Mục lục bài viết

Sau khi khi nghỉ xong 40 ngày, em đến công ty để kí vào đơn xin nghỉ nhưng công ty không nói rõ và cũng không trả lời về thời hạn bồi thường và giải quyết các chế độ khác cho em nên em đã không kí. Tuy nhiên, khi em liên hệ với bên BHXH thì được biết công ty đã cắt đóng BHXH cho em, bảo lưu sổ BHXH, làm chế độ khám thai định kì cho em nhưng không có chế độ nghỉ 40 ngày như em trình bày ở trên.Vậy bây giờ em nên làm gì?

Em xin trân thành cám ơn!

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật lao động công ty Luật Minh Khuê

>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi:1900.6162

Trả lời:

Chào bạn, Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn luật đến Bộ phận luật sư tư vấn pháp luật của Công ty Luật Minh Khuê. Nội dung câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của Chúng tôi nghiên cứu và tư vấn cụ thể như sau:

I. Cơ sở pháp lý

Bộ Luật Lao động 2012

Luật Bảo hiểm xã hội 2014

II. Nội dung tư vấn

Theo thông tin mà bạn cung cấp, giữa bạn và công ty có thỏa thuận về việc chấm dứt hợp đồng lao động, tuy nhiên bạn vẫn chưa kí xác nhận việc bạn đồng ý thôi việc. Do đó, bạn có quyền tiếp tục làm việc sau khi nghỉ xong thời gian theo chế độ đối với người lao động nữ trong trường hợp nạo thai. Trong trường hợp này, nếu bạn cũng không muốn tiếp tục làm việc tại đây nữa và đồng ý thôi việc thì chế độ của bạn được giải quyết theo Điều 47 BLLĐ:

"Điều 47. Trách nhiệm của người sử dụng lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động

1. Ít nhất 15 ngày trước ngày hợp đồng lao động xác định thời hạn hết hạn, người sử dụng lao động phải thông báo bằng văn bản cho người lao động biết thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động.

2. Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên; trường hợp đặc biệt, có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày.

3. Người sử dụng lao động có trách nhiệm hoàn thành thủ tục xác nhận và trả lại sổ bảo hiểm xã hội và những giấy tờ khác mà người sử dụng lao động đã giữ lại của người lao động.

4. Trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã bị chấm dứt hoạt động, bị giải thể, phá sản thì tiền lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và các quyền lợi khác của người lao động theo thoả ước lao động tập thể và hợp đồng lao động đã ký kết được ưu tiên thanh toán."

Như vậy, trong trường hợp bạn có thỏa thuận với công ty của bạn về khoản tiền trợ cấp 4 tháng lương thì khoản tiền này NSDLĐ tức công ty bạn sẽ phải có trách nhiệm thanh toán đầy đủ cho bạn cùng với các khoản trợ cấp khác trong thời hạn 07 ngày làm việc, trong trường hợp đặc biệt có thể káo dài nhưng tối đa không quá 30 ngày. 

Về vấn đề giải quyết các chế độ BHXH, việc cắt đóng và bảo lưu sổ BHXH của công ty đối với bạn chỉ được thực hiện khi giữa bạn và công ty chính thức chấm dứt hợp đồng lao động, tức là sau thời gian bạn được hưởng chế độ nghỉ thai sản và bạn kí vào đơn thôi việc. Theo quy định tại khoản 4 Điều 39 Luật BLLĐ, NSDLĐ không được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động nghỉ việc hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội. Như vậy, về mặt nguyên tắc, việc giải quyết việc cắt đóng và bảo lưu giữa cơ quan BHXH và công ty bạn là không đúng theo quy định của pháp luật khi bạn chưa chính thức chấm dứt hợp đồng lao động với công ty của bạn. Điều này ảnh hưởng tới quyền lợi hưởng chế độ thai sản của bạn. Bạn có quyền khiếu nại tới cơ quan BHXH về hành vi vi phạm pháp luật này theo quy định tại khoản 1 Điều 118 Luật BHXH:

"Người lao động, người đang hưởng lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng, người đang bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội và những người khác có quyền đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định, hành vi của cơ quan, tổ chức, cá nhân khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình."

Trình tự, thủ tục khiếu nại được thực hiện theo quy định tại Điều 119 Luật BHXH:

"Điều 119. Trình tự giải quyết khiếu nại về bảo hiểm xã hội

1. Việc giải quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi hành chính về bảo hiểm xã hội được thực hiện theo quy định của pháp luật về khiếu nại.

2. Việc giải quyết khiếu nại đối với quyết định, hành vi về bảo hiểm xã hội không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này thì người khiếu nại có quyền lựa chọn một trong hai hình thức sau đây:

a) Khiếu nại lần đầu đến cơ quan, người đã ra quyết định hoặc người có hành vi vi phạm. Trường hợp cơ quan, người có quyết định, hành vi về bảo hiểm xã hội bị khiếu nại không còn tồn tại thì cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp huyện có trách nhiệm giải quyết;

b) Khởi kiện tại Tòa án theo quy định của pháp luật.

3. Trường hợp người khiếu nại được quy định tại điểm a khoản 2 Điều này không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc quá thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện tại Toà án hoặc khiếu nại đến cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh.

Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại của cơ quan quản lý nhà nước về lao động cấp tỉnh hoặc quá thời hạn quy định mà khiếu nại không được giải quyết thì có quyền khởi kiện tại Toà án.

4. Thời hiệu khiếu nại, thời hạn giải quyết khiếu nại được áp dụng theo quy định của pháp luật về khiếu nại."

Đối với chế độ lao động nữ nghỉ việc do nạo thai, Điều 33 Luật BHXH quy định:

"Điều 33. Thời gian hưởng chế độ khi sẩy thai, nạo, hút thai, thai chết lưu hoặc phá thai bệnh lý

1. Khi sẩy thai, nạo, hút thai, thai chết lưu hoặc phá thai bệnh lý thì lao động nữ được nghỉ việc hưởng chế độ thai sản theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền. Thời gian nghỉ việc tối đa được quy định như sau:

a) 10 ngày nếu thai dưới 05 tuần tuổi;

b) 20 ngày nếu thai từ 05 tuần tuổi đến dưới 13 tuần tuổi;

c) 40 ngày nếu thai từ 13 tuần tuổi đến dưới 25 tuần tuổi;

d) 50 ngày nếu thai từ 25 tuần tuổi trở lên. 

2. Thời gian nghỉ việc hưởng chế độ thai sản quy định tại khoản 1 Điều này tính cả ngày nghỉ lễ, nghỉ Tết, ngày nghỉ hằng tuần."

Bạn căn cứ vào quy định trên để xác định chính xác số ngày mình được nghỉ và hưởng chế độ. Việc giải quyết chế độ của bạn được thực hiện khi bạn nộp hồ sơ để hưởng chế độ thông qua NSDLĐ của mình đến cơ quan BHXH. Khoản 2 Điều 101 Luật BHXH quy định về hồ sơ hưởng chế độ nạo thai, hút thai, phá thai bệnh lý như sau:

"2. Trường hợp lao động nữ đi khám thai, sẩy thai, nạo, hút thai, thai chết lưu hoặc phá thai bệnh lý, người lao động thực hiện biện pháp tránh thai theo quy định tại khoản 1 Điều 37 của Luật này phải có giấy chứng nhận nghỉ việc hưởng bảo hiểm xã hội đối với trường hợp điều trị ngoại trú, bản chính hoặc bản sao giấy ra viện đối với trường hợp điều trị nội trú." 

Chế độ thai sản của bạn được giải quyết theo quy định tại Điều 102 Luật BHXH:

"Điều 102. Giải quyết hưởng chế độ ốm đau, thai sản

1. Trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày trở lại làm việc, người lao động có trách nhiệm nộp hồ sơ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 100, các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 101 của Luật này cho người sử dụng lao động.

Trường hợp người lao động thôi việc trước thời điểm sinh con, nhận nuôi con nuôi thì nộp hồ sơ quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 101 của Luật này và xuất trình sổ bảo hiểm xã hội cho cơ quan bảo hiểm xã hội.

 2. Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ từ người lao động, người sử dụng lao động có trách nhiệm lập hồ sơ quy định tại Điều 100 và Điều 101 của Luật này nộp cho cơ quan bảo hiểm xã hội.

3. Trách nhiệm giải quyết của cơ quan bảo hiểm xã hội:

a) Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ theo quy định từ người sử dụng lao động, cơ quan bảo hiểm xã hội phải giải quyết và tổ chức chi trả cho người lao động;

b) Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ theo quy định từ người lao động thôi việc trước thời điểm sinh con, nhận nuôi con nuôi, cơ quan bảo hiểm xã hội phải giải quyết và tổ chức chi trả cho người lao động.

4. Trường hợp cơ quan bảo hiểm xã hội không giải quyết thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do."

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật lao động bảo hiểm qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.                                  

Bộ phận tư vấn Luật sư lao động.