1. Giết người và chiếm đoạt tài sản bị xử phạt thế nào ?

Thưa luật sư, xin hỏi: A (22 tuổi), B (23 tuổi) cùng có quan hệ yêu đương với một cô gái là C. Do mâu thuẫn nên A gặp B để giải quyết mâu thuẫn. Một buổi tối A hẹn B lên bờ đê để “nói chuyện”, thấy vắng người A bất ngờ dùng dây thắt cổ B khiến B bất tỉnh. Tưởng B đã chết nên A lục túi B lấy đi tài sản trị giá 7 triệu đồng.
B sau đó được phát hiện đưa đi cấp cứu kịp thời nên còn sống. Luật sư cho tôi hỏi là: Thứ nhất, tội mà A phạm phải là tội giết người với lỗi cố ý trực tiếp có phải không? Thứ hai, sau khi B chết, A đã lục túi lấy tiền và điện thoại di động của B, số tài sản trị giá 7 triệu đồng thì anh này phạm thêm tội cướp tài sản hay công nhiên chiếm đoạt tài sản? Tại sao? Thứ ba, hình phạt nặng nhất dành cho A là gì với cả hai tội trên ?
Cảm ơn!

Luật sư trả lời:

Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi đến công ty Luật Minh Khuê, chúng tôi giải đáp thắc mắc của bạn như sau:

Thứ nhất, A có phải phạm tội giết người với lỗi cố ý trực tiếp hay không ?

Căn cứ theo Điều 10 Bộ luật hình sự năm 2015 (Luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định về có ý phạm tội như sau:

Cố ý phạm tội là phạm tội trong những trường hợp sau đây:

1. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra;

2. Người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra.

Hành vi của a là hành vi cố ý, A nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm, thấy trước được hậu quả và mong muốn hậu quả xảy ra.

Giết người là hành vi tước đoạt tính mạng người khác một cách trái pháp luật. Như trường hợp trên, A có hành vi dùng dây thắt cổ B, tuy nhiên B đã được kịp thời cứu và không chết. Cần phải phân biệt rõ ở đây với tội cố ý gây thương tích, là vì lý do khách quan, A tưởng B đã chết bỏ đi và được người khác đưa đi bệnh viện nên không chết. Do đó, A có thể sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết tại Điều 123 và ở giai đoạn chưa đạt tại Khoản 3 Điều 57 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):

Điều 123. Tội giết người

1. Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Giết 02 người trở lên;

b) Giết người dưới 16 tuổi;

c) Giết phụ nữ mà biết là có thai;

d) Giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;

đ) Giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

e) Giết người mà liền trước đó hoặc ngay sau đó lại thực hiện một tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;

g) Để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác;

h) Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân;

i) Thực hiện tội phạm một cách man rợ;

k) Bằng cách lợi dụng nghề nghiệp;

l) Bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người;

m) Thuê giết người hoặc giết người thuê;

n) Có tính chất côn đồ;

o) Có tổ chức;

p) Tái phạm nguy hiểm;

q) Vì động cơ đê hèn.

2. Phạm tội không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.

3. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

4. Người phạm tội còn có thể bị cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm.

Khoản 3 Điều 57 quy định:

Đối với trường hợp phạm tội chưa đạt, nếu điều luật được áp dụng có quy định hình phạt cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình thì áp dụng hình phạt tù không quá 20 năm; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định.

Từ những quy định trên, A sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người ở giai đoạn chưa đạt.

Thứ hai, A phạm tội cướp tài sản hay công nhiên chiếm đoạt tài sản?

Trong trường hợp này, A sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội công nhiên chiếm đoạt tài sản.

Giải thích: Hành vi của tội này khác với hành vi chiếm đoạt của các tội khác ở dấu hiệu công nhiên, tội này có những dấu hiệu dễ bị nhầm lần với các tội chiếm đoạt tài sản khác như tội cướp tài sản. Nhưng hành vi của tội này xảy ra trong hoàn cảnh chủ tài sản không có điều kiện để ngăn cản. Như vậy, A có hành vi trên chiếm đoạt tài sản với trị giá 7.000.000 đồng nên sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội công nhiên chiếm đoạt tài sản được quy định tại khoản 1 Điều 172 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):

1. Người nào công nhiên chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 173, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ;tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.

Thứ ba, hình phạt cho A nặng nhất là gì với cả 2 tội trên?

Về tội giết người, A có thể sẽ phải chịu mức án tù không quá 20 năm hoặc không quá 3/4 mức phạt tù theo điều luật quy định.

Về tội công nhiên chiếm đoạt tài sản, A có thể sẽ bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Từ những căn cứ trên, Tòa án sẽ quy định hình phạt của từng tội của A và tổng hợp hình phạt của các tội trên theo căn cứ tại Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật hình sự về chiếm đoạt tài sản trực tuyến qua tổng đài điện thoại, gọi số: 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Đánh trúng mắt người thương tật 15% thì phạm tội gì ? Hành hung người khác bị phạt thế nào ?

2. Giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh?

Luật sư có thể cho em biết nếu phạm tội giết người trong trường hợp người phạm tội cho người bị hại mượn giấy tờ nhà để cầm cố nhưng người bị hại để ngôi nhà bị thanh lý nhưng bị hại không hoàn lại cho người phạm tội ?
Vậy có phải người phạm tội đang trong trạng thái bị kích động không ? Và nếu phạm tội trong tình trạng đang bị kích động thì khung hình phạt cho tội danh như thế nào ?
Cám ơn luật sư!

>> Luật sư tư vấn luật hình sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Luật sư tư vấn:

Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh được quy định tại Điều 95 Bộ luật hình sự năm 1999 như sau:

" Điều 95. Tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh

1. Người nào giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người đó hoặc đối với người thân thích của người đó, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Giết nhiều người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh, thì bị phạt tù từ ba năm đến bảy năm."

Dấu hiệu pháp lý của tội phạm này được quy định như sau:

- Khách thể: là quan hệ nhân thân là nội dung là quyền sống của con người, đối tượng tác động của tội phạm là con người.

- Khách quan: là hành vi giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh. Đây là trường hợp người phạm tội thực hiện hành vi tước đoạt trái pháp luật tính mạng của người khác trong trạng thái khả năng kiểm soát, kiềm chế hành vi bị ảnh hưởng nghiêm trọng

Cả điều kiện và nguyên nhân của tình trạng tinh thần bị kích động mạnh và điều kiện chủ thể thực hiện hành vi trong trạng thái tinh thần đó đều là những dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này. Vì vậy trong trường hợp giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh nhưng không liên quan đến lỗi của nạn nhân đối với người phạm tội thực hiện hành vi giết người khi trạng thái tinh thần kích động đã qua đi thì hành vi không cấu thành tội này mà cấu thành tội giết người.

Hậu quả bắt buộc là nạn nhân chết

- Chủ quan: Lỗi có ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp.

Để xác định người đó có bị đẩy đến tình trạng bị kích động mạnh hay chưa mạnh về tinh thần phải căn cứ vào từng trường hợp cụ thể, xem xét một cách toàn diện các tình tiết cụ thể về vụ án, nhân thân của người phạm tội, quá trình diễn biến của sự việc, trình độ văn hóa, bệnh tật, hoàn cảnh gia đình,… từ đó mới có thể xác định mức độ bị kích động về tinh thần có mạnh hay không, mạnh đến mức nào.Như thông tin được cung cấp việc để ngôi nhà bị thanh lý người phạm tội đã hoàn toàn chấp nhận và chỉ muốn lấy lại số tiền đã thanh lý được. Tuy nhiên, việc chưa trao trả ngay số tiền thanh lý của người bị hại không phải là hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng đối với người phạm tội. Như vậy, với hành vi không thể truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 95 mà sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 93 Bộ luật hình sự như sau:

" Điều 93. Tội giết người

1. Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Giết nhiều người;

b) Giết phụ nữ mà biết là có thai;

c) Giết trẻ em;

d) Giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;

đ) Giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

e) Giết người mà liền trước đó hoặc ngay sau đó lại phạm một tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng;

g) Để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác;

h) Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân;

i) Thực hiện tội phạm một cách man rợ;

k) Bằng cách lợi dụng nghề nghiệp;

l) Bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người;

m) Thuê giết người hoặc giết người thuê;

n) Có tính chất côn đồ;

o) Có tổ chức;

p) Tái phạm nguy hiểm;

q) Vì động cơ đê hèn.

2. Phạm tội không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ một năm đến năm năm."

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê. Rất mong nhận được sự hợp tác!

>> Xem thêm:  Lỡ tay đánh chết người thì bị ghép vào tội gì ? Xử phạt hành vi đánh nhau

3. Hành vi vu khống qua mạng xã hội rồi đe dọa giết người ?

Kính gửi Luật sư! Tôi có vấn đề nhờ luật sư tư vấn. Năm 2012 cha tôi ngoại tình với một người đàn bà đã ly hôn, gia đình tôi bắt gặp tại nhà trọ, trong lúc nóng giận chị tôi có đánh cô ấy, nhưng cô ấy không bị thương tích gì. Chúng tôi đã đưa cô ấy về gia đình để giải quyết, chúng tôi có đề nghị cô ấy viết tờ cam kết là không được gặp gỡ điện thoại và quan hệ bất chính với cha tôi.
Trong quá trình viết cam kết cô ấy nhận cuộc điện thoai của cha tôi, tôi phát hiện cô ấy sử dụng điện thoại của cha tôi (điện thoại tôi cùng với cha tôi mua) nên tôi đã lấy lại. Trong lúc này chúng tôi thấy viết cam kết mà không có chính quyền thì cũng không có hiệu lực. Nên chúng tôi quyết định đến cơ quan công an thị trấn nhờ họ giải quyết. Đến đây cô ấy báo công an chúng tôi đánh cô ấy tại nhà trọ, lấy dây chuyền và điện thoại cô ấy. Viêc cô ấy có đeo dây chuyền không thì chúng tôi không biết, mà chúng tôi cũng không có lấy.​ Đến cơ quan công an, công an chỉ giải quyết hòa giải, không xử phạt hành chính. Tai đây cơ quan có bảo tôi trả lại điện thoại cho cô ấy, tôi nói điện thoại của gia đình tôi, tôi mua có hóa đơn, cô ấy im thinh không trả lời. Chúng tôi còn viết cam kết, gia đình tôi không được đánh cô ấy và cô ấy cũng không được gặp và quan hệ bất chính với cha tôi. Nhưng cô ấy làm đúng như cam kết, cô ấy vẫn thường xuyên liên lạc với cha tôi, họ còn hẹn ở quán tum, bị chị tôi và người làm bắt gặp, tai đây cô ấy đánh chị tôi trước, chị tôi nóng giận đã lấy kéo cắt tóc cô ấy.
Chúng tôi cũng đến cơ quan công an xã để giải quyết, tại đây công an cũng giải quyết hòa giải. Nhưng giờ cô ấy lại đến công an huyên tố cáo chúng tối lấy điện thoại, dây chuyền cô ấy, cắt tóc cô ấy. Điện thoại thị cha tôi đã lén lấy lại đưa cho cô ấy, cha tôi và cô ấy đều đã thừa nhận việc điện thoại đã trả cho cô ấy. Vây nay cô ấy thưa tôi, tôi có quyên kiện cô ấy tôi vu khống không?. cô ấy cũng gởi đơn đến phòng giáo dục tố cáo mẹ tôi lấy điện thoại và dây chuyền, làm ảnh hưởng danh dự uy tính của mẹ tôi, mẹ tôi có thể thưa cô ấy về tội vu khống không? Hiên nay cô ấy vẫn còn lén lúc quan hệ bất chính với cha tôi, con thúc cha tôi về ly hôn chia tài sản, về nói chị em tôi và mẹ tôi giành tài sản. Cơ quan công an cũng đã mời gia đình tôi điều tra lại sự việc.Trong trường hợp này mong luật sư tư vấn giúp. Cảm ơn luật sư!
Người gửi: p.t.d

>> Tư vấn Luật Hình sự trực tiếp qua số điện thoại: 1900.6162

Trả lời:

1. Hành vi vu khống người khác

Việc xác định tội vu khống, căn cứ cũng như hình thức xử phạt vi phạm hình sự được quy định cụ thể trong Bộ Luật Hình sự 2015 sửa đổi 2017 như sau:

Điều 156. Tội vu khống

1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:
a) Bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là sai sự thật nhằm xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác;
b) Bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 03 năm:
a) Có tổ chức;
b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
c) Đối với 02 người trở lên;
d) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh cho mình;
đ) Đối với người đang thi hành công vụ;
e) Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;
g) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%;
h) Vu khống người khác phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:
a) Vì động cơ đê hèn;
b) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên;
c) Làm nạn nhân tự sát.
4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Người có quan hệ bất chính với bố bạn ( giả sử gọi là cô X) có hành vi sau: "cô ấy báo công an chúng tôi đánh cô ấy tại nhà trọ, lấy dây chuyền và điện thoại cô ấy", " cô ấy cũng gởi đơn đến phòng giáo dục tố cáo mẹ tôi lấy điện thoại và dây chuyền, làm ảnh hưởng danh dự uy tính của mẹ tôi" Như vậy, nếu có đây đủ căn cứ về hành vi vu khống này bạn có thể làm đơn trình báo công an điều tra cấp quận/huyện để được giải quyết.

2. Hành vi vi phạm chế độ một vợ một chồng

Điều 182. Tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng

1. Người nào đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người mà mình biết rõ là đang có chồng, có vợ thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:
a) Làm cho quan hệ hôn nhân của một hoặc hai bên dẫn đến ly hôn;
b) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Làm cho vợ, chồng hoặc con của một trong hai bên tự sát;
b) Đã có quyết định của Tòa án hủy việc kết hôn hoặc buộc phải chấm dứt việc chung sống như vợ chồng trái với chế độ một vợ, một chồng mà vẫn duy trì quan hệ đó.

=> Như vậy, để có thể trình báo công an về hành vi của cô X về tội vu khống thì bạn cần chứng minh được chiếc điện thoại thuộc sở hữu hợp pháp của mình cùng với hành vi mà cô X đã thực hiện có thể cấu thành tội vu khống thì bạn có thể trình báo công an điều tra cấp quận/huyện nơi bạn đang cư trú về hành vi của cô X về tội vu khống. Cô X sẽ bị xử lý theo quy định tại điều này nếu vi phạm. Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mẹ bạn và gia đình, bạn có thể tiến hành trình báo công an về hành vi của cô X và bố bạn về tội vi phạm chế độ một vợ, một chồng. Không nên đánh đập hay đe dọa cô X vì làm thế sẽ gây bất lợi cho bạn và cô X có thể tiến hành trình báo hoặc tố cáo bạn về hành vi đó.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hình sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Đánh người cướp tài sản có phạm tội không ? Đánh chết người có phạm tội không ?

4. Lấy tài sản sau khi giết người thì mắc tội gì ?

Thưa luật sư, xin hỏi: TA (17 tuổi), NB (18 tuổi) cùng có quan hệ yêu đương với một cô gái là Chinh. Để loại bỏ “tình địch” A đã chuẩn bị dao găm và một đoạn dây để khi cần thiết sẽ dùng giết B. Một buổi tối A hẹn B lên bờ đê để “nói chuyện”. Không thuyết phục được B từ bỏ quan hệ với Chinh nên A đã dùng dao đâm nhiều nhát làm B tử vong.

Luật sư cho tôi hỏi là:

Thứ nhất, tội mà A phạm phải là tội giết người với lỗi cố ý trực tiếp và được quy định tại khoản 2 điều 93 BLHS 1999 có đúng hay không? Hay là A phạm vào điểm q khoản 1 điều 93 BLHS 1999

Thứ hai, hình phạt nặng nhất dành cho TA là 18 năm tù liệu có chính xác không ạ vì A chưa đủ 18 tuổi.

Thứ ba, sau khi B chết, A đã lục túi lấy tiền và điện thoại di động của B, số tài sản trị giá 3 triệu đồng thì anh này có phạm thêm tội cướp tài sản hay công nhiên chiếm đoạt tài sản không? Nếu phải thì Luật sư có thể tư vấn rõ cho tôi là vì sao không? Rất mong nhận được sự tư vấn của Luật sư. Tôi xin chân thành cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn pháp luật hình sự, gọi: 1900.6162

Trả lời:

1. Về hành vi giết người:

Hành vi giết người của TA là có chuẩn bị từ trước, có sẵn mục đích, ý thức chiếm đoạt tính mạng của B. Động cơ giết người của A là để loại bỏ "tình địch" - là động cơ đê hèn của A, vì tính ích kỷ cao mà A có hành vi giết B, để được một mình yêu Chinh. Hành vi này đã phạm vào tội Giết người theo quy định tại Điều 93 Khoản 1 Điểm q Bộ luật hình sự năm 1999 (Bộ luật hình sự sửa đổi năm 2009).

2. Hình phạt dành cho A:

Điều 74 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định:

"Điều 74. Tù có thời hạn

Người chưa thành niên phạm tội chỉ bị phạt tù có thời hạn theo quy định sau đây:

1. Đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá mười tám năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định;

2. Đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá mười hai năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá một phần hai mức phạt tù mà điều luật quy định."

TA tại thời điểm phạm tội chưa thành niên (17 tuổi), cho nên hình phạt đối với A là không quá 18 năm tù.

3. Về hành vi lấy tài sản sau khi giết người:

Mặt hình thức của tội cướp tài sản là hành vi dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản. Mặc dù ý thức chiếm đoạt của A nảy sinh sau khi thực hiện hành vi giết người nhưng lúc này, B đã chết (không thể chống cự được), cho nên hành vi này của Ađã phạm vào tội Cướp tài sản theo quy định tại Điều 133 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009:

"Điều 133. Tội cướp tài sản

1. Người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm..."

Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Tội giết người bị xử phạt như thế nào ? Mức phạt tội đe dọa giết người

5. Các trường hợp bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giết người ?

Thưa luật sư, So sánh tôi giết người với tội làm chết người do vượt quá phòng vệ chính đáng ? Nhờ luật gia giải đáp giúp. Chân thành cảm ơn !

Trả lời:

Tội giết người (điều 93-Bộ luật hình sự 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009); Bộ luật hình sự năm 2015 (Bộ luật hình sự sửa đổi, bổ sung năm 2017)) và tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng (Điều 96-BLHS 1999) có điểm giống cơ bản đó là đều là hành vi tước đoạt tính mạng của người khác trái pháp luật bằng những hành động như đánh, đấm, đá, bóp cổ, thắt cổ.... Điểm khác biệt nhất giữa hai tội này là tội giết người, người phạm tội tước đoạt tính mạng vì nhiều lý do khác nhau chẳng hạn như thù tức cá nhân, hay xuất phát từ động cơ đê hèn như giết người tình, giết người đã cho mình vay tiền nhằm trốn tránh nghĩa vụ trả nợ, giết người để cướp của....Tuy nhiên, tội giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, người phạm tội có hành vi tước đoạt tính mạng do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng. Điều 15-BLHS 1999 quy định:

1. Phòng vệ chính đáng là hành vi của người vì bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác, mà chống trả lại một cách cần thiết người đang có hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên. Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm. 2. Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là hành vi chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại.

Như vậy, nguyên nhân gây nên cái chết chính là hành vi vi phạm pháp luật của nạn nhân.

Thưa luật sư, xin cho em hỏi,đối với người vừa đủ 18 tuổi có cần người dám hộ khi bị hỏi cung không,,,và nếu có thì trong trường hợp này người dám hộ có được chấp nhận hợp pháp không ? Cảm ơn!

>> Theo quy định của pháp luật hình sự, người đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi đầy đủ bởi vậy khi tham gia vào quan hệ pháp luật nói chung phải chịu trách nhiệm đối với những hành vi do mình xác lập. Điều đó có nghĩa người đủ 18 tuổi trở lên khi bị hỏi cung sẽ không có người giám hộ tham gia. Tuy nhiên, điểm d-khoản 3-Điều 59-BLTTHS 2003 thì khi cơ quan tiến hành tố tụng lấy lời khai của người có nhược điểm về thể chất, tâm thần thì người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người này có quyền có mặt. Tức là họ có mặt hoặc không có mặt cũng không sao. Như vậy, khi hỏi cung đối tượng này sẽ không cần phải có người giám hộ.

Thưa luật sư, xin phép ls tư vấn giúp.hôm 26/7/2015.trên đừơng đi đám cứới về tôi đt cho khánh bạn tôi đến ăn,trên đường tới nhà tôi thì khánh bị một nhóm thanh niên chặn đánh. Tôi xin hỏi nhóm thanh niên này phạm tội gì? mức phạt ra sao?

>> Điều 104-BLHS 1999 quy định về tội cố ý gây thương tích hoặc tổn hại sức khỏe của người khác thì hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho người khác được hiểu là việc sử dụng sức mạnh vật chất tác động tới nạn nhân, đè bẹp sự phản kháng của nạn nhân với mục đích gây thương tích hoặc tổn hại sức khỏe cho người khác. Tội này cấu thành khi người phạm tội có lỗi cố ý, có hành vi phạm tội và hậu quả phạm tội rơi vào một trong hai trường hợp sau: tỷ lệ thương tật hoặc tổn hại sức khỏe của nạn nhân từ 11% trở lên hoặc dưới 11% nhưng thuộc các trường hợp như: dùng hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người; gây cố tật nhẹ cho nhiều người, có tổ chức.... Như vậy, trường hợp của bạn nhóm thanh niên này sẽ phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác do họ phạm tội có tổ chức.

Mức hình phạt cụ thể sẽ phải dựa vào mức độ bị tổn hại sức khỏe của nạn nhân và các yếu tố về nhân thân người phạm tội và chỉ có Tòa án mới có quyền đưa ra hình phạt cụ thể. Nếu nạn nhân bị tổn hại sức khỏe từ 11-30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1-Điều 104 thì sẽ bị phạt cải tạo không giam giữ tới 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm; tổn hại từ 31%-60% hoặc từ 11%-30% nhưng thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 thì sẽ bị phạt từ 2 năm tới 7 năm tù.....

Thưa luật sư, Dấu hiệu hậu quả trong điểu 84 BLHS: tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân có bắt buộc không ạ ?

>> Điều 84-BLHS 1999 quy định về tội khủng bố. Mục đích của khủng bố là gây hoảng loạn, lo sợ trong quần chúng nhân dân, ép buộc chính quyền hoặc tổ chức quốc tế làm hoặc không làm một việc nào đó. Theo mô tả trong cấu thành tội khủng bố, đây là tội có cấu thành vật chất. Tức là đòi hỏi hậu quả phải xảy ra: chống chính quyền nhân dân mà xâm phạm tính mạng của cán bộ, công chức hoặc công dân, xâm phạm tự do sức khỏe.....Như vậy, đối với tộ này hậu quả là dấu hiệu bắt buộc.

Luật sư tư vấn giúp tôi. Em tôi 18 tuổi bị bạn bè dụ làm thẻ giả rút tiền cho người đài loan, em tôi ko trực tiếp rút tiền, chỉ tìm người đi làm thẻ giả và hưởng cò từ người khác. Hiện nay số tiền lên đến gần 3 tỷ. Em tôi bị cơ quan công an cảnh sát điều tra thành phố đưa lên chí hòa. Vậy trường hợp của em tôi 1) Nếu có khắc phục hậu quả và tìm được chủ mưu thì em tôi có phải ở tù ko. 2) Nếu thủ phạm trốn hết qua nước ngoài thì em tôi có phải chịu thay tội cho chúng ko. 3) Hiện giờ gia đình tôi có thể vô thăm hay làm thủ tục bão lãnh cho em ko?

>> 1) Tội mà những người này phạm phải là tội trộm cắp tài sản theo Điều 138-BLHS 1999: có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác. Trường hợp của em bạn là tìm người làm thẻ giả để cho các đối tượng khác rút tiền cho nên rõ ràng em bạn biết mục đích phạm tội của họ và em bạn bị coi là đồng phạm trong vụ án trên. Như vậy, em bạn phải chịu trách nhiệm hình sự trong vụ án trên.

2) Theo nguyên tắc phân hóa trách nhiệm hình sự, nguyên tắc cá thể hóa trách nhiệm hình sự trong một vụ đồng phạm thì những người phạm tội sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của những người phạm tội khác trừ trường hợp vượt quá giới hạn của người phạm tội đó. Mặt khác, người phạm tội phải chịu TNHS dựa trên mức độ tham gia của mình vào vụ án chẳng hạn em bạn tham gia vào vụ án với vai trò là người giúp sức. Cho nên, em bạn chỉ phải chịu trách nhiệm của người giúp sức và khi những người phạm tội khác trốn ra nước ngoài thì em bạn không phải chịu thay hình phạt cho những người phạm tội khác.

3) Gia đình bạn có thể bảo lãnh cho em bạn. Điều 92-BLTTHS 2003 về biện pháp bảo lĩnh như sau: Bảo lĩnh là biện pháp ngăn chặn thay thế cho biện pháp tạm giam. Cá nhân bảo lĩnh là người thân thích và phải có ít nhất hai người trở lên. Và người nhận bảo lĩnh phải viết giấy cam đoan không để bị can, bị cáo không tiếp tục phạm tội và đảm bạo sự có mặt của bị can, bị cáo theo giấy triệu tập. Việc bảo lĩnh phải có xác nhận của chính quyền địa phương. Như vậy, nếu đáp ứng điều kiện trên thì gia đình bạn có thể nhận bảo lĩnh cho em mình.

Thưa luật sư Có thể tư vấn giúp em 1 chút được không ạ Có người quen của em lái xe khách nhưng không may lại đụng phải 1 người Người đó đang trong tình trạng nguy kịch Em biết là người đó sẽ không tránh khỏi bị truy tố Em muốn hỏi có cách nào giúp người quen của em thoát tội, hoặc giảm nhẹ mức án không ạ

>> Trách nhiệm hình sự phát sinh khi người phạm tội có lỗi. Trường hợp trên, lái xe có dấu hiệu của tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ năm 202-BLHS 1999. Tuy nhiên nếu tài xế không có lỗi đối với tình trạng nguy kịch trên chẳng hạn như hậu quả phát sinh do hoàn toàn lỗi của nạn nhân thì tài xế không phải chịu trách nhiệm hình sự mà chỉ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra. Mặt khác, nếu tài xế có lỗi thì đương nhiên trách nhiệm hình sự sẽ đặt ra. Để có thể giảm nhẹ mức án thì người phạm tội phải có các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại Điều 46-BLHS chẳng hạn như ăn năn hối cải, người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, người phạm tội tự thú,....khi có các tình tiết giảm nhẹ Tòa án sẽ xem xét giảm mức án cho người phạm tội.

Trên đây là tư vấn của Luật Minh Khuê về thắc mắc của bạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận luật sư số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hình sự - Công ty luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Phạm tội giết người thì sẽ bị xử phạt như thế nào ? Mức phạt khi giết người trong lúc sử dụng ma túy