1. Quy luật lợi ích cận biên giảm dần là gì?
Quy luật lợi ích cận biên giảm dần có tên tiếng anh là Law of diminishing marginal utility. Quy luật này để cập đến mức độ thỏa mãn của người tiêu dùng khi tiêu dùng sản phẩm hàng hóa, dịch vụ. Cụ thể khi người tiêu dùng dùng một lượng hàng hóa, dịch vụ càng lớn thì mức độ thỏa mãn từ mỗi đơn vị tăng thêm sẽ càng giảm nhanh.
Cùng với khái niệm cân bằng của người tiêu dùng, quy luật ích lợi cận biên giảm dần được dùng để lý giải tại sao đường cầu xuống dốc. Đối với hàng hóa X và Y, điều kiện để đạt được trạng thái cân bằng của người tiêu dùng là:
Ích lợi cận biên của X/Giá của X = Ích lợi cận biên của Y/Giá của Y.
Bây giờ giả sử rằng tình hình này bi phá vỡ do giá của X giảm. Để lập lại trạng thái cân bằng, nghĩa là làm cho hai tỷ lệ này bằng nhau, ích lợi cận biên giảm dần, điều này xảy ra khi người tiêu dùng mua nhiều hàng hóa X và ít hàng hóa Y. Bởi vậy, sự giảm giá một hàng hóa làm cho lượng cầu của nó tăng lên.
Song cách phân tích như vậy chỉ có ý nghĩa khi chúng ta tính được ích lợi bằng số đếm, tức nếu chúng ta đo được hàm ích lợi chủ quan của cá nhân để lượng hóa khoảng cách 0a và 0b trong hình minh họa trên. Trên thực tế, người ta không thể đo lợi ích với mức độ chính xác như thế và vì vậy khái niệm ích lợi tính bằng số đếm (ích lợi đếm được) được thay thế bằng khái niệm ích lợi tính bằng thứ tự (ích lợi thứ tự).
Đường cầu hiện nay nhìn chung được thiết lập từ các đường bàng quan dựa trên ích lợi thứ tự và đôi khi dựa trên khái niệm tương tự là lý thuyết thị hiếu bộc lộ.
2. Nội dung quy luật lợi ích cận biên giảm dần?
Trong kinh tế học, chúng ta có thể thấy quy luật lợi ích cận biên giảm dần cho rằng, lợi ích cận biên của hàng hóa hoặc dịch vụ giảm khi nguồn cung sẵn có của nó tăng lên. Theo đó mà các tác nhân kinh tế sẽ khiến lần lượt các đơn vị của hàng hóa hoặc dịch vụ ngày càng giảm đi, cho đến khi nó hết giá trị. Quy luật lợi ích cận biên giảm dần được sử dụng để giải thích cho các hiện tượng kinh tế khác, chẳng hạn như lý thuyết về thị hiếu theo thời gian.
Bất cứ khi nào một cá nhân tương tác với một hàng hóa kinh tế, thì cá nhân đó hành động theo cách thể hiện thứ tự mà họ coi trọng việc sử dụng hàng hóa đó. Do đó, đơn vị đầu tiên được tiêu thụ, là dành cho mục đích có giá trị nhất của cá nhân đó. Đơn vị thứ hai được dành cho mục đích có giá trị thứ hai, và cứ như vậy.
Nói cách khác, qui luật lợi ích cận biên giảm dần qui định rằng, khi người tiêu dùng đi chợ để mua hàng hóa, họ không coi trọng tất cả các mặt hàng họ mua như nhau. Họ sẽ trả nhiều tiền hơn cho một số mặt hàng và ít hơn cho những mặt hàng khác.
3. Ý nghĩa của quy luật lợi ích cận biên giảm dần?
Trong quá trình tiêu dùng, lợi ích mà khách hàng cảm nhận được từ sản phẩm chính là giá trị của sản phẩm đó. Thông thường, giá trị sử dụng luôn lớn hơn giá trị trao đổi nhờ quá trình để sản xuất ra một sản phẩm rất cầu kỳ.
Ví dụ: Bạn mua chiếc xe máy 20 triệu đồng thì bạn có thể tạo ra được thu nhập lớn hơn so với giá trị khi bạn mua chiếc xe đó. Tuy nhiên nếu bạn mua 2 chiếc cùng lúc nhưng nhu cầu của bạn chỉ cần một chiếc thì sẽ có một chiếc ít sử dụng hơn. Và khi đó, lợi ích cận biên của nó sẽ giảm.
Xét về các mặt hàng tiêu dùng thì có thể sử dụng số lượng nhiều ở cùng một thời điểm.
Ví dụ như bia; khi uống lon bia đầu tiên, lợi ích của nó cao hơn 20.000 VNĐ mà bạn bỏ ra để mua nó. Nhưng khi sử dụng tới một mức độ nào đó bạn sẽ nhận ra nó không còn xứng với 20.000 VNĐ của bạn.
Đây là tiền đề cho quá trình định giá sản phẩm. Có hai cách định giá phổ biến như sau:
- Định giá theo chi phí = Tổng chi phí + lợi nhuận mong muốn
- Định giá theo nhu cầu: dựa trên giá mà khách hàng sẵn sàng chi trả cho dịch vụ sản phẩm đó.
Như vậy, tiếp tục xét trên ví dụ trên thì cốc bia đầu tiên nên bán với giá 30.000 VNĐ thay vì 20.000 VNĐ, sau đó cốc thứ 2 giảm dần còn còn 18.000 VNĐ. Khi đó khách hàng sẽ thấy được lợi nhuận cận biên tăng dần và tiếp tục sử dụng.
4. Ví dụ về quy luật cận biên giảm dần?
Ví dụ 1: một người bị dạt vào một hòn đảo hoang, tìm thấy một thùng nước đóng chai trên bờ biển. Người đó có thể uống chai đầu tiên, và điều này cho thấy việc thỏa mãn cơn khát cho người đó là lợi ích quan trọng nhất của chai nước. Người này có thể rửa ráy bằng chai thứ hai hoặc quyết định để dành nó cho sau này. Nếu người đó có thể để dành, điều này cho thấy rằng, người đó coi trọng việc sử dụng nước trong tương lai hơn là việc rửa ráy hiện tại, nhưng độ coi trọng vẫn ít hơn là việc làm dịu cơn khát ngay lập tức. Điều này được gọi là thị hiếu theo thời gian. Khái niệm này giúp giải thích việc tiết kiệm và đầu tư so với tiêu dùng và chi tiêu hiện tại.
Ví dụ trên giúp giải thích lý do tại sao đường cầu dốc xuống trong các mô hình kinh tế vi mô, vì mỗi đơn vị hàng hóa hoặc dịch vụ bổ sung được đưa vào có giá trị nhỏ hơn. Ứng dụng này của qui luật lợi ích cận biên giảm dần cho thấy lý do tại sao sự gia tăng của dung lượng tiền (hoặc những thứ tương đương) làm giảm giá trị trao đổi của một đơn vị tiền vì mỗi đơn vị tiền được sử dụng để mua bán sẽ lần lượt có giá trị ít hơn.
Ví dụ về trao đổi tiền tệ đã cung cấp một lập luận kinh tế chống lại sự thao túng lãi suất bởi các ngân hàng trung ương. Vì lãi suất ảnh hưởng đến thói quen tiết kiệm và chi tiêu của người tiêu dùng hoặc doanh nghiệp. Việc bóp méo lãi suất khuyến khích người tiêu dùng chi tiêu hoặc tiết kiệm theo thị hiếu thời gian thực tế của họ, dẫn đến thặng dư có thể xảy ra hoặc sự thiếu hụt trong vốn đầu tư cơ bản.
Ví dụ 2: khi cốc bia đầu tiên bạn có thể bán với giá là 10.000 đồng thay vì giá cũ 5.000 đồng; từ cốc thứ hai sẽ giảm 1.000 đồng tức là còn 9.000 đồng... Như vậy người uống sẽ liên tục nhận thấy được lợi ích cận biên của họ luôn cao hơn giá thành chi trả cho cốc bia. Khi này việc định giá bia sẽ được thực hiện theo nguyên tắc lợi nhuận giảm dần cho đến khi bằng 0 thì ngừng.
Một trong những vấn đề khó khăn ở đây chính là nếu như có giá độc quyền thì còn có thể thực hiện được ý tưởng nói trên. Tuy nhiên khi có nhiều người bán bia, nếu ta bán với giá 10.000 đồng mà quán kế bên bán 5.000 đồng thì khách hàng sẽ đổ xô sang bên đó.
Ví dụ 3: Bạn có thể mua một loại đồ uống nhất định trong một khoảng thời gian. Dần dần, bạn có thể có mua ít đi hoặc chọn được loại đồ uống khác, do sự hài lòng ban đầu của bạn về đồ uống đó đang giảm dần.
Ví dụ 4: một nhà máy sản xuất có nguồn vốn, bao gồm công cụ và máy móc, được cố định, trong khi nguồn cung lao động thì luôn dồi dào. Khi nhà máy này quyết định tăng thêm số lượng nhân công thì tổng sản lượng đầu ra cũng tăng lên nhưng với tốc độ giảm dần. Điều này xảy ra bởi vì sau một thời điểm nhất định nào đó, số lượng nhân công trong nhà máy trở nên quá đông và các công nhân bắt đầu phải xếp hàng để từng người một lần lượt sử dụng máy móc, công cụ. Giải pháp dài hạn cho vấn đề này là tăng lượng vốn, tức là nên mua thêm máy móc, công cụ và xây dựng thêm nhà máy.
Như vậy trên đây là toàn bộ thông tin về Nội dung quy luật lợi ích cận biên giảm dần? Ý nghĩa và ví dụ mà Công ty Luật Minh Khuê muốn gửi đến quý khách mang tính tham khảo. Nếu quý khách còn vướng mắc về vấn đề trên hoặc mọi vấn đề pháp lý khác, quý khách hãy vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến theo số điện thoại 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp qua tổng đài kịp thời hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc.