1. Hỏi đáp về phân chia tài sản sau khi ly hôn?

Kính chào Luật Minh Khuê, tôi có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Tôi có hai mảnh đất, tôi nhờ anh trai tôi mua hộ từ lúc chưa lấy chồng và mang tên anh trai tôi, và sau khi lấy chồng thì tôi làm sổ đỏ mang tên anh trai tôi và tôi. Vậy sau khi ly hôn thì chồng tôi có được một phần trong số tài sản riêng của tôi không? Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: V.T.L

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Về hai mảnh đất mà anh trai bạn mua hộ bạn là tài sản bạn có trước thời kỳ hôn nhân. Mặt khác, tài sản chỉ đứng tên bạn và anh trai bạn. Vì vậy đây được coi là tài sản riêng của bạn theo khoản 1 Điều 43 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014:

"Điều 43. Tài sản riêng của vợ, chồng

1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng."

Theo đó qui định tại Điều 44 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 tài sản riêng sau khi ly hôn sẽ được chiếm hữu, sử dụng, định đoạt như sau:

"Điều 44. Chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng

1. Vợ, chồng có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản riêng của mình; nhập hoặc không nhập tài sản riêng vào tài sản chung.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng không thể tự mình quản lý tài sản riêng và cũng không ủy quyền cho người khác quản lý thì bên kia có quyền quản lý tài sản đó. Việc quản lý tài sản phải bảo đảm lợi ích của người có tài sản.

3. Nghĩa vụ riêng về tài sản của mỗi người được thanh toán từ tài sản riêng của người đó.

4. Trong trường hợp vợ, chồng có tài sản riêng mà hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng đó là nguồn sống duy nhất của gia đình thì việc định đoạt tài sản này phải có sự đồng ý của chồng, vợ."

Như vậy, trong trường hợp này chồng bạn sẽ không được hưởng quyền lợi gì đối với hai mảnh đất đứng tên anh trai bạn và bạn mà bạn có trước hôn nhân. Trừ trường hợp bạn nhập số tài sản đó vào khối tài sản chung của vợ chồng bạn thì lúc này hai mảnh đất bạn có sẽ được coi là tài sản chung giữa hai bạn và được chia theo nguyên tắc chia tài sản chung được pháp luật quy định.

2. Căn cứ pháp lý phân chia tài sản khi ly hôn?

Luật Minh Khuê tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình hiện hành về những quy định pháp lý như ly hôn, phân chia tài sản chung/tài sản riêng và quyền nuôi con, ly hôn đơn phương lý do hai vợ chồng không tìm được tiếng nói chung và có hai con chung bé lớn 5 tuổi, bé thứ hai được hơn 2 tuổi; Tài sản có nhà đất mua trong quá trình hôn nhân; Hai vợ chồng không thỏa thuận được về việc phân chia tài sản, vợ bị trầm cảm. Hỏi:

- Có ly hôn được hay không?

- Hồ sơ, thủ tục cần chuẩn bị để giải quyết vụ ly hôn?

- Có được quyền nuôi con hay không? Và những giấy tờ tài liệu để chứng minh có đủ điều kiện để nuôi con?

Cảm ơn luật sư!

Trả lời:

Căn cứ trên các thông tin, tài liệu mà khách hàng cung cấp và trên cơ sở các văn bản pháp luật hiện hành, chúng tôi xin tư vấn như sau:

2.1. Có đủ căn cứ để ly hôn được không?

Theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

"Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia."

Trong trường hợp của anh, nếu anh có chứng cứ, tài liệu chứng minh quan hệ vợ chồng thuộc quy định tại Điều 56 của nói trên thì tòa án sẽ có căn cứ xem xét cho hai vợ chồng ly hôn.

2.2. Thẩm quyền giải quyết vụ án ly hôn

Căn cứ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định về thẩm quyền của Tòa án như sau:

"Điều 28. Những tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án

1. Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn; chia tài sản sau khi ly hôn…"

"Điều 35. Thẩm quyền của tòa án nhân dân cấp huyện

1. Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp sau đây:

a) Tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình quy định tại Điều 26 và Điều 28 của Bộ luật này, trừ tranh chấp quy định tại khoản 7 Điều 26 của Bộ luật này."

"Điều 39. Thẩm quyền của Toàn án theo lãnh thổ

1. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau:

a) Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các Điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;

b) Các đương sự có quyền tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 26, 28, 30 và 32 của Bộ luật này;…”

Như vậy, thẩm quyền giải quyết vụ án ly hôn đơn phương là Toà án nhân dân cấp huyện/quận nơi bị đơn đang cư trú trừ trường hợp hai bên có thỏa thuận khác.

2.3. Hồ sơ, giấy tờ cần chuẩn bị khi ly hôn?

- Giấy đăng ký kết hôn bản gốc (trường hợp không còn bản gốc thì bổ sung trích lục Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn);

- Bản sao công chứng CMND và Sổ hộ khẩu của hai vợ chồng;

- Giấy khai sinh bản sao công chứng/trích lục khai sinh của con;

- Các giấy tờ tài liệu chứng minh tài sản nếu có tranh chấp.

2.4. Về con cái nếu hai vợ chồng không thỏa thuận được thì sẽ giải quyết theo quy định của pháp luật

Theo quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn. Như thông tin khách hàng cung cấp, hiện nay vợ chồng anh chị có hai bé: Bé lớn được 5 tuổi, bé thứ hai được hơn 2 tuổi vì vậy nếu anh chị không thỏa thuận được việc nuôi con, thì bé thứ 2 sẽ do vợ anh, còn bé lớn sẽ do thỏa thuận của hai vợ chồng, trường hợp hai vợ chồng không thỏa thuận được thì tòa án sẽ căn cứ vào điều kiện thực tế của hai vợ chồng để quyết định quyền nuôi con. Trong trường hợp nếu vợ bạn có bị bệnh trầm cảm thì có thể làm căn cứ để tòa xem xét lại việc giao bé thứ hai cho vợ anh hay không, còn bé lớn thì tòa sẽ xem xét điều kiện, khả năng nuôi dưỡng con của hai vợ chồng để có căn cứ đưa ra quyết định cuối cùng.

2.5. Tài sản sẽ giải quyết như thế nào?

Căn cứ theo Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về nguyên tắc giải quyết tài sản của Vợ chồng khi ly hôn được thực hiện như sau:

- Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

+ Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

+Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

+ Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

+ Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

- Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

- Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

- Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Như vậy, việc phân chia tài sản sẽ do hai vợ chồng thỏa thuận. Trong trường hợp hai vợ chồng không thảo thuận được, thì theo yêu cầu của hai vợ chồng tòa án sẽ căn cứ vào những quy định của pháp luật để tiến hành phân chia.

3. Tư vấn về phân chia tài sản chung là nhà đất khi ly hôn?

Kính chào Luật Minh Khuê. Hiện tại, tôi có một vấn đề về kính nhờ luật Minh Khuê hỗ trợ giúp tôi. Ba mẹ tôi ly hôn khi tôi tròn một tuổi. Sau đó, 06 năm, bà kết hôn với người ba dượng hiện tại. Hai người đã ly thân 10 năm nay nhưng vẫn sống chung nhà.

Bây giờ, hai người muốn ly hôn, tài sản chung là căn nhà đang ở đứng tên hai người. Ba dượng đưa ra thỏa thuận là mẹ tôi đưa ông 300 triệu đồng thì ký giấy ly hôn và mẹ tôi được quyền giữ căn nhà. Trong trường hợp chúng tôi không đồng ý thỏa thuận đó và đưa ra tòa xét xử, mong luật sư tư vấn cho tôi một số vấn đề như sau:

1. Phần giá trị đất hiện tại theo giá thị trường là 600 triệu, vậy căn cứ định giá trị quyền sử dụng đất sẽ được xét theo giá quy định của nhà nước tại khu vực đó hay là giá buôn bán trên thị trường?

2. Căn nhà đang ở chỉ có giá trị quyền sử dụng đất, không có tài sản gắn liền trên đất, vì nhà tôi là nhà trệt, theo quy định tại khu vực đang sinh sống thì 1 trệt 1 lầu mới tính là tài sản gắn liền trên đất. Như vậy, khi ra tòa thì tòa phân xử giá trị để chia tài sản có tính đến phần giá trị nhà này hay không? Nếu có thì dựa vào căn cứ nào để định giá nhà để phân chia ạ?

3. Vấn đề thứ ba là khi chia tài sản tòa có xét đến yếu tố đóng góp vào phần tài sản không? Vì mấy chục năm nay chỉ có một mình mẹ tôi đi làm lo cho cả gia đình. Ba dượng không đi làm, bao nhiêu tiền bạc tiết kiệm hay dư từ việc bán nhà cũ mua nhà mới đều dồn cho ông làm ăn nhưng toàn thua lỗ.

4. Vấn đề thứ tư là vào năm 2008 khi chúng tôi xây nhà, nhà chỉ đứng tên mẹ và ba dượng tôi, nhưng khi đó tôi đã 26 tuổi, có tên trong hộ khẩu vậy tôi có được hưởng phần nào giá trị trong tài sản chung hay không? Hay chỉ có hai người đứng tên trên sổ đỏ được xem là chủ nhà đất?

Mong nhận được sự tư vấn của Luật sư, tôi xin trân trọng cảm ơn !

Tư vấn về phân chia tài sản chung là nhà đất khi ly hôn ?

Luật sư tư vấn luật Hôn nhân về chia tài sản chung, gọi:1900.6162

Trả lời:

Công ty luật Minh Khuê, hướng dẫn chia tài sản là bất động sản khi ly hôn. Căn cứ theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình 2014 có quy định như sau:

"Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.'

Như vậy, tài sản chung của vợ chồng là tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật Hôn nhân và gia đình 2014, tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

Quyền sở hữu chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng. Việc chia tài sản chung của hai vợ chồng dựa trên nguyên tắc quy định tại Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 đã được tư vấn chi tiết ở trên, bạn có thể tham khảo.

Với những nội dung khách hàng yêu cầu, căn cứ vào quy định pháp lý chúng tôi xin được trả lời như sau:

- Việc định giá tài sản sẽ căn cứ vào việc thỏa thuận của hai bên vợ chồng, nếu hai vợ chồng không thỏa thuận được việc phân chia, sẽ yêu cầu tòa án phân chia theo quy định. Việc định giá tài sản sẽ được thành lập hội đồng định giá và được xác định theo giá thị trường.

- Tài sản chung của hai vợ chồng là bao gồm bất động sản, và tài sản phát sinh trong quá trình hôn nhân. Nhà xây dựng trong thời kỳ hôn nhân vẫn được định giá để phân chia tài sản nếu có yêu cầu phân chia.

- Việc phân chia tài sản chung dựa theo nguyên tắc là tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây: Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng; Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập.

- Nhà chỉ đứng tên dượng và mẹ của bạn nên nguyên tắc chung là tài sản của hai vợ chồng của mẹ và dượng bạn, nên bạn không được chia trừ trường hợp bạn có đóng góp công sức và tài sản để tạo dựng lên khối tài sản đó.

4. Phân chia tài sản chung khi ly hôn như thế nào?

Xin chào công ty luật Minh Khuê. Sắp tới, tôi sắp ra tòa để ký đơn ly hôn, nhưng tôi có một số câu hỏi cần được sự tư vấn của các vị luật sư:

1. Chúng tôi có xây dựng một căn nhà trên phần đất của ông ngoại bán nhưng chưa thanh toán tiền đất, trị giá căn nhà xây là 230.000.000 VNĐ. Cho đến nay là 3 năm. Vợ chồng có được một đứa con. Bây giờ, vợ chồng ra tòa ly hôn, ông ngoại lấy lại đất. Và bên vợ yêu cầu chia đôi trị giá căn nhà 230.000.000 VNĐ có đúng không?

2. Người mẹ giao đứa con cho người cha nuôi dưỡng mà không yêu cầu cấp dưỡng từ người mẹ, vậy người con có được chia tài sản trong căn nhà này không?

3. Chúng tôi thấy căn nhà đã xuống cấp nên trị giá căn nhà cần được thẩm định lại giá, vậy cho tôi hỏi trong trường hợp này giá trị căn nhà khi thẩm định xong sẽ cao hơn hay thấp hơn so với giá trị ban đầu do bên vợ yêu cầu. Và chi phí cho việc yêu cầu thẩm định là bao nhiêu?

4. Nếu hai vợ chồng không thống nhất về trị giá căn nhà để phân chia tài sản thì trong trường hợp này sẽ do quý tòa thẩm định đùng không? Khi phân chia tài sản xong, bên vợ yêu cầu thanh toán một lần được không? Nếu có thể chúng tôi được yêu cầu thanh toán lại từng phần cho bên vợ không? Rất mong nhận được sự phản hồi của Quý luật sư.

Phân chia tài sản chung khi ly hôn

Trả lời:

- Về vấn đề chia tài sản là căn nhà:

Theo Điều 33 Luật hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 của Quốc hội quy định về tài sản chung của vợ chồng thì tài sản chung của vợ chồng là tài sản do vợ chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân, và căn nhà đó là tài sản được tạo ra từ tài sản chung của vợ chồng. Theo điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 thì tài sản này sẽ được phân chia do thỏa thuận của vợ chồng, nếu không thỏa thuận được hoặc thỏa thuận không rõ ràng thì tòa án sẽ chia theo nguyên tắc chia đôi nhưng có xét đến yếu tố hoàn cảnh, công sức đóng góp... của mỗi bên.

- Về việc chia tài sản cho con:

Khi ly hôn thì quan hệ vợ chồng sẽ chấm dứt theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Bên cạnh đó, ly hôn còn làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ và con sau ly hôn cũng như quyền tài sản của hai vợ chồng. Pháp Luật Hôn nhân và gia đình không quy định cha mẹ khi ly hôn phải chia tài sản cho con cái. Việc chia tài sản hay không chia tài sản cho con hoàn toàn thuộc quyền quyết định của cha, mẹ. Vì vậy, để chia tài sản cho con thì cha, mẹ có thể thỏa thuận về việc chia tài sản cho con.

Nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau ly hôn của cha, mẹ tại các Điều 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình 2014. Theo đó, người không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

- Về vấn đề thẩm định giá tài sản:

Theo quy định tại khoản 3 Điều 104 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định về định giá tài sản, thẩm định giá tài sản:

"3. Tòa án ra quyết định định giá tài sản và thành lập Hội đồng định giá khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Theo yêu cầu của một hoặc các bên đương sự;

b) Các đương sự không thỏa thuận lựa chọn tổ chức thẩm định giá tài sản hoặc đưa ra giá tài sản khác nhau hoặc không thỏa thuận được giá tài sản;

c) Các bên thoả thuận với nhau hoặc với tổ chức thẩm định giá tài sản theo mức giá thấp so với giá thị trường nơi có tài sản định giá tại thời điểm định giá nhằm trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước hoặc người thứ ba hoặc có căn cứ cho thấy tổ chức thẩm định giá tài sản đã vi phạm pháp luật khi thẩm định giá."

Theo quy định tại Điều 2 Thông tư liên tịch 02/2014/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP-BTC:

"Điều 2. Nguyên tắc định giá tài sản

1. Các bên đương sự tự thỏa thuận về việc xác định giá tài sản, lựa chọn tổ chức thẩm định giá tài sản để xác định giá trị tài sản. Nhà nước tôn trọng sự thỏa thuận của các bên đương sự về việc xác định giá tài sản, lựa chọn tổ chức thẩm định giá tài sản theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp các bên thoả thuận với nhau hoặc với tổ chức thẩm định giá theo mức giá thấp nhằm trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước.

2. Việc định giá tài sản được thực hiện dựa trên các tiêu chuẩn kỹ thuật, thực trạng của tài sản; phù hợp với giá thị trường nơi có tài sản tại thời điểm định giá.

3. Bảo đảm trung thực, khách quan, công khai, đúng quy định của pháp luật.

4. Giá tài sản được tính bằng đồng Việt Nam.

5. Trường hợp tài sản định giá không còn thì việc xác định giá căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ việc hoặc tham khảo giá của tài sản cùng loại hoặc tài sản có cùng tính năng, tiêu chuẩn kỹ thuật để xác định. Tài sản cùng loại, tài sản có cùng tính năng, tiêu chuẩn kỹ thuật được xác định theo quy định của pháp luật."

Như vậy, các bên có thể tự thỏa thuận về việc định giá tài sản, có thể bằng việc tự đưa ra giá, khi không tự thỏa thuận được thì có thể lựa chọn tổ chức thẩm định giá hoặc tòa án thực hiện thẩm định giá. Việc xác định giá tài sản dựa trên các tiêu chuẩn kỹ thuật, thực trạng của tài sản, phù hợp với giá thị trường nơi có tài sản tại thời điểm định giá nên giá tài sản khi đã được định giá có thể sẽ khác so với giá mà người vợ yêu cầu.

Khi tài sản đã được định giá thì giá trị của tài sản sẽ là căn cứ để chia tài sản cho mỗi bên vợ, chồng. Việc chia tài sản như đã nêu ở trên có thể do thỏa thuận của vợ chồng cho nên có thể thanh toán lại từng phần cho bên vợ.

- Về chi phí thẩm định giá:

+ Nếu việc định giá do tổ chức thực hiện:

Theo Điều 5, Điều 6 Thông tư liên tịch 02/2014/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP-BTC thủ tục định giá tài sản do tổ chức thực hiện như sau:

"Điều 5. Yêu cầu tổ chức thẩm định giá tài sản

1. Trường hợp các bên đương sự cùng yêu cầu Tòa án yêu cầu tổ chức thẩm định giá định giá tài sản thì phải nêu cụ thể tên tổ chức thẩm định giá đó. Trong thời hạn mười ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu của đương sự, Toà án gửi văn bản yêu cầu tổ chức thẩm định giá đó tiến hành thẩm định giá tài sản.

2. Trường hợp có đương sự yêu cầu Tòa án yêu cầu một tổ chức thẩm định giá tài sản tiến hành thẩm định giá, thì Tòa án phải thông báo bằng văn bản cho các đương sự khác trong vụ án dân sự biết. Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được văn bản thông báo của Toà án mà đương sự không có ý kiến hoặc có ý kiến đồng ý yêu cầu tổ chức thẩm định giá đó, thì Toà án gửi văn bản yêu cầu tổ chức thẩm định giá mà các đương sự đã yêu cầu tiến hành thẩm định giá tài sản. Trong trường hợp có đương sự không đồng ý về tổ chức thẩm định giá, thì các đương sự có quyền yêu cầu Toà án định giá tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 7 của Thông tư liên tịch này.

3. Trường hợp đương sự yêu cầu Tòa án yêu cầu tổ chức thẩm định giá tiến hành định giá tài sản đang tranh chấp theo khoản 1 và khoản 2 Điều này phải được thực hiện bằng văn bản, có chữ ký của người yêu cầu và giấy tờ, tài liệu chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ thẩm định giá theo quy định của pháp luật của tổ chức thẩm định giá đó. Đơn yêu cầu thực hiện theo Mẫu số 01 ban hành kèm theo Thông tư liên tịch này."

"Điều 6. Trình tự thực hiện yêu cầu tổ chức thẩm định giá tài sản tiến hành thẩm định giá tài sản theo yêu cầu của đương sự

1. Sau khi có đủ điều kiện ra văn bản yêu cầu tổ chức thẩm định giá tài sản tiến hành định giá tài sản theo quy định tại Điều 5 của Thông tư liên tịch này thì Toà án ban hành văn bản yêu cầu tổ chức thẩm định giá tiến hành thẩm định giá tài sản đang tranh chấp.

2. Ngay sau khi nhận được văn bản trả lời về việc đồng ý tiến hành định giá tài sản của tổ chức thẩm định giá, Tòa án phải thông báo cho các bên đương sự để tiến hành thủ tục theo yêu cầu của tổ chức thẩm định giá tài sản theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp tổ chức thẩm định giá từ chối thẩm định giá tài sản thì Tòa án thông báo cho đương sự biết để lựa chọn tổ chức thẩm định giá khác.

3. Việc tiến hành thủ tục thẩm định giá của tổ chức thẩm định giá được tiến hành theo quy định về pháp luật thẩm định giá tài sản.

4. Ngay sau khi có kết quả thẩm định giá, tổ chức thẩm định giá tài sản phải gửi kết quả thẩm định giá cho Toà án. Tòa án thông báo kết quả định giá cho các bên đương sự có liên quan đến việc định giá tài sản.

5. Kết quả thẩm định giá được coi là chứng cứ nếu việc thẩm định giá được tiến hành đúng theo quy định của pháp luật."

Về chi phí thẩm định giá trong trường hợp này sẽ do tổ chức thẩm định giá quy định. Theo Điều 11 Nghị định số 89/2013/NĐ-CP của Chính phủ : Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật giá về thẩm định giá:

"Điều 11. Giá dịch vụ thẩm định giá

1. Giá dịch vụ thẩm định giá thực hiện theo thỏa thuận giữa doanh nghiệp thẩm định giá với khách hàng thẩm định giá theo quy định tại Khoản 2, Khoản 3, Khoản 4 Điều này và được ghi trong hợp đồng thẩm định giá; trường hợp đấu thầu dịch vụ thẩm định giá thì thực hiện theo quy định của pháp luật về đấu thầu đối với gói thầu dịch vụ tư vấn.

2. Các căn cứ xác định giá dịch vụ thẩm định giá:

a) Nội dung, khối lượng, tính chất công việc và thời gian thực hiện thẩm định giá;

b) Chi phí kinh doanh thực tế hợp lý tương ứng với chất lượng dịch vụ gồm: Chi phí tiền lương, chi phí phát sinh trong quá trình khảo sát, thu thập, phân tích, xử lý thông tin; chi phí tài chính, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp và các chi phí khác theo quy định của pháp luật;

c) Chi phí mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp hoặc chi phí trích lập quỹ dự phòng rủi ro nghề nghiệp;

d) Lợi nhuận dự kiến (nếu có) đảm bảo giá dịch vụ thẩm định giá phù hợp mặt bằng giá dịch vụ thẩm định giá tương tự trên thị trường;

đ) Các nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật.

3. Căn cứ quy định tại Khoản 2 Điều này, doanh nghiệp thẩm định giá ban hành và thực hiện niêm yết biểu giá dịch vụ thẩm định giá của doanh nghiệp mình theo quy định tại Khoản 6 Điều 4, Khoản 5 Điều 12 của Luật giá bằng hình thức mức giá dịch vụ trọn gói, theo tỷ lệ phần trăm (%) của giá trị tài sản hoặc giá trị dự án cần thẩm định giá và hình thức khác do doanh nghiệp quyết định phù hợp với các quy định của pháp luật."

+ Nếu việc định giá tài sản do tòa án thực hiện thì chi phí định giá tài sản được xác định theo các Điều 35 Pháp lệnh 02/2012/UBTVQH13 như sau:

"Điều 35. Chi phí định giá tài sản

1. Căn cứ tính chất của đối tượng định giá, chi phí định giá tài sản bao gồm một hoặc một số chi phí sau đây:

a) Chi phí tiền lương và các khoản thù lao cho người thực hiện định giá;

b) Chi phí thu thập, phân tích thông tin về đối tượng cần định giá;

c) Chi phí vật tư tiêu hao;

d) Chi phí sử dụng dịch vụ cần thiết khác;

đ) Các chi phí khác theo quy định của pháp luật.

2. Chính phủ quy định chi tiết khoản 1 Điều này."

5. Nguyên tắc phân chia tài sản riêng khi ly hôn?

Thưa luật sư, cho em hỏi nếu người vợ ly hôn đơn phương thì khi ra tòa tài sản mang tên vợ có phải chia đôi hay không? Cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn luật Hôn nhân trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Nguyên tắc phân chia tài sản khi ly hôn được quy định tại Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 như sau:

" Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác."

Như vậy, nếu có căn cứ chứng minh là tài sản riêng khi ly hôn thì sẽ thuộc về chủ sở hữu, không chia đôi.

>> Bài viết tham khảo thêm: Mẫu đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự

6. Tư vấn về phân chia tài sản sau khi ly hôn?

Thưa luật sư, tôi có việc muốn xin tư vấn của quý công ty. Tháng 11 năm 2010 tôi có kết hôn với vợ tôi. Tôi có 2 con trai riêng và vợ có 1 con gái riêng. Tất cả sống chung trong ngôi nhà riêng của tôi. Các cháu đều đã lớn và đi học xa nhà.

Trong thời gian sống với nhau chúng tôi có thỏa thuận miệng với nhau về việc để riêng phần kinh tế (không có giấy tờ, chỉ là thỏa thuận miệng). Con tôi tôi nuôi, con vợ tôi thì vợ tôi nuôi. Chúng tôi chỉ chung nhau phần ăn uống còn ai cũng có việc làm riêng và thu nhập để riêng. Trong thời gian sống chung, tôi có mua sắm và sửa sang lại nhà cửa bằng tiền của mình, không có sự trợ giúp của vợ. Đến tháng 07 năm 2015 chúng tôi ly hôn. Vì riêng rẽ tài sản nên cả hai không có sự tranh chấp về tài sản trước tòa khi ly hôn. Thủ tục ly hôn hoàn thành vào 28/07/2015 mà không có sự vướng mắc tranh chấp nào.

Đến nay, tôi nhận được giấy từ tòa án về việc vợ cũ đòi phân chia tài sản chung khi sống với tôi. Đó là phần tài sản tôi mua sắm và phần ngôi nhà tôi sửa khi đang ở với nhau. Vì không có giấy tờ chứng minh việc sửa sang và mua sắm bằng tiền của mình nên tôi rất lo lắng?

Xin quý công ty giải đáp giúp đỡ tôi. Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: S

>> Luật sư tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình trực tuyến gọi: 1900 6162

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 47, 48 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014:

"Điều 47. Thỏa thuận xác lập chế độ tài sản của vợ chồng

Trong trường hợp hai bên kết hôn lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận thì thỏa thuận này phải được lập trước khi kết hôn, bằng hình thức văn bản có công chứng hoặc chứng thực. Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận được xác lập kể từ ngày đăng ký kết hôn.

Điều 48. Nội dung cơ bản của thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng

1. Nội dung cơ bản của thỏa thuận về chế độ tài sản bao gồm:

a) Tài sản được xác định là tài sản chung, tài sản riêng của vợ, chồng;

b) Quyền, nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng và giao dịch có liên quan; tài sản để bảo đảm nhu cầu thiết yếu của gia đình;

c) Điều kiện, thủ tục và nguyên tắc phân chia tài sản khi chấm dứt chế độ tài sản;

d) Nội dung khác có liên quan.

2. Khi thực hiện chế độ tài sản theo thỏa thuận mà phát sinh những vấn đề chưa được vợ chồng thỏa thuận hoặc thỏa thuận không rõ ràng thì áp dụng quy định tại các điều 29, 30, 31 và 32 của Luật này và quy định tương ứng của chế độ tài sản theo luật định."

Do vậy, trong trường hợp này anh chị khi thỏa thuận về chế độ tài sản giữa hai vợ chồng thì trước khi kết hôn, việc thỏa thuận này phải được lập thành văn bản và phải có công chứng, chứng thực. Và thỏa thuận này có thể bị tòa án tuyên bố vô hiệu theo quy định tại khoản 1 Điều 50 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 do vi phạm quy định về hình thức của thỏa thuận xác lập chế độ tài sản của vợ chồng:

"Điều 50. Thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu

1. Thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị Tòa án tuyên bố vô hiệu khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Không tuân thủ điều kiện có hiệu lực của giao dịch được quy định tại Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan;

b) Vi phạm một trong các quy định tại các điều 29, 30, 31 và 32 của Luật này;"

Theo quy định tại điều 7 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và gia đình:

"Điều 7. Áp dụng chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định

Chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định được áp dụng trong trường hợp vợ chồng không lựa chọn áp dụng chế độ tài sản theo thỏa thuận hoặc có thỏa thuận về chế độ tài sản nhưng thỏa thuận này bị Tòa án tuyên bố vô hiệu theo quy định tại Điều 50 của Luật Hôn nhân và gia đình."

Do đó, trong trường hợp này, việc mua mua sắm và phần ngôi nhà anh sửa khi hai vợ chồng chung sống với nhau được coi là tài sản chung và sẽ áp dụng theo chế độ đối với tài sản chung theo Điều 33 và Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nếu anh có căn cứ chứng minh việc sửa sang và mua sắm bằng tiền của mình thì anh có thể không phải chia giá trị số tài sản đó. Trong trường hợp này anh không chứng minh được việc sửa sang và mua sắm bằng tiền của mình thì số tiền đó được coi là tài sản chung và phải phân chia theo như khoản 2, 3 Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Trường hợp trong bản tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong bản tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề, rất mong nhận được phản ánh của quý khách tới địa chỉ email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình qua Email hoặc tổng đài tư vấn trực tuyến 1900.6162 . Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê