1. Hợp đồng lao động điện tử có giá trị pháp lý hay không?
Theo quy định của khoản 1 Điều 14 Bộ luật Lao động 2019, việc giao kết hợp đồng lao động tại Việt Nam được xác định bằng văn bản, đặc biệt làm rõ các điểm sau: Hợp đồng lao động phải được thực hiện theo hình thức bằng văn bản, và quy trình này đòi hỏi việc làm thành 02 bản, với người lao động giữ 01 bản và người sử dụng lao động giữ 01 bản. Điều này nhằm đảm bảo quyền lợi và trách nhiệm của cả hai bên đối tác lao động.
Đồng thời, theo quy định mới, có sự thay đổi tích cực khi hợp đồng lao động cũng có thể được giao kết thông qua phương tiện điện tử. Trong trường hợp này, phương tiện điện tử phải tuân thủ các quy định của pháp luật về giao dịch điện tử có giá trị, đồng nghĩa với việc hợp đồng lao động qua phương tiện điện tử sẽ được coi như là hợp đồng lao động bằng văn bản và có giá trị pháp lý tương đương.
Sử dụng phương tiện điện tử để giao kết hợp đồng lao động không chỉ giúp tối ưu hóa quy trình mà còn giảm bớt thủ tục giấy tờ, đồng thời phản ánh sự hòa nhập của nền kinh tế và quản lý lao động với công nghệ số. Tuy nhiên, đối với cả hai hình thức, quan trọng nhất là đảm bảo rằng hợp đồng lao động được ghi chú rõ ràng, đầy đủ thông tin, và tuân thủ đúng quy định của pháp luật lao động để bảo vệ quyền và lợi ích của cả người lao động và người sử dụng lao động.
Theo quy định tại Điều 33 của Luật Giao dịch điện tử 2005, hợp đồng điện tử là một hợp đồng được thiết lập dưới dạng thông điệp dữ liệu theo quy định của Luật này. Trong trường hợp hợp đồng lao động, giao kết qua phương tiện thông tin điện tử đề cập đến sự thoả thuận giữa hai bên về việc làm có trả công. Hợp đồng lao động điện tử được tạo ra, gửi đi, nhận, và lưu trữ bằng phương tiện điện tử.
Hợp đồng lao động điện tử, theo đó, là một biểu hiện của sự đồng thuận giữa nhà tuyển dụng và người lao động thông qua các phương tiện truyền thông điện tử. Trong nó, được quy định rõ các điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của cả hai bên trong quan hệ lao động. Hợp đồng này không chỉ được tạo ra mà còn được gửi đi, nhận và lưu trữ một cách an toàn, tiện lợi thông qua các phương tiện điện tử.
Quan trọng hơn, quy định rằng hợp đồng lao động điện tử có giá trị thực tế như hợp đồng lao động bằng văn bản. Điều này đồng nghĩa với việc hợp đồng lao động điện tử được công nhận và thực thi một cách hợp pháp và có cùng giá trị pháp lý như các hợp đồng lao động truyền thống được ký bằng văn bản. Việc này giúp tối ưu hóa quá trình giao dịch và quản lý lao động trong môi trường kinh doanh hiện đại, nâng cao tính hiệu quả và tiện lợi trong quản lý nhân sự.
2. Thẩm quyền giao kết hợp đồng điện tử theo quy định
Theo quy định của Điều 18 Bộ luật Lao động 2019 về thẩm quyền giao kết hợp đồng lao động, như sau:
- Người lao động trực tiếp giao kết hợp đồng lao động: Người lao động có quyền và trách nhiệm tự do giao kết hợp đồng lao động mà không cần sự ủy quyền của bên khác.
- Hợp đồng lao động đối với công việc theo mùa vụ hoặc có thời hạn dưới 12 tháng:
+ Nhóm người lao động từ đủ 18 tuổi trở lên có thể ủy quyền cho một người lao động trong nhóm để giao kết hợp đồng lao động.
+ Hợp đồng lao động phải được làm bằng văn bản và có hiệu lực như giao kết với từng người lao động.
+ Hợp đồng lao động do người được ủy quyền ký kết phải kèm theo danh sách ghi rõ thông tin của từng người lao động.
- Người giao kết hợp đồng lao động bên phía người sử dụng lao động (NSĐLĐ): Người giao kết hợp đồng lao động bên NSĐLĐ có thể là đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, người đứng đầu cơ quan, tổ chức có tư cách pháp nhân, người đại diện của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức không có tư cách pháp nhân, hoặc cá nhân trực tiếp sử dụng lao động.
- Người giao kết hợp đồng lao động bên phía người lao động (NLĐ): Người giao kết hợp đồng lao động bên phía người lao động có thể là người từ đủ 18 tuổi trở lên, người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi khi có sự đồng ý bằng văn bản của người đại diện theo pháp luật, người chưa đủ 15 tuổi và người đại diện theo pháp luật của người đó.
- Người được ủy quyền giao kết hợp đồng lao động: Người được ủy quyền giao kết hợp đồng lao động không được ủy quyền lại cho người khác giao kết hợp đồng lao động.
Từ các quy định trên, thẩm quyền giao kết hợp đồng lao động được phân chia rõ ràng thành 2 trường hợp cụ thể: bên phía người lao động và bên phía người sử dụng lao động.
Bên phía người lao động:
Người lao động có thể trực tiếp giao kết hợp đồng lao động, trừ khi có trường hợp khác như sau:
- Đối với công việc theo mùa vụ hoặc công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng, nhóm người lao động từ 18 tuổi trở lên có thể ủy quyền cho một người lao động trong nhóm để giao kết hợp đồng lao động.
+ Hợp đồng lao động phải được lập bằng văn bản và có hiệu lực tương đương với việc giao kết với từng người lao động.
+ Hợp đồng lao động do người được ủy quyền ký kết phải đi kèm với danh sách chi tiết, ghi rõ họ tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, nơi cư trú và chữ ký của từng người lao động.
Người giao kết hợp đồng lao động bên phía người lao động có thể thuộc một số trường hợp sau đây:
+ Người lao động từ 18 tuổi trở lên.
+ Người lao động từ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi có sự đồng ý bằng văn bản của người đại diện theo pháp luật.
+ Người chưa đủ 15 tuổi và người đại diện theo pháp luật.
+ Người lao động được những người lao động trong nhóm ủy quyền hợp pháp giao kết hợp đồng lao động.
Bên phía người sử dụng lao động:
Người sử dụng lao động có thể là:
- Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp hoặc người được ủy quyền theo quy định của pháp luật.
- Người đứng đầu cơ quan, tổ chức có tư cách pháp nhân hoặc người được ủy quyền theo quy định của pháp luật.
- Người đại diện của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân hoặc người được ủy quyền theo quy định của pháp luật.
- Cá nhân trực tiếp sử dụng lao động.
3. Người lao động có thể giao kết nhiều hợp đồng lao động điện tử hay không?
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 19 Bộ luật Lao động 2019 quy định về việc giao kết nhiều hợp đồng lao động:
- Quyền của Người lao động:
+ Người lao động được phép giao kết nhiều hợp đồng lao động với nhiều người sử dụng lao động khác nhau.
+ Quyền này giúp người lao động có nhiều cơ hội làm việc trong các lĩnh vực khác nhau và tối ưu hóa kỹ năng, kinh nghiệm của mình.
- Điều kiện và Bảo đảm thực hiện đầy đủ nội dung đã giao kết:
+ Trong quá trình giao kết nhiều hợp đồng lao động, người lao động cần tuân thủ các điều kiện quy định của từng hợp đồng.
+ Bảo đảm thực hiện đầy đủ các nội dung đã giao kết trong từng hợp đồng, bao gồm cả các điều khoản về công việc, thời gian làm việc, lương thưởng, chế độ phúc lợi, và các quy định khác.
- Quản lý công việc và thời gian: Người lao động cần tổ chức công việc và thời gian làm việc một cách hiệu quả để đảm bảo có thể thực hiện đầy đủ các cam kết đã giao kết trong các hợp đồng lao động.
- Tuân thủ quy định pháp luật: Trong quá trình giao kết và thực hiện nhiều hợp đồng lao động, người lao động cần tuân thủ đúng các quy định của pháp luật lao động để tránh xâm phạm quyền và lợi ích của cả bản thân và các bên liên quan.
Quý khách có nhu cầu xem thêm bài viết sau: Khi giao kết hợp đồng lao động cần phải tuân thủ những nguyên tắc nào ?
Nếu quý khách hàng đang gặp phải bất kỳ vấn đề pháp lý nào hoặc có câu hỏi cần được giải đáp, xin vui lòng không ngần ngại liên hệ với chúng tôi thông qua Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến qua số hotline 1900.6162. Đội ngũ chuyên gia của chúng tôi sẵn sàng lắng nghe và cung cấp sự tư vấn chuyên nghiệp để giúp quý khách giải quyết mọi vấn đề một cách hiệu quả và đúng luật. Ngoài ra, quý khách hàng cũng có thể gửi yêu cầu chi tiết qua email: lienhe@luatminhkhue.vn để được hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc một cách nhanh chóng. Chúng tôi cam kết đáp ứng mọi yêu cầu của quý khách hàng một cách chu đáo và chất lượng.