1. Hợp đồng BCC là gì?

Hợp đồng BCC là hợp tác kinh doanh là hình thức đầu tư được quy định trong pháp luật đầu tư của nhiều nước, trong đó có Việt Nam. Pháp luật đầu tư của Việt Nam thừa nhận hình thức đầu tư này từ Luật Đầu tư trực tiếp nước ngoài năm 1987. Cho đến trước Luật Đầu tư năm 2005, hợp đồng hợp tác kinh doanh được hiểu là văn bản được ký kết giữa một bên/các bên Việt Nam với một bên/các bên nước ngoài để cùng tiến hành hoạt động kinh doanh mà không thành lập pháp nhân mới. Luật Đầu tư năm 2005 quy định hợp đồng hợp tác kinh doanh áp dụng chung cho các nhà đầu tư, không phân biệt quốc tịch của họ. Vẫn giữ vững tinh thần đó, Điều 3 khoản 14 Luật Đầu tư năm 2020 quy định: "Hợp đồng hợp tác kinh doanh (sau đây gọi tắt là hợp đồng BCC) là hình thức đầu tư được ký giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm mà không thành lập pháp nhân."

Như vậy, đây là một hình thức hợp tác đầu tư trên cơ sở hợp đồng, theo đó các bên hợp doanh cùng góp vốn, cùng quản lý kinh doanh, cùng chịu rủi ro, cùng phân chia kết quả thu được, nhưng không thành lập bất kỳ một pháp nhân mới nào. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, các bên hành động nhân danh chính mình, với tư cách pháp lý độc lập của mình.

Đều là hình thức thoả thuận hợp tác góp vốn để cùng kinh doanh dựa trên sự sẻ chia nguồn lực, phân chia rủi ro, lợi nhuận, BCC có những đặc điểm giống như hợp đồng liên doanh. Sự khác biệt của BCC với hợp đồng liên doanh, đó là không có sự thành lập pháp nhân mới giữa các bên của hợp đồng. Như vậy sự liên kết giữa các bên trong BCC chỉ thể hiện trong hợp đồng. Hợp đồng là cơ sở pháp lý quan trọng nhất để xác định quyền và nghĩa vụ của các bên. Do không có sự ràng buộc bằng một pháp nhân chung nên cơ chế đàm phán để chia sẻ lợi ích cũng như nghĩa vụ trong hoạt động đầu tư theo BCC là linh hoạt hơn so với trường hợp liên doanh và là lựa chọn của nhiều nhà đầu tư. Thông thường, các bên của BCC sẽ thành lập một đơn vị quản lý dự án (hoặc quản lý hoạt động hợp tác) không có tư cách pháp nhân. Đơn vị này sẽ tiến hành hạch toán kinh doanh và phân chia sản phẩm lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh. Các bên tự thực hiện nghĩa vụ tài chính của mình sau khi thu được lợi nhuận.

 

2. Đặc điểm của hợp đồng BCC

- Về chủ thể, BCC có thể được ký giữa:

+ Một số nhà đầu tư Việt Nam với nhau;

+ Một một số nhà đầu tư Việt Nam với một một số nhà đầu tư nước ngoài;

+ Một số nhà đầu tư nước ngoài.

Như vậy, số lượng nhà đầu tư tối thiểu là 2, không giới hạn số lượng tối đa. Nhà đầu tư có thể là nhà đầu tư Việt Nam hoặc nhà đầu tư nước ngoài.

- Về mục đích: góp vốn, cùng quản lý kinh doanh, cùng chịu rủi ro, cùng phân chia kết quả thu được. Hợp đồng liên doanh, hay BCC, và những hợp đồng đầu tư nói chung đều có đặc điểm là phân chia rủi ro, lợi nhuận trên cơ sở cùng góp vốn thực hiện kinh doanh. Đây là đặc điểm cơ bản giúp phân biệt hợp đồng đầu tư với các hợp đồng mua bán hay cung ứng dịch vụ, ở đó không có sự đóng góp vốn và có thể xác định rõ lợi nhuận hay rủi ro nào sẽ thuộc về bên nào dựa trên các điều khoản của hợp đồng.

- Về nội dung hợp đồng hợp tác kinh doanh phải bao gồm các nội dung chủ yếu theo quy định của pháp luật đầu tư.

- Về hình thức, BCC phải được lập thành văn bản, do đại diện có thẩm quyền của các bên hợp doanh ký vào từng trang và ký đầy đủ vào cuối hợp đồng. Hợp đồng hợp tác kinh doanh giữa bên Việt Nam và bên nước ngoài có hiệu lực kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đầu tư.

- Về luật áp dụng: BCC được ký kết giữa các nhà đầu tư Việt Nam thì được điều chỉnh bởi pháp luật về đầu tư của Việt Nam (cụ thể là Luật Đầu tư năm 2020 và các văn bản hướng dẫn thi hành luật), cùng với đó là pháp luật chuyên ngành có liên quan. Nếu có sự tham gia của bên nước ngoài vào hợp đồng thì hợp đồng còn được điều chỉnh bởi các điều ước quốc tế có liên quan (Hiệp định Đầu tư toàn diện ASEAN, Hiệp định TPP, Hiệp định Đối tác kinh tế ASEAN - Nhật Bản). Các bên có quyền thỏa thuận áp dụng pháp luật nước ngoài hoặc tập quán đầu tư quốc tế đối với các vấn đề mà pháp luật Việt Nam chưa có quy định, nếu việc áp dụng pháp luật nước ngoài và tập quán đầu tư quốc tế đó không trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.

- Về cơ quan giải quyết tranh chấp: trong trường hợp xảy ra tranh chấp giữa các bên Việt Nam trong BCC, tranh chấp đó có thể được giải quyết tại tòa án Việt Nam hay trọng tài Việt Nam. Trường hợp tranh chấp xảy ra giữa bên Việt Nam và bên nước ngoài trong BCC, tranh chấp đó có thể được giải quyết tại tòa án Việt Nam, trọng tài Việt Nam, trọng tài nước ngoài, trọng tài quốc tế, trọng tài do các bên tranh chấp thỏa thuận lựa chọn.

 

3. Ví dụ về hợp đồng BCC ở Việt Nam

BCC là hình thức đầu tư dễ tiến hành hơn so với các hình thức phải thành lập tổ chức kinh tế. Thường được áp dụng đối với quan hệ hợp tác nhỏ, ít vốn và không phức tạp hoặc với những dự án đầu tư có chu kỳ kinh doanh ngắn hạn, tránh được việc phải thành lập pháp nhân mới tốn kém chi phí hoặc trong một số lĩnh vực đặc thù. Hiện nay, ở Việt Nam, hình thức BCC được thực hiện phổ biến trong lĩnh vực thăm dò, khai thác dầu khí, lĩnh vực bưu chính viễn thông, in ấn, phát hành báo chí, và là có sự tham gia góp vốn của các nhà đầu tư nước ngoài. Ví dụ, trong lĩnh vực hạ tầng viễn thông, đã có những BCC rất thành công có thể kể đến như: BCC giữa VNPT và Telstra (Úc), France Telecom, Comvik (Thụy Điển); BCC giữa SLD (Hàn Quốc) với Công ty Cổ phần Viễn thông Sài Gòn trong dự án S-Fone.

Hợp đồng BCC được đánh giá là sự lựa chọn hợp lý trong lĩnh vực viễn thông bởi lẽ BCC không những mang lại tính khả thi về kêu gọi nguồn vốn, phát triển mạng lưới, đào tạo nguồn nhân lực cho bên Việt Nam, kết quả thương mại cho cả hai bên mà còn phù hợp với chủ trương và cơ chế của Nhà nước về chủ quyền an ninh trong việc khai thác mạng viễn thông. Trong lĩnh vực tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí và một số tài nguyên khác, có thể kể đến BCC giữa ONGC (Ấn Độ), BP (Anh), Statoil (Na Uy), và Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam (Dự án đường ống dẫn khí Nam Côn Sơn). Xuất phát từ sự phù hợp này, pháp luật đầu tư Việt Nam đã từng quy định BCC là điều kiện đầu tư đối với một số ngành nghề như thiết lập mạng viễn thông công cộng, cung cấp dịch vụ viễn thông, kinh doanh dịch vụ chuyển phát thư trong nước, chuyển phát thư quốc tế, hoạt động báo chí, phát thanh, truyền hình. Tuy nhiên, các quy định này hiện nay đều đã được bãi bỏ nhằm tạo cho nhà đầu tư quyền tự do lựa chọn hình thức đầu tư.

Trên đây là các thông tin liên quan đến hợp đồng BCC mà Luật Minh Khuê muốn cung cấp cho bạn đọc. Nếu bạn đọc có bất kì vấn đề pháp lý nào thắc mắc thì vui lòng liên hệ đến Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến thông qua số hotline: 1900.6162 để được tư vấn và hỗ trợ nhiệt tình. Xin chân thành cảm ơn bạn đọc đã theo dõi.