1. Những thuận lợi mang lại khi đăng ký bảo hộ cho sáng chế

Đăng ký bảo hộ sáng chế giúp cho chủ sở hữu đảm bảo được quyền sở hữu hợp pháp của sáng chế và giúp chủ sở hữu có thể dễ dàng chứng minh quyền sở hữu của mình nếu bị xâm phạm hoặc xảy ra tranh chấp. Bên cạnh đó, đăng ký bảo hộ sáng chế dưới hình thức bằng độc quyền sáng chế hoặc bằng độc quyền giải pháp hữu ích cũng giúp ngăn chặn mọi hành vi xâm phạm đến sáng chế đã được đăng ký bảo hộ. Sáng chế đã đăng ký sẽ được pháp luật bảo vệ trước mọi hành vi xâm phạm. Cuối cùng, sáng chế sẽ được bảo hộ trên toàn lãnh thổ Việt Nam sau khi nộp đơn đăng ký. 

Đăng ký bảo hộ sáng chế là cách duy nhất để xây dựng căn cứ xác lập quyền sở hữu đối với sáng chế. Khi đăng ký, sáng chế sẽ được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận và bảo hộ. Sau khi được cấp bằng độc quyền sáng chế, chủ đơn sẽ trở thành chủ sở hữu hợp pháp của sáng chế đã nộp đơn đăng ký. Chủ sở hữu có thể dễ dàng chứng minh quyền sở hữu của mình nếu bị xâm phạm hoặc xảy ra tranh chấp, ngoài ra, đăng ký bảo hộ cho sáng chế còn giúp chủ sở hữu đảm bảo được quyền sở hữu của mình đối với sáng chế. 

Sáng chế là thành quả của một quá trình lao động vất vả, tốn rất nhiều thời gian và sức lực. Do đó, đăng ký bảo hộ sáng chế là việc làm có ý nghĩa, giúp bảo vệ sáng chế không bị ăn cắp, sao chép và gây ảnh hưởng không chủ về mặt kinh tế mà còn ảnh hưởng lớn tới tinh thần của chủ sở hữu. Những sản phẩm liên quan tới sáng chế sẽ góp phần rất lớn trong việc giúp chủ sở hữu gây ấn tượng đối với người tiêu dùng, nâng cao chất lượng sản phẩm. Người tiêu dùng sẽ cảm thấy an tâm, thích thú và tò mò đối với những sản phẩm mang tính mới, tính ưu việt mà từ trước đến nay chưa có sản phẩm nào đáp ứng được. 

 

2. Đối tượng và điều kiện đăng ký bảo hộ sáng chế

2.1. Đối tượng có quyền nộp đơn đăng ký bảo hộ sáng chế

Để không gây nhầm lẫn trong việc xác lập quyền và gây ảnh hưởng tới quyền Sở hữu của chủ sở hữu sáng chế, theo quy định tại điều 86 Luật Sở hữu trí tuệ, các cá nhân, tổ chức có quyền đăng k sáng chế cụ thể như sau:

- Tác giả tạo ra sáng chế bằng công sức, chi phí của mình

- Tổ chức, cá nhận đầu tư kinh phí, phương tiện vật chất cho tác giả dưới hình thức giao việc, thuê việc, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác và thỏa thuận đó không trái với quy định.

 

2.2. Điều kiện đăng ký bảo hộ sáng chế

Để được bảo hộ dưới hình thức bằng độc quyền sáng chế hoặc giải pháp hữu ích, sáng chế cần đáp ứng đầy đủ các điều kiện về tính mới, tính sáng tạo và khả năng áp dụng công nghiệp. 

- Có tính mới: Sáng chế được coi là có tính mới nếu khác biệt với những sáng chế đã được công khai sử dụng, mô tả bằng văn bản hoặc dưới bất kỳ hình thức nào khác ở trong nước và quốc tế. Đây là một điều kiện quan trọng, người nộp đơn cần lưu ý xác định chính xác để không gặp trở ngại trong quá trình thẩm định đơn. 

- Có tính sáng tạo: Sáng chế được coi là đáp ứng được tính sáng tạo nếu so sánh với sáng chế đã công bố dưới bất kỳ hình thức nào ở trong nước và quốc tế. 

- Có khả năng áp dụng công nghiệp: sáng chế được coi là có khả năng áp dụng công nghiệp nếu có thể đưa vào sản xuất với quy mô công nghiệp. Tức là sáng chế khi được đưa vào áp dụng có thể được sản xuất trong một quy mô xử lý có phạm vi lớn. 

Trên đây là những điều kiện mà sáng chế bắt buộc phải đáp ứng đầy đủ để được cấp bằng độc quyền. Trong trường hợp, cơ quan nhà nước đánh giá rằng sáng chế chưa đủ điều kiện, người nộp đơn có thể nộp thêm tài liệu để làm rõ và chứng minh cho sáng chế của mình. 

 

3. Trường hợp hủy bỏ bằng độc quyền sáng chế

Văn bằng bảo hộ cho sáng chế vẫn có thể bị hủy bỏ nếu yêu cầu hủy bỏ được chấp thuận bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Các trường hợp cụ thể được quy định tại Điều 59 Luật Sở hữu trí tuệ, cụ thể như sau:

- Người nộp đơn đăng ký không có quyền đăng ký và không được quyền chuyển nhượng quyền đăng ký đối với sáng chế.

- Sáng chế không đáp ứng các điều kiện bảo hộ tại thời điểm cấp văn bằng bảo hộ. Có nghĩa là, trước thời điểm nộp đơn, đối tượng trùng hoặc tương tự với sáng chế nộp đơn đăng ký đã được công bố, bộc lộ. Trong trường hợp này, tức là sáng chế đã không còn đáp ứng được tính mới. Tuy nhiên, trong quá trình thẩm định, Cục Sở hữu trí tuệ không có đủ thông tin nên sáng chế đó vẫn được cấp bằng độc quyền. Sau khi được cấp bằng độc quyền, nếu có đủ tài liệu chứng minh sáng chế không đáp ứng được tính mới thì bằng độc quyền sáng chế sẽ bi hủy bỏ.

Nói tóm lại, các tổ chức, cá nhận có quyền đề nghị Cục Sở hữu trí tuệ hủy bỏ hiệu lực bằng độc quyền sáng chế nếu sáng chế đáp ứng đủ các điều kiện nêu trên, đồng thời cung cấp được các tài liệu chứng minh. Thời hạn để thực hiện yêu cầu hủy bỏ bằng độc quyền là trong suốt thời hạn bảo hộ. Từ những thông tin và tài liệu cá nhân, tổ chức yêu cầu hủy bỏ hiệu lực văn bằng bảo hộ, Cục sở hữu trí tuệ sẽ xem xét về chấp thuận hủy bỏ hiệu lực toàn bộ hay một phần văn bằng bảo hộ. 

 

4. Thủ tục hủy bỏ bằng độc quyền sáng chế

Sau khi tiếp nhận yêu cầu hủy bỏ hiệu lực bằng độc quyền sáng chế, Cục Sở hữu trí tuệ sẽ thông báo bằng văn bản trong 02 tháng cho chủ sở hữu sáng chế để chủ sở hữu sẽ đưa ra ý kiến về thông tin này. Ý kiến mà chủ sở hữu đưa ra sẽ được Cục sở hữu trí tuệ xem xét, đối chiếu với thông tin của cá nhân, tổ chức yêu cầu hủy bỏ hiệu lực văn bằng. Từ đó, Cục sở hữu trí tuệ sẽ xem xét về việc hủy bỏ hiệu lực một phần hoặc toàn bộ của bằng độc quyền. Quyết định chấm dứt, hiệu lực văn bằng bảo hộ được công bố trên Công báo sở hữu công nghiệp và được ghi nhận vào sở đăng ký quốc gia về sở hữu công nghiệp trong thời hạn 02 tháng kể từ ngày ký quyết định. 

Mọi vướng mắc vui lòng liên hệ tới Luật Minh Khuê qua số điện thoại 0986 386 648 hoặc qua email lienhe@luatminhkhue.vn.