1. Giới thiệu tác giả

Cuốn sách "Lý luận và thực tiễn về trưng cầu ý dân trên thế giới và ở Việt Nam" do PGS.TS. Đặng Minh Tuấn làm chủ biên.

2. Giới thiệu hình ảnh sách

Sách Lý luận và thực tiễn về trưng cầu ý dân trên thế giới và ở Việt Nam

Lý luận và thực tiễn về trưng cầu ý dân trên thế giới và ở Việt Nam

Tác giả: PGS.TS. Đặng Minh Tuấn làm chủ biên

Nhà xuất bản Chính trị quốc gia

3. Tổng quan nội dung sách

Trưng cầu ý dân là một phương thức thực hiện dân chủ trực tiếp, theo đó, cử chi có quyền bỏ phiếu trực tiếp về các vấn đề chính trị, hiến pháp hay pháp luật. Trưng cầu ý dân thường được tổ chức để quyết định các vấn đề quan trọng của quốc gia (hoặc địa phương) như: sửa đổi hiến pháp, phân chia các đơn vị hành chính – lãnh thổ, phê chuẩn công ước, cũng như giải quyết một sự bế tắc chính trị hoặc tìm kiếm sự đồng thuận của Nhân dân về vấn đề đưa ra bỏ phiếu.

Trong xã hội hiện đại, Nhân dân chủ yếu thực hiện quyền làm chủ một cách gián tiếp thông qua những người đại diện ban hành quyết định thay mặt Nhân dân. Tuy vậy, có thể nói, những người đại diện không phải lúc nào cũng thực thi dựa trên ý chí của Nhân dân, thậm chí, có thể chỉ vì quyền lợi riêng của chính họ. Do vậy, dân chủ đại diện không thể thay thế dân chủ trực tiếp, mà ngược lại dân chủ trực tiếp được áp dụng một cách độc lập và có khả năng kiểm soát, bổ khuyết hình thức dân chủ đại diện. Chính vì thế, trưng cầu ý dân ngày càng được ghi nhận và áp dụng phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới.

Ở Việt Nam, quyền tham gia biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân là một trong những quyền chính trị cơ bản của công dân được Hiến pháp năm 1946 và các bản Hiến pháp sau này ghi nhận. Theo Hiến pháp năm 2013: “Công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân” (Điều 29); “Quốc hội quyết định trưng cầu ý dân” (khoản 15 Điều 70). Mặc dù được tuyên bố trong Hiến pháp, nhưng người dân cả nước chưa khi nào thực hiện quyền biểu quyết trưng cầu ý dân. Thực trạng này xuất phát từ nhiều nguyên nhân, mà trước hết phải kể đến bối cảnh khó khăn của những giai đoạn mà Nhân dân ta tiến hành các cuộc kháng chiến cứu nước, dành độc lập dân tộc và thống nhất đất nước. Bước sang giai đoạn Tổ quốc được thống nhất hoàn toàn, trong thời kỳ đầu của giai đoạn, tổ chức nhà nước theo nguyên tắc tập quyền, Nhà nước quản lý xã hội theo phương thức tập trung, bao cấp, do điều kiện khách quan và chủ quan nên các quyền tự do dân chủ trực tiếp lúc đó còn chưa thực sự được coi trọng. Tuy nhiên, khi Đảng và Nhà nước ta bắt đầu tiến hành công cuộc Đổi mới đất nước và đồng thời ngày càng coi trọng việc phát huy dân chủ thì trưng cầu ý dân được coi là một hình thức dân chủ đặc biệt quan trọng. Sau khi Hiến pháp năm 2013 được ban hành, Quốc hội đã chủ trương xây dựng một số luật về quyền con người, quyền công dân, trong đó phải kể đến Luật trưng cầu ý dân. Quá trình xây dựng Luật cần có thêm các dữ liệu nghiên cứu lý luận, pháp luật và thực tiễn về trưng cầu ý dân trên thế giới để tìm ra các kinh nghiệm cho Việt Nam.

Cuốn sách Lý luận và thực tiễn về trưng cầu ý dân trên thế giới và ở Việt Nam được thực hiện và xuất bản với sự hỗ trợ về tài chính trong Chương trình cải cách hành chính và quản trị công (giai đoạn II) hợp tác giữa Việt Nam và Đan Mạch, được triển khai tại Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội. Hy vọng cuốn sách sẽ bổ sung một số nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho bạn đọc, đặc biệt là các cơ quan nhà nước, các đại biểu Quốc hội, các giảng viên, học viên, sinh viên ngành luật và tất cả những ai quan tâm đến việc hoàn thiện khuôn khổ pháp luật và cơ chế về bảo đảm trưng cầu ý dân ở nước ta.

Nội dung:

Gồm các chương:

Chương I: Những vấn đề lý luận và pháp luật cơ bản về trưng cầu ý dân

Chương II: Pháp luật và thực tiễn về trưng cầu ý dân ở một số quốc gia trên thế giới

Chương III: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về trưng cầu ý dân ở Việt Nam

4. Đánh giá bạn đọc

Ở nước ta, ngay từ Hiến pháp năm 1946, tại Điều 21 đã có qui định: “Nhân dân có quyền phúc quyết về Hiến pháp và những việc có quan hệ đến vận mệnh quốc gia” và Điều 32 qui định: “Những việc có quan hệ đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa ra nhân dân phúc quyết, nếu hai phần ba số nghị viên đồng ý”.

Đến Hiến pháp 1959, việc trưng cầu ý dân được quy định trong Điều 53 (do Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định), Hiến pháp 1980 quy định trong Điều 100 (do Hội đồng Nhà nước quyết định), Hiến pháp 1992 qui định trong Điều 53 và Điều 84 (do Quốc hội quyết định).

Kế thừa các quy định trên, Hiến pháp năm 2013 quy định Quốc hội quyết định trưng cầu ý dân (Điều 70) và công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân (Điều 29). Nhằm thực thi quy định của Hiến pháp 2013, dự thảo Luật trưng cầu ý dân đang được Quốc hội xem xét, cho ý kiến vào kỳ hợp thứ 9 (đã được thông qua và có hiệu lực từ 01/7/2016). Cuốn sách "Lý luận và thực tiễn về trưng cầu ý dân trên thế giới và ở Việt Nam" được các tác giả biên soạn và phát hành vào năm 2015 thực sự là tài liệu tham khảo hữu ích đối với bạn đọc quan tâm tới vấn đề này.

5. Kết luận

Hy vọng những chia sẻ trên đây của chúng tôi sẽ là một nguồn tư liệu đánh giá chất lượng sách hiệu quả tin cậy của bạn đọc. Nếu thấy chia sẻ của chúng tôi hữu ích, bạn hãy lan tỏa nó đến với nhiều người hơn nhé! Chúc các bạn đọc sách hiệu quả và thu được nhiều thông tin hữu ích từ cuốn sách “Lý luận và thực tiễn về trưng cầu ý dân trên thế giới và ở Việt Nam".

Luật Minh Khuê chia sẻ dưới đây nội dung về khái niệm trưng cầu ý dân và đặc điểm của trưng cầu ý dân để bạn đọc tham khảo:

Thuật ngữ trưng cầu ý dân trong tiếng Anh là “referendum” (số nhiều referendums hoặc referenda). Còn có thuật ngữ khác là “plebiscite” – có nghĩa là cuộc bỏ phiếu toàn dân và thuật ngữ này vẫn được một số quốc gia trên thế giới sử dụng để thay thế cho “referendum”. Điều này tùy thuộc vào bối cảnh của từng quốc gia. Tuy nhiên, dù sử dụng thuật ngữ nào thì bản chất trưng cầu ý dân chính là một trong những hình thức của dân chủ trực tiếp.

Về cơ bản, trưng cầu ý dân được hiểu là thủ tục cho phép cử tri bỏ phiếu trực tiếp đối với các vấn đề chính trị, Hiến pháp hay pháp lý cụ thể và kết quả trưng cầu ý dân có thể ràng buộc về mặt pháp lý, hoặc được sử dụng cho mục đích lấy ý kiến tham vấn.

Trưng cầu ý dân diễn ra khi một cơ quan nhà nước có thẩm quyền đề nghị bỏ phiếu về một vấn đề nào đó, có thể là việc thông qua Hiến pháp mới; sửa đổi, bổ sung Hiến pháp; thông qua một đạo luật; hoặc đơn giản là một chính sách cụ thể của nhà nước. Ngoài ra, thuật ngữ “trưng cầu ý dân” rất gần nghĩa với một số thuật ngữ khác như “phúc quyết” hoặc “lấy ý kiến nhân dân”.

Giữa các thuật ngữ này, có thể so sánh, phân biệt như sau:

- Trưng cầu ý dân và phúc quyết Về mặt ngôn ngữ, phúc quyết được hiểu là việc đưa ra một vấn đề đã được quyết định ra để biểu quyết. Những vấn đề đưa ra phúc quyết phải là những vấn đề đã được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thông qua. Trong khi đó, những vấn đề đưa ra trưng cầu ý dân có thể là những vấn đề đã được cơ quan nhà nước thông qua hoặc cũng có thể chưa được thông qua. Trong lịch sử lập pháp của Việt Nam, thuật ngữ phúc quyết rất ít khi được sử dụng, chúng ta chỉ có thể thấy thuật ngữ này xuất hiện trong Hiến pháp năm 1946 và trong một số văn bản về tổ chức chính quyền địa phương vào cùng thời điểm đó (ví dụ như Sắc lệnh số 63-SL ngày 6 22/11/1945 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa).

- Trưng cầu ý dân và lấy ý kiến nhân dân là việc Nhà nước tổ chức để nhân dân đóng góp, tham gia ý kiến của mình về một vấn đề cụ thể đưa ra lấy ý kiến. Như vậy, xét về khía cạnh chung, nội hàm của trưng cầu ý dân hẹp hơn so với nội hàm của lấy ý kiến nhân dân. Điểm khác biệt cơ bản giữa lấy ý kiến nhân dân với trưng cầu ý dân là ở chỗ: thông qua trưng cầu ý dân người dân trực tiếp quyết định đồng ý hay không đồng ý (bằng cách bỏ phiếu) đối với vấn đề được đưa ra trưng cầu; còn thông qua ý kiến nhân dân, người dân chỉ đưa ra ý kiến (bằng văn bản hoặc góp ý trực tiếp) để cơ quan nhà nước tham khảo.

Nhìn chung, vị trí và vai trò của trưng cầu ý dân trong đời sống chính trị của mỗi quốc gia phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như: các điều kiện về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, trình độ dân trí, trình độ chính trị, trình độ pháp lý, thói quen thực hiện dân chủ của người dân trong từng nước, phụ thuộc vào sự tác động của các quốc gia khác trong khu vực và thế giới. Tuy nhiên, cần phải khẳng định rằng, khi dân chủ càng phát triển thì càng tạo điều kiện mở rộng và phát huy vai trò của trưng cầu ý dân và ngược lại.

Trong các xã hội dân chủ hiện đại, trưng cầu ý dân là một chế định Hiến pháp tồn tại trong nhiều hệ thống chính trị khác nhau ở các châu lục. Cho đến nay, đã có 101 nước trên tổng số 190 nước có quy định về trưng cầu ý dân. Tuy nhiên, trưng cầu ý dân cũng có thể bị lợi dụng vì mục đích chính trị của cá nhân hoặc một nhóm lợi ích. Vì vậy, Hiến pháp và pháp luật của các nước thường quy định rất chặt chẽ về thủ tục này để bảo đảm hạn chế những tiêu cực trên có thể xảy ra.

Trưng cầu ý dân với tư cách là một trong các cơ chế dân chủ trực tiếp không chỉ cung cấp cho cử tri các cơ hội mà còn biểu thị sự tham gia của người dân vào các hoạt động của nhà nước. Với tư cách là một hình thức của dân chủ trực tiếp, hoạt động trưng cầu ý dân có các đặc trưng cụ thể như sau:

- Trưng cầu ý dân có thể được quy định trong một bản Hiến pháp thành văn, trong một đạo luật chung hay trong một văn bản Luật quy định việc trưng cầu ý dân chỉ phục vụ cho việc bỏ phiếu lấy ý kiến về một vấn đề cụ thể nào đó.

- Trưng cầu ý dân có thể do các cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp hoặc người dân đề xướng. Ở một số quốc gia, thủ tục đề xướng được quy định trong Hiến pháp, trong khi đó, ở một số quốc gia khác, việc đề xướng trưng cầu ý dân được quy định trong một đạo luật hoặc văn bản điều hành của cơ quan hành pháp.

 - Kết quả của một cuộc trưng cầu ý dân do các nhà chức trách khởi xướng có thể mang tính tham vấn (không bắt buộc) hoặc có giá trị pháp lý ràng buộc (bắt buộc).