Luật sư tư vấn:

Như chúng ta đã biết, mối quan hệ lao động được xem là một trong những mối quan hệ phổ biến nhất, bên cạnh các mối quan hệ khác ví dụ như mối quan hệ dân sự, mối quan hệ thương mại, mối quan hệ kinh doanh. Hàng chục triệu người lao động và hàng triệu tổ chức, doanh nghiệp tại Việt Nam đang duy trì các mối quan hệ lao động, cùng với hàng nghìn văn bản pháp lý từ Luật, Nghị định, Thông tư, công văn được các cơ quan Nhà nước có thẩm quyển từ Trung ương đến các cấp ở địa phương ban hành trong nhiều thời kỳ khác nhau để điều chỉnh và quản lý mối quan hệ này. Với số lượng văn bản pháp lý đồ sộ được ban hành ở nhiều thời kỳ khác nhau như vậy, thật khó để bạn đọc có thể tìm, đọc, hiểu và áp dụng đúng và đầy đủ, làm mất khá nhiều thời gian không chỉ cho những người bình thường mà ngay cả những nhà làm luật, những người nghiên cứu pháp luật, người làm công tác nhân sự trong doanh nghiệp, luật sư nội bộ, luật sư hành nghề, luật gia và các viên chức ở các cơ quan Nhà nước có liên quan.

Trên thực tế, có không ít văn bản pháp lý được ban hành với nội dung khá chung chung, chưa rõ ràng hay có thể được hiểu ở nhiều cách khác nhau tùy theo người đọc đang nhìn ở góc độ nào hoặc các văn bản pháp luật này thậm chí còn mâu thuẫn với nội dung của các văn bản pháp luật khác, khiến người đọc cảm thấy khó hiểu và không yên tâm khi áp dụng.

 

1. Đối tượng áp dụng của Bộ luật Lao động là ai ?

Theo quy định tại Điều 2 Bộ luật Lao động năm 2019 , đối tượng áp dụng của Bộ luật Lao động bao gồm:

Người lao động Việt Nam 

(Khoản 1, Điều 3 và khoản 4, điều 18 Bộ luật Lao động)

-  Người lao động từ đủ 18 tuổi trở lên;

-  Người lao động từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi có sự đồng ý bằng văn bản của người đại diện theo pháp luật của người lao động;

-  Người chưa đủ 15 tuổi và người đại diện theo pháp luật của người đó; và - Người lao động phải có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động.

Người học nghề, tập nghề 

(Căn cứ theo điều 61 Bộ luật Lao động năm 2019 hiện đang áp dụng).

-  Người học nghề là người được người sử dụng lao động tuyển vào doanh nghiệp để đào tạo nghề nghiệp tại nơi làm việc;

-  Người học nghề là người được người sử dụng lao động tuyển vào doanh nghiệp để hướng dẫn thực hành công việc, tập làm nghề theo vị trí việc làm tại nơi làm việc;

-  Người học nghề, tập nghề phải đủ 14 tuổi và có đủ sức khỏe phù hợp với yêu cầu của nghề; đối với các công việc nặng nhọc độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm do Bộ Lao động – Thương binh Xã hội ban hành phải từ đủ 18 tuổi trở lên, trừ các lĩnh vực nghệ thuật, thể dục, thể thao.

Người làm việc không có quan hệ lao động 

(Khoản 6, Điều 3 của Bộ luật Lao động năm 2019)

Người làm việc không trên cơ sở thuê mướn thông qua việc giao kết hợp đồng lao động.

Người sử dụng lao động 

(khoản 2, điều 3 và Khoản 3, điều 18 Bộ luật Lao động).

Doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, hợp tác xã, hộ gia đình, cá nhân có thuê mướn, sử dụng lao động theo thỏa thuận; nếu là cá nhân thì phải có năng lực hành vi dân sự đầy đủ.
Người lao động là người nước ngoài làm việc tại Việt Nam Người lao động là công dân nước ngoài vào làm việc tại Việt Nam dưái các hình thức được quy định tại khoản 1, điều 2 Nghị định 152/2020/NĐ-CP của Chính phủ ngày 30/12/2020.
Cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan trực tiếp đến quan hệ lao động Cơ quan, cá nhân quản lý Nhà nước về lao động: Sở Lao động, Thương binh và Xã hội, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Tòa án nhân dân các cấp; chủ tịch Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh... và các cơ quan, tổ chức khác.
 

    

2. Quan hệ pháp luật nào sẽ chịu sự điều chỉnh của pháp luật lao động ? 

Bộ luật Lao động quy định quyển, nghĩa vụ và trách nhiệm của người lao động và người sử dụng lao động trong mối quan hệ lao động, cụ thể là mối quan hệ thuê mướn, sử dụng và trả lương giữa người sử dụng lao động và người lao động, và các mối quan hệ khác có liên quan trực tiếp đến mối quan hệ lao động.

 

3. Mối quan hệ giữa hợp đồng lao động và quan hệ lao động ?

Một câu hỏi đặt ra là hợp đồng lao động đang có hiệu lực có phải là một tiền đề bắt buộc để chứng minh giữa các bên có mối quan hệ lao động không ?

Ngoài các mối quan hệ được thiết lập từ hợp đồng lao động, Bộ luật Lao động còn điều chỉnh những mối quan hệ lao động phát sinh trong quá trình người lao động được dạy nghề, học nghề, đưa đi đào tạo, quá trình thử việc (Điều 59, 61 và 62 Bộ luật lao động năm 2019 hiện nay và Điều 24 Bộ luật lao động năm 2019). Đối với người lao động là người nước ngoài làm việc tại Việt Nam, chỉ khi nào họ làm việc dưới hình thức thực hiện hợp đồng lao động thì các bên mới giao kết hợp đồng lao động. Các hình thức làm việc khác của người lao động là người nước ngoài làm việc tại Việt Nam (ví dụ như di chuyển trong nội bộ doanh nghiệp hay để thực hiện các hợp đồng kinh tế, thương mại, dịch vụ) sẽ không được yêu cầu phải giao kết hợp đồng lao động. Theo đó, hợp đồng lao động không phải là tiền đề bắt buộc của mối quan hệ lao động trong mọi trường hợp.

Cụ thể, theo quy định tại Điều 13 Bộ luật Lao động, hợp đồng lao động là sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả công, tiền lương, điều kiện lao động, quyển và nghĩa vụ của mỗi bên trong mối quan hệ lao động. Bên cạnh đó, Bộ luật Lao động còn điều chỉnh những mối quan hệ lao động phát sinh trong quá trình đào tạo nghề. Do đó, chỉ căn cứ vào hợp đồng lao động để xác định mối quan hệ lao động giữa người sử dụng lao động và người lao động là chưa thật sự đầy đủ mà cần xem xét đến các mối quan hệ lao động khác đã hình thành trước khi các bên giao kết hợp đồng lao động chẳng hạn như hợp đồng thử việc trong quá trình thử việc, hợp đồng đào tạo nghề trong quá trình đào tạo nghề. Đó là chưa kể đến việc xác định mối quan hệ lao động nếu người lao động là người nước ngoài cũng không thể chỉ đơn thuần dựa vào hợp đồng lao động vì việc giao kết hợp đồng lao động với người lao động là người nước ngoài đã có giấy phép lao động chỉ áp dụng đối với trường hợp người lao động là người nước ngoài làm việc tại Việt Nam theo hình thức thực hiện hợp đồng lao động (Khoản 1, điều 2 (a) Nghị định 152/2020/NĐ-CP của Chính phủ ngày 30/12/2020).

Mọi vướng mắc pháp lý trong lĩnh vực lao động vui lòng liên hệ: Luật sư tư vấn pháp luật lao động trực tuyến, gọi ngay: 1900.6162 để được giải đáp ngay lập tức vướng mắc của Bạn.