1. Hiểu thế nào về việc dự phòng tổn thất các khoản đầu tư?

Dự phòng tổn thất các khoản đầu tư là một khái niệm quan trọng trong lĩnh vực tài chính, đặc biệt là trong quản lý tài sản và đầu tư doanh nghiệp. Để hiểu rõ hơn về khái niệm này, chúng ta cần phải tìm hiểu các quy định và định nghĩa cụ thể của nó.

Theo khoản 2 của Điều 2 trong Thông tư 48/2019/TT-BTC, dự phòng tổn thất các khoản đầu tư được định nghĩa như sau: Đây là việc dự trữ một phần của giá trị tài sản đầu tư để chuẩn bị cho việc xử lý một khả năng mất mát trong tương lai. Cụ thể, dự phòng tổn thất có thể bao gồm việc dự trữ phần giá trị bị tổn thất có thể xảy ra do giảm giá của các loại chứng khoán doanh nghiệp mà doanh nghiệp đang nắm giữ.

Điều này có nghĩa là khi giá trị của các loại chứng khoán này giảm, doanh nghiệp cần dự trữ một phần của giá trị này để đối phó với nguy cơ mất mát. Điều này làm tăng tính ổn định và khả năng phòng ngừa rủi ro của doanh nghiệp trước biến động của thị trường tài chính.

Ngoài ra, dự phòng tổn thất cũng có thể bao gồm việc dự trữ để chuẩn bị cho các mất mát có thể xảy ra do suy giảm giá trị của các khoản đầu tư khác của doanh nghiệp vào các tổ chức kinh tế nhận vốn góp. Điều này không chỉ giới hạn ở các khoản đầu tư trong nước mà còn bao gồm cả các khoản đầu tư ra nước ngoài.

Ví dụ, nếu một doanh nghiệp đầu tư vào một tổ chức kinh tế khác mà giá trị của khoản đầu tư này suy giảm do tình hình kinh doanh không thuận lợi, hoặc do yếu tố khác như biến động của tỷ giá hoặc thị trường, doanh nghiệp cần dự trữ một phần của giá trị này để đối phó với rủi ro mất mát.

Điều này là cực kỳ quan trọng trong quản lý tài sản của doanh nghiệp vì nó giúp bảo vệ giá trị của tài sản và tăng cường khả năng chịu đựng của doanh nghiệp trước những biến động của thị trường. Dự phòng tổn thất cũng là một phần của chiến lược quản lý rủi ro toàn diện, giúp doanh nghiệp tối ưu hóa hiệu quả hoạt động và tăng cường giá trị cho cổ đông

 

2. Hướng dẫn trích lập dự phòng tổn thất các khoản đầu tư tại doanh nghiệp như thế nào?

 

2.1. Các khoản đầu tư chứng khoán 

Quy định về dự phòng tổn thất các khoản đầu tư là một phần quan trọng của hệ thống pháp luật tài chính, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp tham gia thị trường chứng khoán. Hiện nay, các nguyên tắc và hướng dẫn cụ thể về việc này được quy định tại Thông tư 48/2019/TT-BTC, được sửa đổi và bổ sung tại Thông tư 24/2022/TT-BTC.

Về đối tượng: Đối tượng lập dự phòng trong quy định này ám chỉ các loại chứng khoán được phát hành bởi các tổ chức kinh tế trong nước, tuân theo quy định của pháp luật và thuộc sở hữu của doanh nghiệp. Đây là những loại chứng khoán đang hoạt động trên thị trường chứng khoán trong nước, có thể được niêm yết hoặc đăng ký giao dịch và tự do mua bán trên thị trường tài chính. Tuy nhiên, giá chứng khoán thực tế tại thời điểm lập báo cáo tài chính thường thấp hơn giá trị được ghi nhận trên sổ kế toán của doanh nghiệp. ​

Về mức trích lập dự phòng giảm giá đầu tư chứng khoán được tính theo công thức sau:

 

Mức trích dự phòng giảm giá đầu tư chứng khoán

=

Giá trị khoản đầu tư chứng khoán đang hạch toán trên sổ kế toán của doanh nghiệp tại thời điểm lập báo cáo tài chính năm

-

Số lượng chứng khoán doanh nghiệp đang sở hữu tại thời điểm lập báo cáo tài chính năm

X

Giá chứng khoán thực tế trên thị trường

- Đối với chứng khoán đã niêm yết (bao gồm cả cổ phiếu, chứng chỉ quỹ, chứng khoán phái sinh, chứng quyền có đảm bảo đã niêm yết): giá chứng khoán thực tế trên thị trường được tính theo giá đóng cửa tại ngày gần nhất có giao dịch tính đến thời điểm lập báo cáo tài chính năm.

Trường hợp chứng khoán đã niêm yết trên thị trường mà không có giao dịch trong vòng 30 ngày trước ngày trích lập dự phòng thì doanh nghiệp xác định mức trích dự phòng cho từng khoản đầu tư chứng khoán theo quy định tại mục 2.2

Trường hợp tại ngày trích lập dự phòng, chứng khoán bị hủy niêm yết hoặc bị đình chỉ giao dịch hoặc bị ngừng giao dịch thì doanh nghiệp xác định mức trích dự phòng cho từng khoản đầu tư chứng khoán theo quy định mục 2.2.

- Đối với cổ phiếu đã đăng ký giao dịch trên thị trường giao dịch của các công ty đại chúng chưa niêm yết và các doanh nghiệp Nhà nước thực hiện cổ phần hóa dưới hình thức chào bán chứng khoán ra công chúng (Upcom) thì giá chứng khoán thực tế trên thị trường được xác định là giá tham chiếu bình quân trong 30 ngày giao dịch liền kề gần nhất trước thời điểm lập báo cáo tài chính năm do Sở Giao dịch chứng khoán công bố.

Trường hợp cổ phiếu của công ty cổ phần đã đăng ký giao dịch trên thị trường Upcom mà không có giao dịch trong vòng 30 ngày trước thời điểm lập báo cáo tài chính năm thì doanh nghiệp xác định mức trích dự phòng cho từng khoản đầu tư chứng khoán theo quy định tại mục 2.2.

- Đối với trái phiếu doanh nghiệp đã niêm yết, đăng ký giao dịch, giá trái phiếu trên thị trường là giá giao dịch gần nhất tại Sở Giao dịch chứng khoán trong vòng 10 ngày tính đến thời điểm lập báo cáo tài chính. Trường hợp không có giao dịch trong vòng 10 ngày tính đến thời điểm lập báo cáo tài chính năm thì doanh nghiệp không thực hiện trích lập dự phòng đối với khoản đầu tư này.

Về lập báo cáo tài chính: Tại thời điểm lập báo cáo tài chính hàng năm, nếu giá trị của khoản đầu tư chứng khoán đang được ghi nhận trên sổ kế toán của doanh nghiệp giảm so với giá thị trường, doanh nghiệp phải thực hiện trích lập dự phòng theo các quy định cụ thể được quy định tại mục 1.1 nêu trên cùng với các quy định bổ sung sau đây:

- Trong trường hợp số dự phòng cần trích lập bằng số dư của khoản dự phòng giảm giá đầu tư chứng khoán đã được trích lập ở báo cáo năm trước và ghi trên sổ kế toán, doanh nghiệp không được phép trích lập thêm dự phòng cho khoản đầu tư chứng khoán này.

- Nếu số dự phòng cần trích lập cao hơn số dư của khoản dự phòng giảm giá đầu tư chứng khoán đã được trích lập ở báo cáo năm trước và ghi trên sổ kế toán, doanh nghiệp sẽ trích lập bổ sung số chênh lệch đó và ghi nhận vào chi phí trong kỳ.

- Trong trường hợp số dự phòng cần trích lập ở kỳ báo cáo này thấp hơn số dư của khoản dự phòng giảm giá đầu tư chứng khoán đã được trích lập ở báo cáo năm trước và ghi trên sổ kế toán, doanh nghiệp sẽ thực hiện hoàn nhập phần chênh lệch và ghi giảm chi phí trong kỳ.

- Doanh nghiệp sẽ thực hiện việc trích lập dự phòng cho mỗi khoản đầu tư chứng khoán có sự biến động giảm giá tại thời điểm lập báo cáo tài chính hàng năm, và số dự phòng này sẽ được tổng hợp trong bảng kê chi tiết dự phòng giảm giá các khoản đầu tư chứng khoán để hạch toán vào chi phí.

- Mức trích lập dự phòng cho mỗi khoản đầu tư chứng khoán sẽ được xác định tối đa bằng giá trị thực tế của khoản đầu tư đang được ghi nhận trên sổ kế toán của doanh nghiệp.

Đối với các loại chứng khoán chưa niêm yết hoặc chưa đăng ký giao dịch, doanh nghiệp sẽ xác định mức trích lập dự phòng cho từng khoản đầu tư chứng khoán theo các quy định cụ thể được quy định tại khoản 2.2

 

2.2. Các khoản đầu tư khác 

Về đối tượng: Đây là các khoản đầu tư vào tổ chức kinh tế trong nước, không phải các khoản đầu tư chứng khoán theo quy định tại mục 1, doanh nghiệp đang sở hữu tại thời điểm lập báo cáo tài chính năm có cơ sở cho thấy có giá trị suy giảm so với giá trị đầu tư của doanh nghiệp.

Về mức trích lập:

- Căn cứ báo cáo tài chính riêng của tổ chức kinh tế nhận vốn góp lập cùng thời điểm lập báo cáo tài chính năm của doanh nghiệp góp vốn, doanh nghiệp góp vốn xác định mức trích dự phòng cho từng khoản đầu tư như sau:

Mức trích dự phòng cho từng khoản đầu tư

=

Tỷ lệ sở hữu vốn điều lệ thực góp (%) của doanh nghiệp tại tổ chức kinh tế nhận vốn góp tại thời điểm trích lập dự phòng

X

Vốn đầu tư thực tế của các chủ sở hữu ở tổ chức kinh tế nhận vốn góp tại thời điểm trích lập dự phòng

-

Vốn chủ sở hữu của tổ chức kinh tế - nhận vốn góp tại thời điểm trích lập dự phòng

Trong đó:

- Vốn đầu tư thực tế của các chủ sở hữu ở tổ chức kinh tế nhận vốn góp tại thời điểm trích lập dự phòng được xác định trên Bảng cân đối kế toán năm của tổ chức kinh tế nhận vốn góp (mã số 411 và mã số 412 Bảng cân đối kế toán - ban hành kèm theo Thông tư 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014 của Bộ Tài chính và văn bản sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế - nếu có).

- Vốn chủ sở hữu của tổ chức kinh tế nhận vốn góp tại thời điểm trích lập dự phòng được xác định trên Bảng cân đối kế toán năm của tổ chức kinh tế nhận vốn góp tại thời điểm trích lập dự phòng (mã số 410 Bảng cân đối kế toán - ban hành kèm theo Thông tư 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014 của Bộ Tài chính và văn bản sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế - nếu có).

Về lập báo cáo tài chính: Tại thời điểm lập báo cáo tài chính năm nếu các khoản đầu tư vào tổ chức kinh tế có giá trị suy giảm so với giá trị đầu tư của doanh nghiệp thì doanh nghiệp thực hiện trích lập dự phòng theo các quy định nêu trên và các quy định sau:

- Nếu số dự phòng phải trích lập bằng số dư khoản dự phòng các khoản đầu tư vào đơn vị đã trích lập ở báo cáo năm trước đang ghi trên sổ kế toán, doanh nghiệp không được trích lập bổ sung khoản dự phòng tổn thất các khoản đầu tư.

- Nếu số dự phòng phải trích lập cao hơn số dư khoản dự phòng các khoản đầu tư vào đơn vị đã trích lập ở báo cáo năm trước đang ghi trên sổ kế toán, doanh nghiệp trích lập bổ sung số chênh lệch đó và ghi nhận vào chi phí trong kỳ.

- Nếu số dự phòng phải trích lập thấp hơn số dư khoản dự phòng các khoản đầu tư vào đơn vị đã trích lập ở báo cáo năm trước đang ghi trên sổ kế toán, doanh nghiệp thực hiện hoàn nhập phần chênh lệch và ghi giảm chi phí trong kỳ.

- Doanh nghiệp phải lập dự phòng riêng cho từng khoản đầu tư và được tổng hợp vào bảng kê chi tiết dự phòng tổn thất đầu tư vào đơn vị khác làm căn cứ hạch toán vào chi phí của doanh nghiệp.

- Mức trích lập dự phòng của từng khoản đầu tư được xác định nêu ở trên tối đa bằng giá trị đầu tư thực tế đang hạch toán trên sổ kế toán của doanh nghiệp.

- Đối với khoản đầu tư của doanh nghiệp mua bán nợ góp vào các công ty cổ phần thông qua việc chuyển nợ thành vốn góp, khi trích lập dự phòng doanh nghiệp mua bán nợ được loại trừ khoản lỗ lũy kế tại công ty nhận vốn góp phát sinh trước thời điểm chuyển nợ thành vốn góp.

- Trường hợp tổ chức kinh tế nhận vốn góp không lập báo cáo tài chính cùng thời điểm thì doanh nghiệp không được thực hiện trích lập dự phòng đối với khoản đầu tư này; ngoại trừ các trường hợp sau, doanh nghiệp được thực hiện trích lập dự phòng căn cứ theo báo cáo tài chính quý gần nhất của tổ chức kinh tế nhận vốn góp:

+ Tổ chức kinh tế nhận vốn góp không lập báo cáo tài chính cùng thời điểm lập báo cáo tài chính năm của doanh nghiệp góp vốn do đã ngừng hoạt động và đang chờ xử lý (giải thể, phá sản).

+ Tổ chức kinh tế nhận vốn góp được phép lập báo cáo tài chính khác với thời điểm lập báo cáo tài chính năm của doanh nghiệp góp vốn và đã có thông báo cho cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về kế toán.

Đối với chứng khoán chưa niêm yết, chưa đăng ký giao dịch thì doanh nghiệp xác định mức trích dự phòng cho từng khoản đầu tư chứng khoán theo quy định tại mục 2.2.

 

2..3. Xử lý đối với các khoản đầu tư đã trích lập dự phòng

Trong quá trình kinh doanh, việc xử lý các khoản đầu tư đã được trích lập dự phòng đòi hỏi sự cẩn trọng và tuân thủ đúng đắn các quy định tài chính. Khi thực hiện chuyển nhượng các khoản đầu tư này, doanh nghiệp phải tuân thủ những quy định cụ thể được đề cập tại mục 1 và 2 của quy định.

Theo quy định, khi chuyển nhượng các khoản đầu tư đã được trích lập dự phòng, sự điều chỉnh được thực hiện dựa trên khoản chênh lệch giữa giá trị thu từ chuyển nhượng và giá trị ghi trên sổ kế toán. Điều này đảm bảo rằng sự chênh lệch này sẽ được xử lý một cách minh bạch và công bằng, đồng thời đảm bảo tính chính xác và minh bạch trong báo cáo tài chính của doanh nghiệp.

Trong trường hợp khoản thu từ chuyển nhượng cao hơn so với giá trị ghi trên sổ kế toán, phần chênh lệch này sẽ được sử dụng từ nguồn dự phòng đã trích lập của khoản đầu tư này để bù đắp. Điều này giúp đảm bảo rằng doanh nghiệp không phải chịu mất mát về tài chính do sự chênh lệch giữa giá trị thực tế và giá trị ghi trên sổ kế toán.

Tuy nhiên, nếu khoản thu từ chuyển nhượng thấp hơn giá trị ghi trên sổ kế toán, phần thiếu hụt này sẽ được ghi nhận vào chi phí trong kỳ. Điều này có ý nghĩa là doanh nghiệp sẽ chịu một phần mất mát về tài chính do sự chênh lệch này, và việc ghi nhận vào chi phí sẽ phản ánh rõ ràng trong báo cáo tài chính của doanh nghiệp.

Trong trường hợp có sự thừa kế từ chuyển nhượng, tức là khoản thu từ chuyển nhượng cao hơn giá trị ghi trên sổ kế toán, phần thừa này sẽ được ghi giảm vào chi phí trong kỳ. Điều này đảm bảo rằng doanh nghiệp không chỉ ghi nhận rõ ràng những mất mát về tài chính mà còn phản ánh được những lợi ích từ sự chênh lệch này.

Tóm lại, việc xử lý các khoản đầu tư đã trích lập dự phòng đòi hỏi sự chú ý và cẩn trọng từ phía doanh nghiệp, nhằm đảm bảo tính minh bạch, công bằng và chính xác trong báo cáo tài chính. Các quy định cụ thể giúp điều chỉnh một cách công bằng các khoản chênh lệch từ chuyển nhượng, đồng thời giúp doanh nghiệp hiểu rõ hơn về tình hình tài chính và quản lý rủi ro trong quá trình kinh doanh

 

Bài viết liên quan: Điều chỉnh hướng dẫn trích lập dự phòng tổn thất đầu tư chứng khoán

Liên hệ đến hotline 19006162 hoặc gửi thư tư vấn đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để được tư vấn