định của pháp luật

Vì bạn và công ty không ký một hợp đồng lao động mới nên giữa hai người sẽ tồn tại mối quan hệ dân sự. Theo công ty bạn có đày đủ căn cứ chứng minh hành vi của bạn thì công ty sẽ có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại theo Điều 260 Bộ luật dân sự năm 2005:

"Điều 260. Quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại

Chủ sở hữu, người chiếm hữu hợp pháp có quyền yêu cầu người có hành vi xâm phạm quyền sở hữu, quyền chiếm hữu của mình bồi thường thiệt hại

Như vậy, nếu công ty có đầy đủ chứng cứ thì công ty hoàn toàn có quyền yêu cầu bạn phải bồi thường thiệt hại. Còn nếu chưa đủ chứng cứ thì bạn sẽ không phải bồi thường

Thứ hai, vấn đề công ty đã giam bạn

Hành vi này là trái pháp luật. Công ty đã vi pham quyền cơ bản của bạn đó là quyền tự do đi lại quy định trong Hiến pháp

Đối với hình thức tạm giam thì chỉ có những người có thẩm quyền mới được tiến hành theo quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003:

"Điều 88. Tạm giam

1. Tạm giam có thể được áp dụng đối với bị can, bị cáo trong những trường hợp sau đây:

a) Bị can, bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng; phạm tội rất nghiêm trọng;

b) Bị can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng, phạm tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù trên hai năm và có căn cứ cho rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội.

2. Đối với bị can, bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới ba mươi sáu tháng tuổi, là người già yếu, người bị bệnh nặng mà nơi cư trú rõ ràng thì không tạm giam mà áp dụng biện pháp ngăn chặn khác, trừ những trường hợp sau đây:

a) Bị can, bị cáo bỏ trốn và bị bắt theo lệnh truy nã;

b) Bị can, bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn khác nhưng tiếp tục phạm tội hoặc cố ý gây cản trở nghiêm trọng đến việc điều tra, truy tố, xét xử;

c) Bị can, bị cáo phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia và có đủ căn cứ cho rằng nếu không tạm giam đối với họ thì sẽ gây nguy hại đến an ninh quốc gia.

3. Những người có thẩm quyền ra lệnh bắt được quy định tại Điều 80 của Bộ luật này có quyền ra lệnh tạm giam. Lệnh tạm giam của những người được quy định tại điểm d khoản 1 Điều 80 của Bộ luật này phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành. Trong thời hạn ba ngày, kể từ ngày nhận được lệnh tạm giam, đề nghị xét phê chuẩn và hồ sơ, tài liệu liên quan đến việc tạm giam, Viện kiểm sát phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn. Viện kiểm sát phải hoàn trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra ngay sau khi kết thúc việc xét phê chuẩn.

4. Cơ quan ra lệnh tạm giam phải kiểm tra căn cước của người bị tạm giam và thông báo ngay cho gia đình người bị tạm giam và cho chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi người bị tạm giam cư trú hoặc làm việc biết"

Như vậy, công ty bạn không được phép giam bạn, bạn có thể khởi kiện để có thể bảo vệ quyền lợi chính đáng cho mình
2. Khi kết thúc thời gian thử việc đối với người lao động làm công việc có thời gian thử việc quy định tại Khoản 3 Điều 27 của Bộ luật Lao động, người sử dụng lao động phải thông báo cho người lao động kết quả công việc người lao động đã làm thử; trường hợp công việc làm thử đạt yêu cầu thì người sử dụng lao động phải giao kết ngay hợp đồng lao động với người lao động.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

3. Tư vấn về vấn đề ký kết hợp đồng lao động sau khi thử việc ?

Thưa Luật sư, tôi có câu hỏi muốn được giải đáp: Tôi làm việc tại công ty từ 22/6/2015. Thỏa thuận thử việc 2 tháng, do Sếp di công tác nên hết hạn thử việc vẫn chưa tiến hành làm hợp đồng. Đến tháng thứ 3, tôi hỏi thì được Giám đốc trả lời sẽ đóng làm hợp đồng và đóng bảo hiểm như luật. Thế là tôi vẫn đợi và làm việc. Cho tới tháng 10/2015 tôi được thông tin chưa đóng bh cho tôi.
Tôi liền hỏi GĐ thì được trả lời do gặp trục trặc trong thủ tục nên chưa tham gia được vào T9/2015 và hứa chắc chắn sẽ đóng bh từ T10. Tôi cứ tự tin làm việc mãi đến T3/2016, GĐ cho tôi thôi việc nhưng chỉ thông báo bằng miệng cho tôi từ ngày 8/3/2016 và hứa sẽ lương cho tới khi tôi có việc làm. Đến ngày 14/3/2016 tôi có việc làm và đã bàn giao công việc và viết đơn thôi việc kể từ ngày 14/3/2016. Lúc này tôi nhận được thông tin bh của tôi vẫn chưa tham gia. Đến ngày 1/4/2016, tôi nhận tin nhắn thanh toán tiền lương cho những ngày làm việc ( đến ngày 9/3/2016 trong khi tôi chính thức viết đơn xin nghĩ từ ngày 14/3 ) và tiền bảo hiểm ( tính theo mức 3.250.000 cho 5 tháng ). Tôi thấy bất hợp lý và đã phản hồi lại qua tin nhắn cách tính đã sai, tôi yêu cầu công ty tính lại. Họ không chấp nhận và nói càng không có hợp đồng mà đòi hưởng chế độ gì? Rất mong quý công ty cho tôi các giải đáp vấn đề sau:
1/ lương tháng 3/2016 như thế nào?( ngày 12,13 tôi nghĩ phép vẫn hưởng lương như thỏa thuận trả lương đến khi có việc ) ?
2/ tiền bảo hiểm tính theo mức đóng tối thiểu 2016 đúng không? Và tính từ thời điểm tháng 9 đến tháng 3/2016 hay từ tháng 10 đến tháng 2/2016?
3/ hợp đồng công ty không ký ( mặc dù tôi đã nhắc 2 lần ) thì xử lý như thế nào ?
4/ công ty có vi phạm thời gian báo trước cho thôi việc hay không? ( không có hợp đồng nên không có căn cứ tính ) 5/ trường hợp thỏa thuận không xong thì tôi cần chuẩn bị những giấy tờ gì và tố tụng ở những cơ quan nào ?
Rất mong nhận được phản hồi sớm từ luật sư. Chân thành cảm ơn!!

Tư vấn thủ tục xin nghỉ việc trong thời gian đang thử việc tại công ty nước ngoài ?

Luật sư tư vấn pháp luật lao động trực tuyến gọi: 1900.6162

Trả lời:

1. Tiền lương tháng 3/ 2016

Căn cứ theo quy định của pháp luật, cụ thể là khoản 5 Điều 42 Bộ luật lao động 2012 thì: " Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước." Nhưng trong trường hợp của bạn, bạn không ký kết hợp đồng lao động nên không thể xác định thời hạn báo trước là bao nhiêu ngày. Thứ hai, thỏa thuận của bạn và công ty là bằng miệng, cho nên nếu có thỏa thuận mà bên công ty không thực hiện thì cũng không căn cứ để đòi lại quyền lợi cho bạn.

2. Mức đóng bảo hiểm được tính từ thời điểm bạn tham gia hợp đồng lao động tức là từ năm 2015, tức là từ tháng 9/ 2015 đến tháng 3/ 2016. Nhưng bạn không ký kết hợp đồng lao động nên người sử dụng lao động phải chi trả số tiền đóng bảo hiểm cho bạn vào tiền lương căn cứ theo khoản 3 Điều 186 Bộ luật lao động 2012: " Đối với người lao động không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp thì ngoài việc trả lương theo công việc, người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả thêm cùng lúc với kỳ trả lương của người lao động một khoản tiền cho người lao động tương đương với mức đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp và tiền nghỉ phép hằng năm theo quy định."

3. Theo Điều 18 Bộ luật Lao động 2012 quy định về nghĩa vụ giao kết hợp đồng lao động như sau:

“1. Trước khi nhận người lao động vào làm việc, người sử dụng lao động và người lao động phải trực tiếp giao kết hợp đồng lao động.

Trong trường hợp người lao động từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi, thì việc giao kết hợp đồng lao động phải được sự đồng ý của người đại diện theo pháp luật của người lao động.

2. Đối với công việc theo mùa vụ, công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng thì nhóm người lao động có thể ủy quyền cho một người lao động trong nhóm để giao kết hợp đồng lao động bằng văn bản; trường hợp này hợp đồng lao động có hiệu lực như giao kết với từng người”.

Đồng thời tại Điều 2 Luật bảo hiểm xã hội 2014 quy định như sau:

1. Người lao động là công dân Việt Nam thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bao gồm:

a) Người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng, kể cả hợp đồng lao động được ký kết giữa người sử dụng lao động với người đại diện theo pháp luật của người dưới 15 tuổi theo quy định của pháp luật về lao động;

b) Người làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng đến dưới 03 tháng;

c) Cán bộ, công chức, viên chức;

d) Công nhân quốc phòng, công nhân công an, người làm công tác khác trong tổ chức cơ yếu;

đ) Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật công an nhân dân; người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân;

e) Hạ sĩ quan, chiến sĩ quân đội nhân dân; hạ sĩ quan, chiến sĩ công an nhân dân phục vụ có thời hạn; học viên quân đội, công an, cơ yếu đang theo học được hưởng sinh hoạt phí;

g) Người đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng quy định tại Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng;

h) Người quản lý doanh nghiệp, người quản lý điều hành hợp tác xã có hưởng tiền lương;

i) Người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn.

2. Người lao động là công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam có giấy phép lao động hoặc chứng chỉ hành nghề hoặc giấy phép hành nghề do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp được tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo quy định của Chính phủ.

3. Người sử dụng lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc bao gồm cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp, đơn vị vũ trang nhân dân; tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội khác; cơ quan, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam; doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể, tổ hợp tác, tổ chức khác và cá nhân có thuê mướn, sử dụng lao động theo hợp đồng lao động.

4. Người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện là công dân Việt Nam từ đủ 15 tuổi trở lên và không thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều này.

5. Cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến bảo hiểm xã hội.

Các đối tượng quy định tại các khoản 1, 2 và 4 Điều này sau đây gọi chung là người lao động.

Trong trường hợp của bạn, công ty đã vi phạm pháp luật về lao động và bảo hiểm xã hội. Bạn có thể yêu cầu với lãnh đạo công ty thực hiện các thủ tục ký kết hợp đồng lao động và đóng bảo hiểm xã hội cho mình. Trong trường hợp công ty này từ chối, bạn có quyền làm đơn khiếu nại đến Phòng Lao động - thương binh và xã hội cấp quận/huyện nơi công ty đóng trụ sở để nhờ can thiệp hoặc khởi kiện ra tòa án nhân dân có thẩm quyền để được giải quyết.

4. Do công ty và bạn không ký kết hợp đồng nên không có căn cứ xác định số ngày mà công ty vi phạm nghĩa vụ báo trước.

5. Trong trường hợp thỏa thuận không thành, bạn có quyền làm đơn khiếu nại đến Phòng lao động - thương binh và hội cấp huyện/ quận nơi công ty đóng trụ sở theo trình tự thủ tục quy định tại Luật khiếu nại 2011.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

4. Tư vấn thủ tục xin nghỉ việc trong thời gian đang thử việc tại công ty nước ngoài ?

Chào anh. Anh có thể tư vấn cho em vến đề này không: tháng 8/ 2015 em có làm một công ty nc ngòai,thời gian thử việc là một tháng. Em làm ở công ty được 10 ngày. Vì gia dình có chuyện em gọi điện xin nghi một tuần ở quê , vi gia dình co chuyện em ko thể tiếp tục công việc.
Em xuống công ty xin nghỉ, tổ trưởng cũng giải quyết cho nghi,ma giờ xếp tổng nói không giai quyết lương cho em. Anh co thể tư vấn cho em trong thời gian thư việc nghỉ nghỉ vậy có đúng quy định không, làm sao co thể lấy lai lương cho em được ?
Cảm ơn luật sư!

Luật sư trả lời:

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến công ty Luật Minh Khuê, chúng tôi giải đáp thắc mắc của bạn như sau:

Căn cứ Điều 29 Bộ luật lao động năm 2012 có quy định:

1. Khi việc làm thử đạt yêu cầu thì người sử dụng lao động phải giao kết hợp đồng lao động với người lao động.

2. Trong thời gian thử việc, mỗi bên có quyền huỷ bỏ thoả thuận thử việc mà không cần báo trước và không phải bồi thường nếu việc làm thử không đạt yêu cầu mà hai bên đã thoả thuận.

Theo căn cứ trên, bạn có quyền hủy bỏ thỏa thuận thử việc mà không cần báo trước và hoàn toàn không cần phải bồi thường. Theo đó, tiền lương trong thời gian thử việc do hai bên thỏa thuận nhưng ít nhất phải bằng 85% mức lương của công việc đó.

Ngoài ra, Điều 47 Bộ luật lao động năm 2012 cũng quy định về vấn đề trách nhiệm của người sử dụng lao động khi chấp dứt hợp đồng lao động như sau:

1. Ít nhất 15 ngày trước ngày hợp đồng lao động xác định thời hạn hết hạn, người sử dụng lao động phải thông báo bằng văn bản cho người lao động biết thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động.

2. Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên; trường hợp đặc biệt, có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày.

3. Người sử dụng lao động có trách nhiệm hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại sổ bảo hiểm xã hội và những giấy tờ khác mà người sử dụng lao động đã giữ lại của người lao động.

4. Trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị chấm dứt hoạt động, bị giải thể, phá sản thì tiền lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và các quyền lợi khác của người lao động theo thoả ước lao động tập thể và hợp đồng lao động đã ký kết được ưu tiên thanh toán.

Như vậy, công ty mà bạn thử việc có trách nhiệm phải hoàn trả lương và các khoản có liên quan đến quyền lợi của bạn trong thời gian mà luật quy định.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi số: 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng./.

5. Tư vấn về số lần tối đa thử việc cho một vị trí công việc ?

Thưa luật sư, Tôi đã làm ở một công ty được 3 năm và trước khi ký kết hợp đồng lao động tôi đã có thời gian thử việc tại công ty này. Sau đó tôi đã nghỉ việc tại công ty này. Nhưng hiện nay tôi lại muốn vào công ty để tiếp tục làm công việc như cũ tại công ty đó. Tôi không biết liệu tôi có phải thử việc nữa không vì trước đây tôi đã có thời gian thử việc đối với công việc này rồi ?
Tôi xin chân thành cảm ơn
Người gửi: B.T.T

>> Tổng đài tư vấn pháp luật lao động: 1900.6162

Trả lời:

Điều 27 Bộ luật lao động 2012 quy định về thử việc như sau:

"Điều 27. Thời gian thử việc

Thời gian thử việc căn cứ vào tính chất và mức độ phức tạp của công việc nhưng chỉ được thử việc 01 lần đối với một công việc và bảo đảm các điều kiện sau đây:

1. Không quá 60 ngày đối với công việc có chức danh nghề cần trình độ chuyên môn, kỹ thuật từ cao đẳng trở lên;

2. Không quá 30 ngày đối với công việc có chức danh nghề cần trình độ chuyên môn kỹ thuật trung cấp nghề, trung cấp chuyên nghiệp, công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ.

3. Không quá 6 ngày làm việc đối với công việc khác."

Theo như quy định trên thì đối với một công việc sẽ không thể được thử việc nhiều lần mà chỉ được thử việc một lần đối với 1 công việc

Như vậy, bạn sẽ không phải bắt buộc tiến hành thử việc lại đối với công việc mà bạn đã làm trước đây.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật lao động - Công ty luật Minh Khuê