1. Các vi phạm dẫn đến Tòa án tuyên bị cáo không phạm tội

Trong quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành không quy định căn cứ để Tòa án tuyên không phạm tội, nhưng từ thực tiễn hoạt động xét xử và các báo cáo Viện kiểm sát thì có các dạng vi phạm sau:

Không có sự việc phạm tội xảy ra:

Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 quy định một trong những căn cứ không được khởi tố vụ án là “Không có sự việc phạm tội” (khoản 1 Điều 107). Tuy nhiên, trong những vụ án Tòa tuyên không phạm tội nêu trên có trường hợp CQĐT khởi tố và VKS truy tố khi tài liệu chứng cứ trong hồ sơ không chứng minh được là đã có sự việc phạm tội xảy ra, dẫn đến việc Tòa án tuyên bị cáo không phạm tội.

Hành vi bị khởi tố, truy tố không có tính nguy hiểm của tội phạm:

Căn cứ theo quy định tại khoản 4 Điều 8 Bộ luật Hình sự 2015 quy định: “Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm, nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể, thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác”, trong quá trình giải quyết vụ án thì hành vi tuy có dấu hiệu tội phạm nhưng tính nguy hiểm cho xã hội không đáng kể, chưa đến mức xử lý hình sự nhưng CQĐT và VKS vẫn khởi tố, truy tố, dẫn đến Tòa án tuyên không phạm tội.

Hậu quả nguy hại xảy ra do sự kiện bất ngờ:

Theo Điều 11 BLHS 2015 quy định: người thực hiện hành vi gây hậu quả nguy hại cho xã hội do sự kiện bất ngờ, tức là trong trường hợp không thể thấy trước hoặc không buộc phải thấy trước hậu quả của hành vi đó, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự. Nhưng trong thực tế do đánh giá không đúng tính chất hành vi nên có trường hợp hành vi gây hậu quả nguy hại cho xã hội do sự kiện bất ngờ vẫn bị khởi tố, truy tố, dẫn đến Tòa án tuyên không phạm tội.

Truy cứu trách nhiệm hình sự người không phải là đồng phạm:

Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm, nghĩa là phải cùng động cơ mục đích thực hiện hành vi phạm tội. Nhưng trong thực tế do đánh giá không đúng hành vi đồng phạm dẫn đến truy cứu trách nhiệm hình sự người thực hiện hành vi không cùng chung ý chí với người phạm tội.

Hình sự hóa quan hệ dân sự:

Tình trạng vay nợ tại các địa phương trong thời gian qua diễn ra phổ biến, nhiều trường hợp khó phân biệt ranh giới giữa hành vi phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” hoặc “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” với giao dịch dân sự nên rất dễ dẫn tới tình trạng hình sự hóa quan hệ dân sự hoặc ngược lại.

Truy cứu trách nhiệm hình sự đối với hành vi chiếm đoạt tài sản của chính người có quyền sở hữu, quản lý, sử dụng:

Trong các tội phạm có tính chất chiếm đoạt tài sản thì việc xác định quyền sở hữu, quản lý, sử dụng đối với tài sản bị chiếm đoạt có ý nghĩa quan trọng để xác định có hay không có hành vi phạm tội, nhưng qua các vụ án Tòa án tuyên không phạm tội cho thấy có vụ các cơ quan tiến hành tố tụng đã khởi tố, truy tố cả hành vi chiếm đoạt tài sản mà tài sản đó không phải là tài sản của người khác như luật đã quy định mà quy kết chiếm đoạt tài sản thuộc sở hữu chung vợ chồng, hoặc đang thuộc quyền quản lý, sử dụng của người bị truy tố dẫn đến Tòa án tuyên không phạm tội.

Quá trình thu thập chứng cứ có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, dẫn đến chứng cứ không có giá trị chứng minh:

Nhiều trường hợp Tòa án tuyên bị cáo không phạm tội do quá trình thu thập chứng cứ có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, dẫn đến chứng cứ buộc tội không có giá trị chứng minh, do đó không đủ căn cứ kết tội bị cáo.

 Không đủ căn cứ chứng minh lỗi của bị cáo:

Tại Điều 63 BLTTHS 2015 quy định cụ thể những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự, trong đó bắt buộc cơ quan tiến hành tố tụng phải chứng minh người thực hiện hành vi phạm tội có lỗi hay không có lỗi, nhưng nhiều vụ án VKS khi truy tố không đủ chứng cứ hoặc tài liệu mâu thuẫn về việc kết luận lỗi của bị cáo, đặc biệt là lỗi dẫn đến tai nạn giao thông trong các vụ án vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, dẫn tới Tòa án đã tuyên bị cáo không phạm tội.

2. Hướng dẫn xử lý khi Tòa án tuyên bị cáo không phạm tội

Căn cứ theo quy định tại Hướng dẫn 32/HD-VKSTC hướng dẫn công tác quản lý các trường hợp Viện kiểm sát (VKS) truy tố Tòa án xét xử tuyên bị cáo không phạm tội hướng dẫn đối với trường hợp Tòa án xét xử tuyên bị cáo không phạm tội không có căn cứ hoặc trái pháp luật thì xử lý như sau:

- VKS phải ban hành kháng nghị hoặc báo cáo đề xuất kháng nghị và gửi ngay cho VKS cấp trên;

Báo cáo đề xuất kháng nghị cần nêu rõ:

+ Lý lịch bị cáo;

+ Nội dung vụ án;

+ Quá trình tố tụng đối với vụ án;

+ Nhận định và quyết định của bản án tuyên bị cáo không phạm tội;

+ Nhận xét, đề xuất xử lý của VKS;

Viện trưởng VKS cấp trên phải trực tiếp nghe báo cáo và cho ý kiến chỉ đạo đối với báo cáo đề xuất kháng nghị của VKS cấp dưới, không để kéo dài, quá hạn kháng nghị theo quy định của pháp luật.

- Thực hiện kiểm điểm làm rõ nguyên nhân, lý do dẫn đến việc Tòa án tuyên bị cáo không phạm tội, xác định rõ trách nhiệm của lãnh đạo, Kiểm sát viên và những người có liên quan.

3. Trách nhiệm của Kiểm sát viên trong trường hợp Tòa án tuyên bị cáo không phạm tội

Theo quy định tại Hướng dẫn 32/HD-VKSTC đối với trường hợp Tòa án xét xử tuyên bị cáo không phạm tội không có căn cứ hoặc trái pháp luật, VKS phải ban hành kháng nghị hoặc báo cáo đề xuất kháng nghị và gửi ngay cho VKS cấp trên. Đồng thời kiểm điểm làm rõ nguyên nhân, lý do dẫn đến việc Tòa án tuyên bị cáo không phạm tội; xác định rõ trách nhiệm của lãnh đạo, Kiểm sát viên và những người có liên quan. Báo cáo đề xuất kháng nghị cần nêu rõ: Lý lịch bị cáo; nội dung vụ án; quá trình tố tụng đối với vụ án, nhận định và quyết định của bản án tuyên bị cáo không phạm tội; nhận xét, đề xuất xử lý của VKS. Viện trưởng VKS cấp trên phải trực tiếp nghe báo cáo và cho ý kiến chỉ đạo đối với báo cáo đề xuất kháng nghị của VKS cấp dưới, không để kéo dài, quá hạn kháng nghị theo quy định của pháp luật.

Đối với trường hợp Tòa án xét xử tuyên bị cáo không phạm tội có căn cứ, đúng pháp luật, phải chỉ đạo tiến hành kiểm điểm, làm rõ nguyên nhân, trách nhiệm của Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, lãnh đạo được phân công thụ lý, giải quyết vụ án và xử lý vi phạm (nếu có); tổ chức rút kinh nghiệm chung về công tác chỉ đạo, điều hành và chuyên môn nghiệp vụ đối với cấp mình. Khi có yêu cầu bồi thường phải tổ chức tiếp nhận, giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại cho người bị oan.

Viện trưởng VKSND cấp tỉnh có trách nhiệm chỉ đạo theo dõi, quản lý chuyên đề VKS truy tố Tòa án tuyên bị cáo không phạm tội đối với cấp mình và VKSND cấp huyện trực thuộc; chủ động nắm thông tin, yêu cầu báo cáo và có ý kiến chỉ đạo kịp thời đối với báo cáo của cấp dưới; thông báo rút kinh nghiệm, chấn chỉnh, khắc phục nguyên nhân, điều kiện dẫn đến Tòa án tuyên bị cáo không phạm tội thuộc trách nhiệm quản lý của mình; chịu trách nhiệm trước Viện trưởng VKSND tối cao khi để xảy ra trường hợp Tòa án tuyên bị cáo không phạm tội do nguyên nhân chủ quan của VKS sát cấp mình và cấp dưới trực thuộc.

Viện trưởng VKSND cấp cao có trách nhiệm theo dõi, quản lý, rút kinh nghiệm những trường hợp Tòa án tuyên không phạm tội của VKSND cấp huyện, VKSND cấp tỉnh theo địa hạt tư pháp của cấp mình và của VKSND cấp cao; kịp thời xử lý theo thẩm quyền tố tụng đối với kháng nghị hoặc đề xuất kháng nghị của VKS cấp dưới; định kỳ tổng hợp, báo cáo chuyên đề gửi VKSND tối cao (Vụ 7) để tổng hợp, theo dõi; chủ động ra thông báo rút kinh nghiệm hoặc tổ chức các hội nghị, hội thảo chuyên đề thực hành quyền công tố và kiểm sát việc xét xử hình sự, nhằm không để xảy ra trường hợp Tòa án xét xử tuyên bị cáo không phạm tội thuộc phạm vị theo dõi, quản lý của cấp mình.

Mặt khác, thủ trưởng các đơn vị thực hành quyền công tố, kiểm sát điều tra thuộc VKSND tối cao theo dõi, cập nhật kịp thời những trường hợp Tòa án xét xử tuyên bị cáo không phạm tội trong những vụ án do đơn vị mình kiểm sát điều tra sau đó phân công VKS địa phương thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử; chủ động phối hợp với VKS địa phương, VKS cấp cao và Vụ 7 để xem xét, kháng nghị kịp thời đối với bản án tuyên bị cáo không phạm tội không có căn cứ hoặc trái pháp luật…

Xem thêm: Nghị án ,Tuyên án và một số vấn đề cần giải quyết sau khi tuyên án trong xét xử hình sự sơ thẩm

Như vậy trên đây là toàn bộ thông tin về Hướng dẫn xử lý khi Tòa án tuyên bị cáo không phạm tội mà Công ty Luật Minh Khuê muốn gửi đến quý khách mang tính tham khảo. Nếu quý khách còn vướng mắc về vấn đề trên hoặc mọi vấn đề pháp lý khác, quý khách hãy vui lòng liên hệ trực tiếp với chúng tôi qua Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến theo số điện thoại 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp qua tổng đài kịp thời hỗ trợ và giải đáp mọi thắc mắc.


Nếu quý khách cần báo giá dịch vụ pháp lý thì quý khách có thể gửi yêu cầu báo phí dịch vụ đến địa chỉ email: lienhe@luatminhkhue.vn để nhận được thông tin sớm nhất! Rất mong nhận được sự hợp tác và tin tưởng của quý khách! Luật Minh Khuê xin trân trọng cảm ơn!