1.Tiền tệ không chỉ đơn thuần là phương tiện trao đổi

Theo Marx, các nhà kinh tế học cổ điển miêu tả sai hệ thống kinh tế đến mức họ xem tiền tệ là phương tiện trao đổi đơn thuần. Hàng hóa hiếm khi trao đổi trực tiếp với hàng hóa khác, thay vào đó, hàng hóa bán ra để lấy tiền, sau đó sử dụng tiền để mua hàng hóa khác. Dùng làm biểu tượng, sự miêu tả cổ điển sản xuất và trao đổi là C-M-C’, trong đó C tượng trưng cho hàng hóa còn M tượng trưng cho tiền. Nhưng Marx cho rằng trong nền kinh tế Tư bản chủ nghĩa, tiến trình là M-C-M’, trong đó M’ là M. Nói cách khác, tiền (Tư bản) được tích lũy để mua (hay sản xuất) hàng hóa, sau đó đem bán để có số tiền lớn hơn. M’M cộng lợi nhuận (giá trị thặng dư), và cuối cùng dẫn đến tích lũy, như chúng ta chứng kiến, tạo ra loại mâu thuẫn bên trong dẫn đến sự chuyển nhượng của hệ thống kinh tế.

2. Xã hội "mới"

Tác phẩm của Marx hình thành vững chắc niềm tin này trong cuộc cách mạng thế giới, mặc dù ông hiếm khi thảo luận bản chất của thế giới hậu chủ nghĩa Tư bản. Chúng ta biết rằng xã hội “mới” phải là một xã hội cộng sản trong đó tài sản cá nhân của giai cấp vô sản không còn tồn tại nữa. Marx nói như sau:

“... chủ nghĩa cộng sản như sự hơn hẳn tích cực của tài sản cá nhân hay sự tự ly gián của con người, vì thế như là sự chiếm đoạt thật sự bản chất của con người bởi và cho con người, vì thế chủ nghĩa cộng sản như con người trở về hoàn toàn trong tư cách một sinh vật xã hội - sự trở về với ý thức, được thực hiện trong toàn bộ của cải của sự phát triển trước. Chủ nghĩa cộng sản này, khi được phát triển đầy đủ là chủ nghĩa tự nhiên, chủ nghĩa nhân vãn bình đẳng, và khi phát triển đầy đủ, chủ nghĩa nhân văn ngang bằng với chủ nghĩa tự nhiên, đây là giải pháp thích đáng cho mâu thuẫn giữa con người với tự nhiên và giữa con người với con người - giải pháp thật sự cho sự xung đột giữa tồn tại và bản chất, giữa thể hiện khách quan và sự tự khẳng định, giữa tự do và tính cần thiết, giữa cá nhân và chủng loài. Chủ nghĩa cộng sản là câu đố lịch sử đã giải quyết, và tự thân nó phải là giải pháp này”. (Manuscripts, trang 135).

3. Đặc điểm chung có thể áp dụng vào phương thức mới

Trong The Communist Manifesto (Tuyên ngôn Đảng Cộng Sản), Marx bàn về chủ nghĩa cộng sản như một phương thức sản xuất mới mang tính cách mạng, và ông mô tả đặc điểm chung có thể áp dụng vào phương thức mới này:

- Xóa bỏ tài sản nông nghiệp và sử dụng tất cả tiền thuê đất dành cho các mục đích công cộng.

- Thuế thu nhập lũy tiến hay giảm dần.

- Xóa bỏ mọi quyền thừa kế.

- Tịch thu tài sản của tất cả di dân và phiến loạn.

- Tập trung hóa tín dụng vào tay nhà nước, bằng phương tiện ngân hàng quốc gia với vốn nhà nước và độc quyền.

- Tập trung hóa phương tiện giao thông, vận tải trong tay nhà nước.

- Mở rộng các nghiệp và công cụ sản xuất do nhà nước sở hữu, canh tác đất hoang, cải thiện đất theo kế hoạch chung.

- Nghĩa vụ pháp lý như nhau của mọi người phải lao động. Thiết lập các đạo quân công nghiệp nhất là trong nông nghiệp.

- Kết hợp nông nghiệp với các ngành công nghiệp sản xuất, xóa bỏ dần sự phân biệt giữa thành thị và nông thôn bằng sự phân bố công bằng hơn dân số trên khắp nước.

- Giáo dục miễn phí đối với tất cả trẻ em trong trường công lập. Xóa bỏ lao động trẻ em trong nhà máy như hình thức hiện nay. Kết hợp giáo dục với sản xuất công nghiệp, v.v...

4. Việc thực hiện và điều hành phương thức sản xuất mới

Chương trình 10 điểm này làm phát sinh nhiều vấn đề như đối với việc thực hiện và điều hành, nhưng Marx không hề đề cập chủ đề. Rõ ràng, ông nhìn thấy nhiệm vụ của mình là phân tích chủ nghĩa Tư bản và mâu thuẫn bên trong của chủ nghĩa này, và rõ ràng ông thích chừa phần xây dựng các xã hội khác cho người khác. Do đó, sau khi Marx mất, vấn đề vẫn bỏ ngỏ cho nhiều tranh luận và bất đồng qua các khía cạnh được áp dụng trong kinh tế chính trị học của ông. Cuộc chiến quyết liệt hơn gần lúc chuyển giao thế kỷ giữa những người xét lại chủ nghĩa Marx, chẳng hạn như Eduard Bernstein, là những người theo chủ nghĩa Lênin xác nhận sự bất lực của học thuyết Marx trong việc đưa ra tiến trình hành động cụ thể có thể suy luận từ chính bản thân học thuyết. Bernstein tổng kết thiên tài và khó khăn không ngờ đến trong tác phẩm của Marx như sau:

Thuyết nhị nguyên xuyên suốt toàn bộ công trình bất hủ của Marx... công trình nhằm mục đích nghiên cứu khoa học và cũng nhằm chứng minh học thuyết đã được thừa nhận trước khi phác thảo. Marx chấp nhận giải pháp của phái Không tưởng về cơ bản, nhưng cũng thừa nhận biện pháp và chứng cứ là không thích đáng. Vì thế ông tiến hành xem lại, bằng sự nhiệt tâm, chính xác tới hạn, và tình yêu chân lý của một thiên tài khoa học... Nhưng lúc Marx tiếp cận điểm khi mục đích cuối cùng đặt thành vấn đề nghiêm túc thì ông lại không chắc chắn và không đáng tin cậy... Vì thế, có vẻ tinh thần khoa học vĩ đại này cuối cùng là người nô lệ đối với học thuyết”. (.Evolutionary Socialism, trang 209-210).

5. Chủ nghĩa cộng sản

Chủ nghĩa cộng sản là một hình thái kinh tế xã hội và hệ tư tưởng chính trị ủng hộ việc thiết lập xã hội phi nhà nước, không giai cấp, tự do, bình đẳng, dựa trên sự sở hữu chung và điều khiển chung đối với các phương tiện sản xuất nói chung. Karl Marx cho rằng chủ nghĩa cộng sản sẽ là giai đoạn cuối cùng của lịch sử, đạt được qua một cuộc cách mạng vô sản. Trong xã hội cộng sản, các quyết định về việc sản xuất cái gì và theo đuổi những chính sách gì được lựa chọn một cách dân chủ, cho phép mọi thành viên của xã hội tham gia vào quá trình quyết định trong cả hai lĩnh vực chính trị và kinh tế. Việc sản xuất và phân phối của cải được tiến hành công bằng giữa các công dân. Karl Marx chưa bao giờ miêu tả chi tiết về việc chủ nghĩa cộng sản sẽ vận hành như thế nào trong vai trò một hệ thống kinh tế - xã hội, nhưng người ta hiểu rằng một nền kinh tế cộng sản chủ nghĩa sẽ dựa trên sở hữu toàn dân đối với các tư liệu sản xuất.

Chủ nghĩa cộng sản cố gắng đưa ra một giải pháp khác cho các vấn đề của kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa và di sản của chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa dân tộc. Marx khẳng định rằng cách duy nhất để giải quyết các vấn đề này là tầng lớp lao động (vô sản), những người mà theo Marx là lực lượng chính tạo ra của cải vật chất trong xã hội và là những người bị tầng lớp tư bản (tư sản) bóc lột, đứng lên làm tầng lớp cầm quyền thay cho giới tư sản để thiết lập một xã hội tự do, không phân biệt giai cấp hay chủng tộc. Người lao động đã được tổ chức thành giai cấp thống trị sẽ tước bỏ quyền tư hữu và kiểm soát tư liệu sản xuất vì lợi ích của xã hội. Theo quan điểm của những người cộng sản, chủ nghĩa cộng sản là con đường để giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng nhân loại. Thực hiện chủ nghĩa cộng sản thông qua cách mạng, bao gồm cách mạng lật đổ chế độ "người bóc lột người", và cách mạng xây dựng xã hội mới.

Trong vai trò một hệ tư tưởng chính trị, chủ nghĩa cộng sản thường được xem là một nhánh của chủ nghĩa xã hội; một nhóm học thuyết triết học chính trị và kinh tế được rút ra từ nhiều phong trào chính trị và tri thức có nguồn gốc từ các tác phẩm của các nhà lý thuyết của Cách mạng Công nghiệp và Cách mạng Pháp. Nhánh kia là lý luận của các đảng Dân chủ xã hội hiện có nhiều ảnh hưởng tại Tây Âu và Bắc Âu. Do cùng chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa Marx, các đảng cộng sản và Dân chủ xã hội thường có quan hệ đồng minh với nhau thành một lực lượng chung được gọi là cánh tả.

Chủ nghĩa cộng sản bắt nguồn từ phương Tây nhưng càng di chuyển về phương Đông càng bị biến đổi tùy theo tâm lý, văn hóa và những điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương mà nó đi qua làm nảy sinh ra những trường phái tư tưởng cộng sản khác nhau với cách hiểu khác nhau về chủ nghĩa cộng sản. Những hình thức nổi bật của chủ nghĩa cộng sản, chẳng hạn như Chủ nghĩa Lenin, chủ nghĩa Marx-Lenin, Chủ nghĩa Stalin, Chủ nghĩa Mao và Chủ nghĩa Trotsky, đều kế thừa từ Chủ nghĩa Marx, nhưng giữa chúng có những khác biệt tùy theo cách hiểu và bối cảnh xã hội mà nhà lý luận chịu ảnh hưởng. Chủ nghĩa cộng sản thường được hiểu là Chủ nghĩa Marx, tuy nhiên, chủ nghĩa cộng sản cũng có những phiên bản khác không liên quan đến Chủ nghĩa Marx, chẳng hạn như Chủ nghĩa cộng sản Thiên chúa giáo và Chủ nghĩa cộng sản vô chính phủ.

6. Di sản của Max

Marx ảnh hưởng sâu sắc đến thế kỷ 20, và đây là bằng chứng cho thấy ảnh hưởng sâu rộng của ông vượt khỏi giới hạn kinh tế học. Ngay cả trong kinh tế học, ảnh hưởng của Marx còn hơn cả một nhóm nhỏ các nhà kinh tế học vốn theo Marxist thuần túy - những người như Paul Sweezy, Maurice Dobb, Paul Baran và Ernest Mandel, chỉ kể ra một số. Bất cứ nhà kinh tế học nào lập luận từ tính ưu việt của sản xuất trong khi giải thích các mối quan hệ kinh tế có thể nói đã chịu ảnh hưởng của Marx. Đối với những ai xoay quanh phương pháp biện chứng, cho dù họ chấp nhận kết luận sau cùng trong phân tích của Marx hay không cũng chịu ảnh hưởng của ông.

Trong thời đại của Marx, phương pháp tư duy biện chứng, nhất là phép biện chứng Hegel, thấm nhuần khắp châu Âu, trong khi thế giới nói tiếng Anh chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa thực nghiệm của Locke và Hume nhiều hơn. Kết quả tư duy khoa học nói chung mang tính thực nghiệm về bản chất trong khi tư tưởng xã hội, chính trị và thần học, nhất là với cội rễ bắt nguồn ở châu Âu, lại có khuynh hướng mang tính biện chứng về bản chất. Điều này dẫn đến nhiều quan điểm rất khác biệt nhau, giải thích việc thiếu quan sát hiểu biết và sự dung hòa giữa các nhóm tư tưởng khác nhau.

Phái Marxist hiện đại bề ngoài có vẻ tập hợp lại quanh cốt lõi chủ nghĩa nhân văn trong tư tưởng của Marx. Tính phức tạp của sản xuất đại trà và sự tước đoạt “thế giới thứ ba” của nhiều nhóm và dân tộc khác nhau tạo thành loại chuyển nhượng mà Marx mô tả có vẻ như rất thực đối với một bộ phận lớn trong xã hội. Ngay cả những người công khai chỉ trích tính nhất thiết của cách mạng bạo động để có sự thay đổi có ý nghĩa trong xã hội cũng thường được chủ nghĩa nhân văn của Marx khuyến khích tìm kiếm những hình thức cải cách xã hội thay thế. Sau cùng, vấn đề này xem ra là phần lâu bền nhất trong di sản của Marx dành cho nhân loại.

LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm)