Định nghĩa Tuyên án

Tuyên án là giai đoạn sau khi trình tự thủ tục tố tụng tại phiên tòa kết thúc. Tuyên án được thực hiện sau khi kết thúc phần tranh luận, đối đáp tại phiên tòa và sau khi hội động xét xử vào nghị án.

Tuyên án là đọc nguyên văn toàn bộ bản án đã được hội đồng xét xử thông qua.

Điều 226 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 quy định khi tuyên án mọi người trong phòng xử án phải đứng dậy. Chủ toạ phiên toà hoặc một thành viên khác của hội đồng xét xử đọc bản án và sau khi đọc xong có thể giải thích thêm về việc chấp hành bản án và quyền kháng cáo. Trường hợp bị cáo không biết tiếng Việt thì sau khi tuyên án, người phiên dịch phải đọc lại cho bị cáo nghe toàn bộ bản án sang thứ tiếng mà bị cáo biết.

Sau khi bản án đã được thông qua, Hội đồng xét xử trở lại phòng xét án để tuyên án.

Điều 267. Tuyên án - Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015

Hội đồng xét xử tuyên đọc bản án với sự có mặt của các đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức và cá nhân khởi kiện. Trường hợp đương sự có mặt tại phiên tòa nhưng vắng mặt khi tuyên án hoặc vắng mặt trong trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 264 của Bộ luật này thì Hội đồng xét xử vẫn tuyên đọc bản án.

Khi tuyên án, mọi người trong phòng xử án phải đứng dậy, trừ trường hợp đặc biệt được sự đồng ý của chủ tọa phiên tòa. Chủ tọa phiên tòa hoặc một thành viên khác của Hội đồng xét xử tuyên đọc bản án và có thể giải thích thêm về việc thi hành bản án và quyền kháng cáo.

Trường hợp Tòa án xét xử kín theo quy định tại khoản 2 Điều 15 của Bộ luật này thì Hội đồng xét xử chỉ tuyên công khai phần mở đầu và phần quyết định của bản án.

Trường hợp đương sự cần có người phiên dịch thì người phiên dịch phải dịch lại cho họ nghe toàn bộ bản án hoặc phần mở đầu và phần quyết định của bản án được tuyên công khai.

Ngoài ra, cần lưu ý

Khi đương sự vì lý do bệnh tật, sức khỏe yếu,… thì có thể được ngồi, không phải đứng dậy. Bên cạnh đó, ngoài chủ tọa phiên tòa, một thành viên khác của Hội đồng xét xử cũng có quyền đọc bản án. Quy định này nhằm giải quyết tình huống do bản án quá dài, đến ngày tuyên án sức khỏe của chủ tọa không tốt.

Khi đương sự không biết tiếng Việt, thì sau khi tuyên án, người phiên dịch phải phiên dịch lại. Quy định này nằm đảm bảo quyền bình đẳng giữa các đương sự. Người phiên dịch là người có khả năng dịch ngay bản án sang ngôn ngữ khác. Việc dịch ngay bản án nhằm đảm bảo thực hiện nguyên tắc xét xử công khai.

Thủ tục nghị án và tuyên án trong phiên tòa phúc thẩm dân sự cũng được tiến hành như nghị án và tuyên án trong phiên tòa sơ thẩm dân sự

Hoạt động nghị án trước khi tuyên án

Khái niệm nghị án

Nghị án là việc hội đồng xét xử xem xét, quyết định giải quyết vụ án. Trên cơ sở của kết quả của việc xét hỏi và tranh luận tại phiên tòa, hội đồng xét xử vào phòng nghị án để thỏa thuận quyết định giải quyết các vấn đề của vụ án. Việc nghị án được thực hiện theo tinh thần: Việc phán quyết của Tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của các nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền, lợi ích hợp pháo để ra những bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục trong thời hạn pháp luật quy định.

Điều 264. Nghị án - Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015

1. Sau khi kết thúc phần tranh luận, Hội đồng xét xử vào phòng nghị án để nghị án.

2. Chỉ có các thành viên Hội đồng xét xử mới có quyền nghị án. Khi nghị án, các thành viên Hội đồng xét xử phải căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật, nếu vụ án thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 4 của Bộ luật này thì còn phải căn cứ vào tập quán, tương tự pháp luật, những nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ hoặc lẽ công bằng, để giải quyết tất cả các vấn đề của vụ án bằng cách biểu quyết theo đa số về từng vấn đề. Hội thẩm nhân dân biểu quyết trước, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa biểu quyết sau cùng. Người có ý kiến thiểu số có quyền trình bày ý kiến của mình bằng văn bản và được đưa vào hồ sơ vụ án.

3. Khi nghị án phải có biên bản ghi lại các ý kiến đã thảo luận và quyết định của Hội đồng xét xử. Biên bản nghị án phải được các thành viên Hội đồng xét xử ký tên tại phòng nghị án trước khi tuyên án.

4. Trường hợp vụ án có nhiều tình tiết phức tạp, việc nghị án đòi hỏi phải có thời gian dài thì Hội đồng xét xử có thể quyết định thời gian nghị án nhưng không quá 05 ngày làm việc, kể từ khi kết thúc tranh luận tại phiên tòa.

Hội đồng xét xử phải thông báo cho những người có mặt tại phiên tòa và người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa về giờ, ngày và địa điểm tuyên án. Trường hợp Hội đồng xét xử đã thực hiện việc thông báo mà có người tham gia tố tụng vắng mặt vào ngày, giờ và địa điểm tuyên án thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành việc tuyên án theo quy định tại Điều 267 của Bộ luật này.

Hội đồng xét xử phải thông báo cho những người có mặt tại phiên tòa và người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa về giờ, ngày và địa điểm tuyên án. Trường hợp Hội đồng xét xử đã thực hiện việc thông báo mà có người tham gia tố tụng vắng mặt vào ngày, giờ và địa điểm tuyên án thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành việc tuyên án theo quy định tại Điều 267 của Bộ luật tố tụng dân sự”

Việc quy định hội thẩm nhân dân phát biểu trước tại Khoản 2 điều này nhằm tạo điều kiện cho hội thẩm nhân dân có được tiếng nói khách quan, vô tư về vụ án, tránh tình trạng ý kiến của Hội thẩm nhân dân bị phụ thuộc vào ý kiến của Thẩm phán hoặc Thẩm phán áp đặt ý kiến của mình cho các Hội thẩm nhân dân. Quy định này còn có ý nghĩa phát huy vai trò và trách nhiệm của Hội thẩm nhân dân trọng hoạt động tố tụng, buộc hội thẩm nhân dân phải đầu tư thời gian nghiên cứu hồ sơ vụ án trước khi mở phiên tòa. Điều đó sẽ giúp cho Hội thẩm nhân dân nắm vững nội dung vụ án, tham gia một cách nghiêm túc và có hiệu quả vào việc xét xử.

Hội đồng xét xử phải căn cứ vào tài liệu, chứng cứ và đã được kiểm tra xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật. Trên cơ sở của các chứng cứ, kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử sẽ nghị án để đánh giá chứng cứ lần cuối cùng để đưa ra phán quyết về vụ án. Cơ sở của nghị án dựa trên kết quả của hoạt động kiểm tra, đánh giá chứng cứ của thủ tục hỏi và tranh luận.

Để bảo vệ quyền và lơi ích của đương sự và phát huy trách nhiệm của các thành viên Hội đồng xét xử trong việc giải quyết vụ án, pháp luật còn quy định về việc vụ án có nhiều tình tiết phức tạp, đòi hỏi phải có nhiều thời gian thì Hội đồng xét xử có thể quyết định thời gian nghị án nhưng không quá 05 ngày làm việc, kể từ khi kết thúc tranh luận tại phiên tòa. Thời hạn năm ngày làm việc là thời hạn tối đa đối với những vụ án cần phải có nhiều thời gian thảo luận, viết bản án. Đối với những vụ án đơn giản thì thời gian nghị án và viết bản án sẽ do Hội đồng xét xử quyết định.

Các thành viên của Hội đồng xét xử phải thỏa luận để đưa ra pháp quyết về toàn bộ vụ án. Các thành viên Hội đồng xét xử phải thảo luận và biểu quyết về từng vấn đề, xong vấn đề này mới chuyển sang vấn đề khác, không nên thảo luận về tất cả các vấn đề cùng một lúc, sau đó mới biểu quyết. Việc thảo luận từng vấn đề sẽ giúp cho hội đồng xét xử có thể thảo luận sâu về từng nội dung của vụ án, giải quyết dứt điểm từng vấn đề của vụ án.

Khi nghị án, nếu thấy tình tiết của vụ án chưa được xem xét, việc hỏi chưa đầy đủ hoặc cần xem xét thêm những chứng cứ, hội đồng xét xử quyết định trở lại việc hỏi và tranh luận. Nếu không thì hội đồng xét xử ra bản án, quyết định về giải quyết vụ án dân sự. Biên bản nghị án là một văn bản có giá trị pháp lý, nội dung của biên bản nghị án là cơ sở để hội đồng xét xử ra bản án, quyết định về việc giải quyết vụ án. Biên bản nghị án thông thường do chủ tọa phiên tòa hoặc một thành viên hội đồng xét xử được chủ tọa phân công ghi.

Trên cơ sở kết quả của thủ tục hỏi, tranh luận và nội dung biên bản nghị án, Hội đồng xét xử ra bản án, quyết định về việc giải quyết vụ án. Bản án phản ánh toàn bộ kết quả hoạt động tố tụng của những người tham gia tố tụng và hội đồng xét xử tại phiên tòa. Việc nghiên cứ, đánh giá chứng cứ của Hội đồng xét xử khi nghị án là quan trọng nhất, có ý nghĩa quyết định đến tính đúng đắn của bản án, quyết định dân sự. Nếu khi nghị án, các thành viên hội đồng xét xử xem xét, đánh giá yêu cầu và chứng cứ một cách khách quan, toàn diện, đúng pháp luật sẽ phát hiện, khắc phục kịp thời các sai sót, vi phạm pháp luật của các giai đoạn tố tụng trước.

Sửa chữa, bổ sung bản án khi nào?

  • Sau khi tuyên án xong thì không được sửa chữa, bổ sung bản án, trừ trường hợp phát hiện lỗi rõ ràng về chính tả, về số liệu do nhầm lẫn hoặc tính toán sai.
  • Trường hợp cần sửa chữa, bổ sung bản án theo quy định tại khoản 1 Điều này thì Thẩm phán phối hợp với các Hội thẩm nhân dân là thành viên Hội đồng xét xử đã tuyên bản án đó phải ra quyết định sửa chữa, bổ sung bản án và gửi ngay cho đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện, Viện kiểm sát cùng cấp và cơ quan thi hành án dân sự nếu bản án đã được gửi cho cơ quan thi hành án dân sự. Trường hợp Thẩm phán đã xét xử vụ án đó không còn đảm nhiệm chức vụ Thẩm phán tại Tòa án đã ra bản án đó thì Chánh án Tòa án thực hiện việc sửa chữa, bổ sung bản án.

Luật 93/2015/QH13 - Tố tụng hành chính: Trạng thái: Hết hiệu lực một phần:
Điều 191. Nghị án

1. Sau khi kết thúc phần tranh luận, Hội đồng xét xử vào phòng nghị án để nghị án.

2. Chỉ có các thành viên của Hội đồng xét xử mới có quyền nghị án. Khi nghị án, các thành viên của Hội đồng xét xử phải giải quyết tất cả các vấn đề của vụ án bằng cách biểu quyết theo đa số về từng vấn đề. Hội thẩm nhân dân biểu quyết trước, Thẩm phán biểu quyết sau cùng. Trường hợp Hội đồng xét xử gồm 05 thành viên thì Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa là người biểu quyết sau cùng. Người có ý kiến thiểu số có quyền trình bày ý kiến của mình bằng văn bản và được đưa vào hồ sơ vụ án.

3. Khi nghị án, Hội đồng xét xử chỉ được căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa, kết quả việc tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, các quy định của pháp luật và nghiên cứu, áp dụng án lệ hành chính (nếu có) liên quan để quyết định về các vấn đề sau đây:

a) Tính hợp pháp và có căn cứ về hình thức, nội dung của quyết định hành chính hoặc việc thực hiện hành vi hành chính bị khởi kiện;

b) Tính hợp pháp về thẩm quyền, trình tự, thủ tục ban hành quyết định hành chính hoặc việc thực hiện hành vi hành chính;

c) Thời hiệu, thời hạn ban hành quyết định hành chính hoặc thực hiện hành vi hành chính;

d) Mối liên hệ giữa quyết định hành chính, hành vi hành chính với quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện và những người có liên quan;

đ) Tính hợp pháp và có căn cứ của văn bản hành chính có liên quan (nếu có);

e) Vấn đề bồi thường thiệt hại và vấn đề khác (nếu có).

4. Khi nghị án phải có biên bản ghi lại ý kiến đã thảo luận và quyết định của Hội đồng xét xử. Biên bản nghị án phải được các thành viên Hội đồng xét xử ký tên tại phòng nghị án trước khi tuyên án.

5. Trường hợp vụ án có nhiều tình tiết phức tạp, việc nghị án đòi hỏi phải có thêm thời gian thì Hội đồng xét xử có thể quyết định kéo dài thời gian nghị án, nhưng không quá 05 ngày làm việc kể từ khi kết thúc tranh luận tại phiên tòa.

Hội đồng xét xử phải thông báo cho những người có mặt tại phiên tòa và người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa biết ngày, giờ và địa điểm tuyên án; nếu Hội đồng xét xử đã thực hiện việc thông báo mà có người tham gia tố tụng vắng mặt thì Hội đồng xét xử vẫn tiến hành việc tuyên án theo quy định tại Điều 195 của Luật này.