chỉnh quan hệ hợp đồng giữa tổ chức, cá nhân kinh doanh và người tiêu dùng giúp khắc phục vị thế yếu thế của người tiêu dùng khi thương lượng, giao kết hợp đồng với tổ chức, cá nhân kinh doanh là cần thiết. Trong đó có các quy định về hợp đồng theo mẫu, các điều kiện giao dịch chung.

1. Khái niệm hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung

Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội một cách nhanh chóng, đời sống của nhân dân cũng đã không ngừng được cải thiện, người dân từ nhu cầu “ăn no mặc ấm” dần dần chuyển sang nhu cầu “ăn ngon mặc đẹp”, các hàng hóa, dịch vụ xa xỉ cũng được người tiêu dùng Việt Nam đón nhận một cách sôi động. Đã có những doanh nghiệp có số lượng người tiêu dùng lên đến hàng nghìn, thậm chí hàng triệu người, nhất là các doanh nghiệp kinh doanh hàng hóa dịch vụ thiết yếu đối với người tiêu dùng và doanh nghiệp lớn khác. Để phù hợp với số lượng người tiêu dùng ngày càng tăng cũng như tạo thuận lợi trong hoạt động kinh doanh của mình, nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp có số lượng khách hàng lớn đã lựa chọn giải pháp là đưa ra các quy định, hợp đồng mẫu, điều kiện bán hàng (sau đây gọi tắt là “điều kiện giao dịch chung”) áp dụng cho tất cả các khách hàng của mình.

Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010 sửa đổi, bổ sung 2018 (sau dây gọi là Luật BVQLNTD) đã đưa ra khái niệm về hợp đồng theo mẫu và điều kiện giao dịch chung như sau:

Hợp đồng theo mẫu là hợp đồng do tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa dịch vụ soạn thảo để giao dịch với người tiêu dùng. (Khoản 5 Điều 3)

Điều kiện giao dịch chung là những quy định, quy tắc bán hàng, cung ứng dịch vụ do tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ công bố và áp dụng đối với người tiêu dùng. (Khoản 6 Điều 3)

Từ hai khái niệm trên có thể thấy nội hàm hai khái niệm này tương đối giống nhau hay nói đúng hơn, hợp đồng theo mẫu cũng được coi như là “điều kiện giao dịch chung”. Bởi vì, hợp đồng theo mẫu cũng có đầy đủ các đặc điểm giống như “điều kiện giao dịch chung”.

Do đó, mặc dù Luật bảo vệ người tiêu dùng sử dụng hai khái niệm khác nhau nhưng theo giáo trình trường Đại học Luật Hà Nội, về bản chất hai khái niệm này là đồng nhất và nên sử dụng khái niệm chung là “điều kiện giao dịch chung” đề phù hợp với thực tế và thông lệ trên thế giới.

2. Đặc điểm của hợp đồng theo mẫu - điều kiện giao dịch chung

Thứ nhất, điều kiện giao dịch chung là những quy định, quy tắc, điều kiện do thương nhân đơn phương ban hành. Đây có thể coi là đặc điểm nổi bật nhất của điều kiện giao dịch chung. Để phục vụ cho hoạt động kinh doanh của mình, thương nhân thường đưa ra những nguyên tắc, quy định áp dụng cho người tiêu dùng khi mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ của mình. Những quy tắc, quy định này được ban hành một cách đơn phương mà không có bất cứ sự thỏa thuận nào giữa thương nhân và người tiêu dùng. Hay nói cách khác, điều kiện giao dịch chung chỉ thể hiện ý chí của thương nhân và phục vụ chủ yếu cho mục đích kinh doanh của thương nhân. Các quy tắc, điều kiện đó là sự ràng buộc đối với người tiêu dùng và họ không thể thay đổi, sửa chữa hay hủy bỏ các quy tắc, quy định bó buộc.

Thứ hai, điều kiện giao dịch chung được áp dụng chủ yếu cho người tiêu dùng. Mục đích của thương nhân khi ban hành các điều kiện giao dịch chung là để tạo điều kiện thuận lợi cho họ trong quá trình giao dịch với người tiêu dùng. Do vậy, đối tượng áp dụng chủ yếu của điều kiện giao dịch chung là người tiêu dùng. Thương nhân khi ban hành các điều kiện chung không hướng tới các đối tượng khác như các nhà cung cấp nguyên liệu, phụ kiện, các khách hàng lớn mà chủ yếu là để áp dụng cho đối tượng là người tiêu dùng nhỏ lẻ. Điều này xuất phát từ thực tiễn kinh doanh của thương nhân khi số lượng người tiêu dùng của họ là quá lớn không cho phép sử dụng các hình thức giao kết hợp đồng truyền thống dựa trên các nguyên tắc tự do, tự nguyện.

Xét dưới khía cạnh LBVQLNTD năm 2010, đặc trưng thứ hai của hợp đồng theo mẫu chính là yếu tố chủ thể và mục đích giao kết hợp đồng, theo đó, hợp đồng theo mẫu là một loại hợp đồng được sử dụng trong các giao dịch giữa tổ chức, cá nhân kinh doanh với người tiêu dùng.

- Một bên chủ thể trong giao dịch: cá nhân hoặc tổ chức kinh doanh, những người tham gia giao dịch với mục đích sinh lợi và coi các giao dịch thương mại là nghề nghiệp của mình;

-Bên còn lại là người tiêu dùng. Ở đây, theo định nghĩa của LBVQLNTD năm 2010 được hiểu là không chỉ cá nhân mà bao gồm các tổ chức, pháp nhân, hộ gia đình, miễn sao họ phải thỏa mãn điều kiện: họ tham gia giao dịch không phải với mục đích sinh lợi mà với mục đích tiêu dùng sinh hoạt.

Trong quan hệ hợp đồng, vị thế giữa nhà kinh doanh và người tiêu dùng có một sự chênh lệch khá rõ ràng. Trong khi nhà kinh doanh – trong quá trình soạn thảo hợp đồng theo mẫu, họ thường thuê các luật sư tư vấn pháp luật, trong nhiều lĩnh vực như ngân hàng, bảo hiểm, các nhà kinh doanh còn sử dụng một hệ thống chuyên viên tại phòng pháp chế để thảo ra từng điều khoản, còn người tiêu dùng với mục tiêu đơn giản là đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thường có tiếng nói rất nhỏ bé, đơn lẻ khi đứng trước các nhà kinh doanh. Sự bất cân xứng về vị thế trong giao kết cũng chính là một đặc trưng theo hợp đồng theo mẫu.

Như vậy có thể thấy, mục đích của loại giao dịch này là: Đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh (bên soạn thỏa hợp đồng theo mẫu) thì mục đích của họ là sinh lợi; Còn đối với người tiêu dùng (bên gia nhập hợp đồng theo mẫu) thì mục đích của họ nhằm được đáp ứng, thỏa mãn các nhu cầu trong sinh hoạt, tiêu dùng.

Thứ ba, điều kiện giao dịch chung áp dụng cho nhiều người tiêu dùng và sử dụng nhiều lần.

Các quy tắc, quy định mà thương nhân ban hành không hướng tới người tiêu dùng cụ thể hay trường hợp cụ thể mà nó như “luật” riêng mà thương nhân áp dụng cho nhiều người tiêu dùng và sử dụng một cách lâu dài. Phương thức bán hàng hóa truyền thống dựa trên cơ sở hợp đồng được giao kết với từng đối tượng theo cách thức khác nhau và các quyền, nghĩa vụ cũng có thể có sự khác nhau trên cơ sở thương lượng, thỏa thuận giữa thương nhân với người tiêu dùng. Tuy nhiên, khi sử dụng điều kiện giao dịch chung thì dường như không có bất kì sự phân biệt nào giữa người tiêu dùng với nhau, hay nói cách khác là các quy tắc, quy định mặc nhiên áp dụng cho tất cả người tiêu dùng khi xác lập giao dịch với thương nhân.

3. Phân loại điều kiện giao dịch chung

Thứ nhất, điều kiện giao dịch chung được thể hiện dưới dạng các quy tắc, quy định

Trong loại này, điều kiện giao dịch chung được thể hiện dưới dạng các quy tắc bán hàng, quy định bán hàng mà thương nhân ban hành. Các quy tắc, quy định có khi được thể hiện một cách công khai tại các địa điểm bán hàng của thương nhân nhưng cũng không ít trường hợp các nguyên tắc, quy định này chỉ được phổ biến rất hạn chế. Vì vậy, trong nhiều trường hợp, chỉ khi có tranh chấp xảy ra hay khi người tiêu dùng có yêu cầu thì họ mới có thể tiếp cận được với các điều kiện giao dịch chung này.

Thứ hai là dạng các hợp đồng theo mẫu

Bản chất của hợp đồng là sự thỏa thuận giữa các bên. Tuy nhiên, hợp đồng theo mẫu với tính chất là một loại điều kiện giao dịch chung lại không được giao kết theo cách thức thông thường đó mà lại do ý chí đơn phương của thương nhân. Vì vậy, mặc dù được coi là “hợp đồng” nhưng người tiêu dùng sẽ không có điều kiện để đàm phán các điều khoản trong đó mà chỉ có thể chấp nhận toàn bộ hợp đồng hoặc từ chối giao kết hợp đồng. Đây là loại điều kiện giao dịch chung rất phổ biến hiện nay.

Hợp đồng theo mẫu và điều kiện giao dịch chung với người tiêu dùng được quy định từ Điều 7 đến Điều 16 Nghị định 99/2011/NĐ-CP Nghị định quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, cụ thể như sau:

Hợp đồng theo mẫu và điều kiện giao dịch chung phải được lập thành văn bản và phải đáp ứng đủ các điều kiện sau:

- Ngôn ngữ sử dụng bằng tiếng Việt, nội dung phải rõ ràng, dễ hiểu; cỡ chữ ít nhất là 12;

- Nền giấy và màu mực thể hiện nội dung hợp đồng theo mẫu và điều kiện giao dịch chung phải tương phản nhau. Trước khi áp dụng hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung thuộc danh mục hàng hóa, dịch vụ phải đăng ký theo quy định của Thủ tướng Chính phủ, tổ chức, cá nhân kinh doanh phải thực hiện việc đăng ký theo quy định của nghị định này. Hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung chỉ được áp dụng đối với người tiêu dùng khi việc đăng ký được hoàn thành theo quy định tại Điều 14 Nghị định 99/2011/NĐ-CP.

Các hợp đồng theo mẫu và điều kiện giao dịch chung áp dụng trên phạm vi cả nước hoặc áp dụng trên phạm vi từ hai tỉnh trở lên phải đăng ký với Bộ Công thương và với sở công thương nếu có phạm vi áp dụng trong tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Hồ sơ đăng ký hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung bao gồm các tài liệu sau:

- Đơn đăng ký nêu rõ địa chỉ, ngành nghề kinh doanh của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ. Bộ Công thương hướng dẫn mẫu đơn đăng ký;

- Dự thảo hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung. Chậm nhất 20 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, cơ quan có thẩm quyền đăng ký có trách nhiệm ra thông báo về việc chấp nhận đăng ký hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung và gửi cho tổ chức, cá nhân kinh doanh. Trong trường hợp không chấp nhận đăng ký hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải gửi văn bản trả lời cho tổ chức, cá nhân kinh doanh trong đó nói rõ lý do không chấp nhận. Sau khi hoàn thành thủ tục đăng ký, hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung được công bố công khai và lưu trữ trên trang thông tin điện tử của cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận đăng ký.

Khi thay đổi nội dung hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung thì tổ chức, cá nhân kinh doanh phải đăng ký lại hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung. Thủ tục đăng ký lại hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung được thực hiện như đăng ký lần đầu theo quy định của Nghị định 99/2011/NĐ-CP.

4. Rủi ro với người tiêu dùng khi sử dụng hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung

Do người tiêu dùng không được trực tiếp tham gia đàm phán, thỏa thuận các điều khoản trong các hợp đồng theo mẫu cũng như phải chấp nhận điều kiện giao dịch khác một cách bị động nên trong nhiều trường hợp người tiêu dùng gặp nhiều rủi ro. Thực tiễn cho thấy khi tổ chức, cá nhân kinh doanh sử dụng điều kiện giao dịch chung, người tiêu dùng có thể bị xâm phạm thông tin qua các hình thức sau:

Thứ nhất, điều kiện giao dịch chung có những quy định nhằm hạn chế, loại bỏ quyền của người tiêu dùng. Dựa trên cơ sở tự do thỏa thuận tự do giao kết của Pháp luật dân sự mà trong nhiều hợp đồng theo mẫu, quy tắc bán hàng thương nhân quy địn: “người tiêu dùng không được khiếu nại sau khi đã mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ” hay “hàng hóa đã mang ra khỏi cửa hàng thì không được trả lại với bất cứ lí do gì”,… Trong trường hợp người tiêu dùng đăng kí vào các bản hợp đồng hay chấp nhận các điều kiện bán hàng như vậy thì các quy định đó đương nhiên có hiệu lực trên thực tế. Tuy nhiên, rõ ràng đây là điều khoản hết sức bất lợi cho người tiêu dùng trong khi các quy định của pháp luật, họ hoàn toàn có quyền được khiếu nại, đổi hàng hóa có khuyết tật…

Thứ hai, trong nhiều trường hợp, khi đã đọc các hợp đồng như hợp đồng bảo hiểm, hợp đồng tín dụng, hợp đồng xây dựng, hợp đồng mua bán căn hộ … người tiêu dùng không thể nào hiểu được những từ ngữ quy định trong hợp đồng đó và do vậy đành phó mặc và “nhắm mắt kí”. Tất nhiên, các thuật ngữ chuyên môn nhiều khi rất khó để diễn tả một cách thông dụng để ai cũng hiểu được nhưng cũng không ít trường hợp thương nhân cố tình đưa ra những thuật ngữ nhằm “che mắt” người tiêu dùng. Rõ ràng người tiêu dùng cần hết sức cẩn thận khi giao kết những hợp đồng như vậy.

Thứ ba, thương nhân cố tình cản trở việc tiếp cận điều kiện giao dịch chung bằng việc đưa ra các điều kiện này dưới những phương thức không thuận tiện cho người tiêu dùng. Nhiều người phàn nàn khi họ phải kí kết các hợp đồng theo mẫu mà trong đó cỡ chữ cũng như cách trình bày rất khó đọc, đặc biệt đối với người cao tuổi, người thị lực kém. Các hợp đồng loại này thường là rất dài có khi lên cả chục trang và vì vậy trong nhiều trường hợp không thể đọc hết được vì là hợp đồng cần kí ngay. Trong trường hợp này, người tiêu dùng có nguy cơ chịu rủi ro rất lớn nếu có tranh chấp phát sinh.

5. trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh trong việc thực hiện hợp đồng theo mẫu và điều kiện giao dịch chung

Tại Việt Nam, trước khi Luật BVQLNTD ra đời thì Luật Dân sự 2005 đã có một số quy định liên quan đến hợp đồng theo mẫu. Ví dụ, Điều 407 BLDS có quy định:

2. Trong trường hợp hợp đồng theo mẫu có điều khoản không rõ ràng thì bên đưa ra hợp đồng theo mẫu phải chịu bất lợi khi giải thích điều khoản đó.

3. Trong trường hợp hợp đồng theo mẫu có điều khoản miễn trách nhiệm của bên đưa ra hợp đồng theo mẫu, tăng trách nhiệm hoặc loại bỏ quyền lợi chính đáng của bên kia thì điều khoản này không có hiệu lực, trừ trường hợp có thoả thuận khác

Tuy nhiên, các quy định của Bộ luật dân sự chưa thật sự đầy đủ, vẫn mang tính chất chung chung, thiếu những quy định cụ thể, trực tiếp bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng khi giao kết, thực hiện các điều kiện giao dịch chung. Điều đó được thể hiện ở các khía cạnh sau:

Thứ nhất, quy định của Bộ luật dân sự chưa trực tiếp hướng tới việc bảo vệ người tiêu dùng với tư cách là bên yếu thế trong quan hệ với thương nhân. Bộ luật dân sự chỉ quy định mang tính nguyên tắc mà chưa thể hiện được mục đích bảo vệ người tiêu dùng trong mối quan hệ với thương nhân. Bộ luật dân sự điều chỉnh hợp đồng dựa trên nguyên tắc tự do ý chí, tự do thỏa thuận nên chính vì vậy mà Bộ luật không đưa ra những điều khoản cụ thể để bảo vệ người tiêu dùng. Ngay cả trong trường hợp hợp đồng theo mẫu có điều khoản miễn trách nhiệm của bên đưa ra hợp đồng theo mẫu, tăng trách nhiệm hoặc loại bỏ quyền lợi chính đáng của bên kia thì hợp đồng vẫn sẽ không trở nên vô hiệu nếu như có sự đồng ý của 2 bên và có sự thỏa thuận khác (Khoản 3 Điều 407 Bộ luật dân sự năm 2005). Hay nói cách khác, Bộ luật dân sự vẫn ưu tiên áp dụng thỏa thuận của các bên trong quá trình giao kết, thực hiện hợp đồng. Trong khi đó, như đã đề cập, trong hợp đồng theo mẫu người tiêu dùng không có cơ hội để thỏa thuận, đàm phán hợp đồng mà phải chấp nhận toàn bộ các điều khoản của hợp đồngg nếu muốn xác lập quan hệ giao dịch. Vì vây, người tiêu dùng đã kí vào bản hợp đồng thì họ được coi như đã đồng ý với nội dung hợp đồng kể cả hợp đồng có những nội dung miễn trách nhiệm của thương nhân hay tăng trách nhiệm cho người tiêu dùng.

Thứ hai, bộ luật dân sự chưa dự liệu hết được các trường hợp vi phạm quyền lợi của người tiêu dùng thông qua hợp đồng theo mẫu. Quy định về hợp đồng theo mẫu trong Bộ luật dân sự chỉ mới đề cập tới 2 vấn đề ảnh hướng tới quyền lợi của người tiêu dùng, đó là quy định việc phải giải thích hợp đồng và trường hợp hợp đồng có nội dung giảm trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh hoặc tăng trách nhiệm của người tiêu dùng. Trong khi đó, thực tiễn công tác bảo vệ người tiêu dùng cho thấy nhiều hình thức vi phạm khác thể hiện trong các điều kiện giao dịch chung như: việc loại bỏ, hạn chế quyền của người tiêu dùng, việc sử dụng các thuật ngữ chuyên ngành khó hiểu gây nhầm lẫn cho người sử dụng, trường hợp sử dụng hình thức hợp đồng gây hạn chế khả năng tiếp cận của người tiêu dùng…

Thứ ba, Bộ luật dân sự chưa điều chỉnh hết các loại điều kiện giao dịch chung. Điều kiện giao dịch chung không chỉ tồn tại dưới hình thức hợp đồng theo mẫu mà còn thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như quy định, quy tắc bán hàng, điều kiện bán hàng… Đây là hình thức thể hiện rất phổ biến trên thực tế của điều kiện giao dịch chung. Chính các loại điều kiện chung này lại dễ vi phạm quyền lợi của người tiêu dùng trong quá trình xác lập và thực hiện giao dịch. Trong khi đó, Bộ luật dân sự cũng như văn bản quy phạm pháp luật có liên quan lại chưa đưa ra bất kì quy định nào để điều chỉnh những loại điều kiện giao dịch chung này.

Thứ tư, Bộ luật dân sự chưa đưa ra được cơ chế nào kiểm soát được các điều kiện giao dịch chung. Trong trường hợp người tiêu dùng không chấp nhận một phần hoặc toàn bộ điều kiện giao dịch chung thì họ có quyền từ chối xác lập giao dịch và chọn nguyên nhân khác để tiếp tục hợp đồng. Tuy nhiên, điều đó chỉ có thể thực hiện được với các loại hàng hóa, dịch vụ có nhiều thương nhân cung cấp hay nói cách khác là người tiêu dùng có nhiều lựa chọn.

Khắc phục những nhược điểm trên, thì Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010 đã quy định tổ chức, cá nhân kinh doanh có những trách nhiệm sau trong việc thực hiện hợp đồng theo mẫu và điều kiện giao dịch chung.

Thứ nhất, tổ chức cá nhân kinh doanh không được tiếp tục thực hiện các hợp đồng, các điều kiện giao dịch chung có nội dung xâm phạm quyền lợi người tiêu dùng.

Thứ hai, trong quá trình thực hiện hợp đồng theo mẫu và điều kiện giao dịch chung tổ chức, cá nhân kinh doanh phải thực hiện một số nghĩa vụ quy định tại Luật BVQLNTD như nghĩa vụ thực hiện hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung tại Điều 17, Điều 18 hoặc tuân thủ quy định về kiểm soát hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung tại Điều 19.

Các quy định này, về cơ bản đã tạo ra khuôn khổ pháp lý cũng như tạo môi trường lành mạnh, an tâm hơn cho người tiêu dùng khi tham gia giao kết các loại hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung này.

Trân trọng!