1. Quy định về chuyển giao tài sản thuộc sở hữu toàn dân
Căn cứ theo quy định tại Điều 3 Thông tư 57/2018/TT-BTC quy định về chuyển giao tài sản thuộc sở hữu toàn dân cho cơ quan chuyên ngành để bảo quản bao gồm:
- Tài sản bảo vật quốc gia, cổ vật và vật có giá trị lịch sử, văn hóa được chuyển giao cho: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia; Bảo tàng nhà nước cấp tỉnh nơi tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính.
- Tài sản liên quan đến quốc phòng, an ninh bao gồm vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ, phương tiện kỹ thuật nghiệp vụ, và phương tiện đặc chủng được chuyển giao cho: Bộ Quốc phòng và Bộ Công an khi có quyết định tịch thu; Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Cơ quan nhà nước có thẩm quyền sử dụng công cụ hỗ trợ để thực hiện nhiệm vụ chuyên môn.
- Tài sản tiền, ngoại tệ, giấy tờ có giá trị, và kim loại quý chuyển giao cho Kho bạc Nhà nước cấp tỉnh hoặc cấp huyện để bảo quản. Giấy tờ có khả năng chuyển đổi thành tiền mặt được chuyển đổi và nộp vào ngân sách nhà nước theo quy định. Trong trường hợp giấy tờ không thể chuyển đổi thành tiền mặt, quy trình gửi Kho bạc Nhà nước được thực hiện để lưu giữ và bảo quản theo quy định.
- Tài sản bao gồm bộ phận của động vật rừng quý hiếm thuộc nhóm IB được chuyển giao cho Cơ quan Dự trữ nhà nước thuộc Bộ Tài chính để thực hiện nhiệm vụ lưu giữ và bảo quản, theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ.
- Tài sản bao gồm gỗ và lâm sản khác thuộc loài nguy cấp, quý, hiếm, không được sử dụng vào mục đích thương mại, trừ tài sản quy định tại Điểm d Khoản này. Động vật rừng còn sống hoặc sau khi được cứu hộ khỏe mạnh sẽ được chuyển giao theo quy định pháp luật cho các cơ quan sau: Cơ quan Kiểm lâm cấp tỉnh đối với tài sản do cơ quan, người có thẩm quyền thuộc trung ương, cấp tỉnh quyết định tịch thu hoặc cơ quan Kiểm lâm cấp huyện đối với tài sản do cơ quan, người có thẩm quyền thuộc cấp huyện, cấp xã quyết định tịch thu tại địa phương có tang vật bị tịch thu; Vườn thú do Nhà nước quản lý; Các cơ sở nghiên cứu khoa học bao gồm cả cơ sở nghiên cứu nhân giống, giáo dục môi trường, Viện nghiên cứu chuyên ngành; Bảo tàng thiên nhiên Việt Nam.
- Tài sản bao gồm động vật thủy sản nguy cấp, quý, hiếm không được sử dụng vào mục đích thương mại, sẽ được chuyển giao cho: Chi cục Kiểm ngư vùng hoặc cơ quan quản lý thủy sản cấp tỉnh hoặc khu bảo tồn để thả lại nơi cư trú đối với động vật thủy sản còn sống; Bảo tàng thiên nhiên Việt Nam; Các cơ sở nghiên cứu khoa học (bao gồm cả cơ sở nghiên cứu nhân giống, giáo dục, viện nghiên cứu chuyên ngành).
- Tài sản bao gồm chất phóng xạ, vật liệu hạt nhân, thiết bị bức xạ và thiết bị hạt nhân được chuyển giao cho Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam trực thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ.
2. Phương án xử lý tài sản do tổ chức, cá nhân tự nguyện chuyển giao quyền sở hữu toàn dân
Đối với tài sản thuộc thẩm quyền phê duyệt phương án xử lý của Bộ trưởng Bộ Tài chính, có hai trường hợp như sau: Đối với tài sản được tổ chức hoặc cá nhân tự nguyện chuyển giao quyền sở hữu cho Nhà nước Việt Nam, nhưng không xác định cụ thể cơ quan, tổ chức, đơn vị tiếp nhận tài sản, đơn vị chủ trì quản lý tài sản đề xuất phương án xử lý. Kèm theo đó là một bản quyết định xác lập quyền sở hữu toàn dân về tài sản (bản sao), đơn vị này gửi đề xuất cho cơ quan được giao thực hiện nhiệm vụ quản lý tài sản công thuộc Bộ Tài chính. Cơ quan này sẽ lập phương án xử lý tài sản và trình Bộ trưởng Bộ Tài chính phê duyệt, hoặc báo cáo Thủ tướng Chính phủ để quyết định theo thẩm quyền. Đối với tài sản được tổ chức hoặc cá nhân tự nguyện chuyển giao quyền sở hữu cho Nhà nước và đã xác định cụ thể cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc trung ương tiếp nhận tài sản, quy trình như sau: Đơn vị chủ trì quản lý tài sản đề xuất phương án xử lý, kèm theo bản quyết định xác lập quyền sở hữu toàn dân về tài sản (bản sao). Sau đó, họ báo cáo cơ quan cấp trên (nếu có), lấy ý kiến của cơ quan được giao thực hiện nhiệm vụ quản lý tài sản công thuộc Bộ Tài chính.
Đối với việc phê duyệt phương án xử lý tài sản của Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan trung ương, quy trình được thực hiện như sau: Đơn vị chủ trì quản lý tài sản đề xuất phương án xử lý, đi kèm với một bản quyết định xác lập quyền sở hữu toàn dân về tài sản (bản sao). Đồng thời, họ báo cáo cơ quan cấp trên (nếu có) và gửi đề xuất đến cơ quan được giao thực hiện nhiệm vụ quản lý tài sản công thuộc Bộ Tài chính và cơ quan trung ương. Cơ quan được giao thực hiện nhiệm vụ quản lý tài sản công thuộc Bộ Tài chính và cơ quan trung ương lập phương án xử lý tài sản. Sau đó, họ trình Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan trung ương để được phê duyệt, hoặc báo cáo Thủ tướng Chính phủ để quyết định theo thẩm quyền.
Đối với tài sản thuộc thẩm quyền phê duyệt phương án xử lý của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc người có thẩm quyền được Hội đồng nhân dân cấp tỉnh phân cấp, quy trình thực hiện như sau: Đối với tài sản do tổ chức hoặc cá nhân tự nguyện chuyển giao quyền sở hữu cho chính quyền địa phương nhưng không xác định cụ thể cơ quan, tổ chức, đơn vị tiếp nhận tài sản, Sở Tài chính lập phương án xử lý tài sản và trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc người có thẩm quyền thuộc cấp tỉnh để được phê duyệt. Hoặc họ có thể báo cáo Thủ tướng Chính phủ để quyết định theo thẩm quyền. Đối với tài sản do tổ chức hoặc cá nhân tự nguyện chuyển giao quyền sở hữu cho chính quyền địa phương và đã xác định cụ thể cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc địa phương tiếp nhận tài sản, đơn vị chủ trì quản lý tài sản đề xuất phương án xử lý. Kèm theo đó là một bản quyết định xác lập quyền sở hữu toàn dân về tài sản (bản sao), gửi Phòng Tài chính - Kế hoạch báo cáo Sở Tài chính (đối với trường hợp cơ quan, tổ chức, đơn vị tiếp nhận tài sản thuộc cấp huyện) hoặc gửi Sở Tài chính (đối với trường hợp cơ quan, tổ chức, đơn vị tiếp nhận tài sản thuộc cấp tỉnh).
3. Nguyên tắc xử lý tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn dân
Nguyên tắc xác lập quyền sở hữu toàn dân về tài sản và quản lý, xử lý tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn dân theo Điều 4 Nghị định 29/2018/NĐ-CP có các nội dung sau đây:
- Việc xác lập quyền sở hữu toàn dân về tài sản phải được thực hiện thông qua việc lập văn bản, tuân thủ trình tự và thủ tục quy định của pháp luật. Quá trình này phải đảm bảo bảo vệ quyền lợi của Nhà nước, đồng thời tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức và cá nhân có liên quan.
- Việc quản lý của Nhà nước đối với tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn dân phải được thực hiện một cách thống nhất, có sự phân công và phân cấp rõ ràng về thẩm quyền và trách nhiệm của từng cơ quan.
- Việc xác định giá trị và xử lý tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn dân phải tuân thủ cơ chế thị trường, đảm bảo công bằng và minh bạch trong quá trình quản lý.
- Quá trình xác lập quyền sở hữu toàn dân về tài sản và xử lý tài sản phải được thực hiện một cách công khai và minh bạch. Mọi hành vi vi phạm quy định pháp luật phải được xử lý kịp thời và nghiêm minh theo quy định của pháp luật, đồng thời đảm bảo sự minh bạch trong quá trình này.
Ngoài ra, quý bạn đọc có thể tham khảo thêm bài viết: Sở hữu toàn dân là gì? Sự hình thành chế độ sở hữu toàn dân?
Nếu có bất cứ vấn đề pháp lý nào cần hỗ trợ, vui lòng liên hệ tới bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua số điện thoại: 1900.6162 hoặc gửi yêu cầu đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn. Trân trọng!