1. Kết hôn ở Malaysia thì ly hôn ở Việt Nam được không ?

Kính chào Luật minh khuê, Em có câu hỏi muốn hỏi: Em đã kết hôn ở Malaysia 5 năm rồi hiện tại bây giờ do một số khúc mắc gia đình vợ chồng hay cãi nhau về vấn đề con cái và tiền bạc.Tình trạng trầm trọng dẫn đến có khả năng phải xin ly hôn. Em xin ly hôn ở Việt Nam được không ? Vậy liệu sau khi ly hôn em có được hưởng quyền lợi gì không ?
Chân thành cảm ơn.

Trả lời:

Theo như những thông tin bạn cung cấp cho chúng tôi thì bạn đã kết hôn tại Malaysia và hiện tại muốn ly hôn tại Việt Nam thì việc bạn đã kết hôn phải được ghi vào Sổ đăng ký kết hôn tại Việt Nam mới có căn cứ giải quyết. Nếu bạn chưa làm thủ tục lưu trú thì bạn phải lưu trú, nếu không thì không có căn cứ cho ly hôn.

Theo quy định của pháp luật hiện hành thì tại : Luật hôn nhân và gia đình năm 2014Nghị định 126/2014/NĐ-CP: Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và gia đình, Do bạn không nói rõ về việc có lưu trú hay không nên chúng tôi hướng dẫn bạn thủ tục lưu trú như sau:

"Điều 36. Điều kiện, hình thức công nhận việc kết hôn của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài ở nước ngoài

1. Việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với nhau hoặc với người nước ngoài đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài ở nước ngoài được công nhận tại Việt Nam nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:

a) Việc kết hôn phù hợp với pháp luật của nước ngoài;

b) Vào thời điểm kết hôn, các bên tuân theo quy định về điều kiện kết hôn của Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam.

Trong trường hợp có vi phạm pháp luật Việt Nam về điều kiện kết hôn, nhưng vào thời điểm yêu cầu công nhận việc kết hôn, hậu quả của vi phạm đó đã được khắc phục hoặc việc công nhận kết hôn là có lợi để bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và trẻ em thì việc kết hôn đó cũng được công nhận tại Việt Nam.

2. Công nhận việc kết hôn quy định tại Khoản 1 Điều này được ghi vào Sổ đăng ký kết hôn theo thủ tục quy định tại Điều 38 của Nghị định này."

"Điều 38. Hồ sơ, trình tự, thủ tục ghi vào sổ việc kết hôn

1. Hồ sơ ghi vào sổ việc kết hôn được lập thành 01 bộ, gồm các giấy tờ sau đây:

a) Tờ khai ghi vào sổ việc kết hôn theo mẫu quy định;

b) Bản sao giấy tờ chứng nhận việc kết hôn do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp;

c) Bản sao một trong các giấy tờ để chứng minh về nhân thân, như Chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc giấy tờ hợp lệ thay thế;

d) Bản sao sổ hộ khẩu hoặc sổ tạm trú của người có yêu cầu.

Trong trường hợp công nhận việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài mà trước đó công dân Việt Nam hoặc người nước ngoài đã ly hôn với công dân Việt Nam tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thì phải nộp giấy xác nhận ghi vào sổ hộ tịch việc ly hôn đã được giải quyết ở nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam."

Về con chung và tài sản chung sẽ chia theo thỏa thuận hoặc chia theo quyết định của tòa án nếu có yêu cầu.

Ngoài ra việc kết hôn và ly hôn là sự tự nguyện, hiện nay không có bất cứ quy định nào của pháp luật về việc bồi thường khi ly hôn.

Do đó, khi chị hoàn thành thủ tục lưu trú này thì theo quy định pháp luật hiện hành thì đây chính là căn cứ để chị xin ly hôn tại Việt NAm hoặc anh chị có thể thỏa thuận giải quyết ly hôn tại Việt Nam và theo quy định của pháp luật Việt Nam. Bởi khi chị làm thủ tục lưu trú tại việc Việt Nam thì người ta căn cứ vào hộ tịch chị đã kết hôn hay chưa. Vì muốn Ly hôn thì căn cứ thứ nhất đó là phải có giấy đăng ký kết hôn và thứ hai đó phải là công dân của nước họ thì mới thuộc đối tượng và phạm vi giải quyết về ly hôn.

Theo như quy định của pháp luật hiện hành thì sau khi Ly hôn thì việc về tài sản chung hay con của chồng chị thì sẽ được chia theo quy định pháp luật nếu chồng chị và chị không thỏa thuận được và khi có yêu cầu. Ngoài ra, thì sau khi ly hôn thì chị chẳng có quyền lợi gì ngoài việc chị được tự do, được sống theo cách mình muốn chứ không bị ràng buộc trong mối quan hệ vợ chồng.

>> Tham khảo bài viết liên quan: Ly hôn có được bồi thường tuổi thanh xuân không ?

>> Xem thêm:  Đã ly hôn chồng không cho gặp con phải làm như thế nào ? Quyền nuôi con khi ly hôn ?

2. Thay đổi quyền nuôi con sau khi ly hôn ?

Xin chào luật sư. Tôi tên là Trần Quốc Tân, ngày 10 tháng 3 năm 2016 tôi và L.T Kim Ngân có ra tòa làm Thủ tục ly hôn. Và con chung là bé T.Đ Uyên Thư sinh ngày 5/12/2014 giao cho mẹ nuôi dưỡng. Nhưng sau khi ly hôn thì tôi nuôi 1 tuần và mẹ bé nuôi 1 tuần, và chi phi học hành của bé là do tôi lo vì mẹ của bé không có việc làm ổn định. Ngân có quen người đàn ông, sống ở nhà Ngân nhưng không kết hôn và bắt bé Uyên Thư gọi là " ba Hiếu". Bé không thích và khóc đòi về ba, về nội. Ngân vô cớ bắt bé Uyên Thư nghỉ học và dẫn đi TPHCM , không nói trước với tôi , tôi nhiều lần liên lạc để tìm con nhưng không được. Ngày 22/5 2017 tôi đã làm đơn gửi tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh Tỉnh Đồng Tháp xin thay đổi quyền trông nom bé Uyên Thư.
Xin luật sư cho ý kiến. Tôi có thể giành lại quyền nuôi con không. Từ lúc nộp đơn đến khi xử mất bao lâu tôi rất lo cho bé, nếu tòa án không liên lạc với Ngân thì phải làm sao?
-Trần Quốc Tân

Trả lời:

Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn như sau:

1. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều này, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

2. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con được giải quyết khi có một trong các căn cứ sau đây:

a) Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con;

b) Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phải xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên.

4. Trong trường hợp xét thấy cả cha và mẹ đều không đủ điều kiện trực tiếp nuôi con thì Tòa án quyết định giao con cho người giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự.

5. Trong trường hợp có căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều này thì trên cơ sở lợi ích của con, cá nhân, cơ quan, tổ chức sau có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con:

a) Người thân thích;

b) Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;

c) Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;

d) Hội liên hiệp phụ nữ.

Theo quy định của pháp luật hiện hành thì con dưới 36 tháng tuổi sẽ được giao cho người mẹ trực tiếp nuôi dưỡng, tuy nhiên nếu có căn cứ cho rằng mẹ của bé không đủ điều kiện để nuôi bé như không có công việc ổn định, không đủ đảm bảo được cả về vật chất và tinh thần cho bé thì anh có thể làm đơn xin thay đổi quyền nuôi con. Đơn được gửi đến tòa án nơi vợ cũ của anh đăng kí thường trú. Tòa án sẽ dựa trên các điều kiện, căn cứ anh đưa ra để đưa ra quyết định tốt nhất cho quyền lợi của cháu bé.

>> Xem thêm:  Hướng dẫn giải quyết tranh chấp tài sản chung, tài sản riêng khi ly hôn?

3. Ly hôn khi không hợp tính với mẹ chồng ?

Kính gửi luật sư! Cháu năm nay được 24 tuổi đã kết hôn được ba năm và có một con trai nay được 20 tháng tuổi Nay cháu viết thư này để hỏi luật sư để hỏi một vấn đề như sau : Vì mẹ chồng quá khó chê cháu không được giỏi giang. Phải biết trước một xu cũng không thèm cưới, cộng thêm bốn người chị chồng lúc nào cũng can thiệp vào xúi chồng cháu ly dị. Cháu đề nghị với chồng ra ở riêng nhưng chồng cháu và mẹ chồng không đồng ý. Thậm chí còn bị cả em chồng trai đánh ngay trước mặt cha mẹ chồng . Quá sức chịu đựng nên cháu bế con về cha mẹ đẻ, có đem theo 20 triệu đồng tiền nuôi heo có được nhờ cha mẹ đẻ cho riêng. Thế là cả mẹ chồng chị chồng và chồng cháu sang nhà chửi mắng bắt con cháu đem đi và hăm dọa sẽ dùng chổi đánh đuổi nếu cháu trở về. Bây giờ cháu muốn ly dị nhưng giấy chứng minh và đăng ký kết hôn, giấy khai sinh của con để bên nhà chồng mà không dám về lấy. Vậy cháu xin hỏi luật sư cháu phải làm sao để có được thủ tục ly hôn? Cháu rất là nhớ con, con cháu chắc cũng khóc nhiều lắm.

Kinh mong luật sư chỉ giúp!

-Trung Le

Những vấn đề cần biết khi tiến hành thủ tục ly hôn

Luật sư tư vấn thủ tục ly hôn trực tuyến, gọi ngay: 1900.6162

Trả lời:

Hồ sơ xin ly hôn đơn phương gồm có:

1. Đơn xin ly hôn, có xác nhận của UBND cấp xã, phường, thị trấn

2. Bản sao Giấy khai sinh của cháu bé;

3. Bản sao Giấy CMND, sổ hộ khẩu của chị và của chồng chị (nếu có);

4. Bản chính Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn. Trường hợp không có bản chính Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn, thì chị phải xin xác nhận của UBND cấp xã, phường, thị trấn nơi đã đăng ký kết hôn.

Các giấy tờ nêu trên đều là những giấy tờ cần thiết để thực hiện thủ tục ly hôn. Nếu không có đủ hồ sơ, rất khó để tòa án có thể thụ lý vụ án của bạn. Trong trường hợp này của bạn, do bạn đã từng bị xúc phạm đe dọa nên cách tốt nhất là bạn nhờ đại diện chính quyền địa phương can thiệp, bạn có thể trình bày vấn đề của mình và nhờ đại diện Hội phụ nữ, tổ trưởng dân phố,... cùng đến nhà chồng bạn cùng bạn để lấy các giấy tờ cần thiết và hoàn tất hồ sơ xin ly hôn.

>> Xem thêm:  Thủ tục xin ly hôn khi đang mang thai ? Cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết ly hôn ?

4. Tư vấn chấm dứt quan hệ hôn nhân: Ly thân, ly hôn...?

Thưa luật sư! Tôi và chồng tôi đã kết hôn được 7 năm , đã có hai con chung cháu lớn sinh năm 2010 và cháu bé sinh năm 2013. hiện chúng tôi đang sống ly thân ,tôi và hai con đang sống ở nhà mẹ đẻ, chồng tôi là người cờ bạc và có quan hệ ngoài luồng với người phụ nữ khác ,tôi đã nhiều lần khuyên bảo và tha thứ cho anh nhưng anh vẫn không thể thay đổi được nên giờ tôi muốn ly hôn với anh. Cho tôi hỏi sau khi ly hôn tôi muốn được nuôi hai con thì có được không ạ? tôi phải làm thế nào để có thể được nuôi hai con chung ạ ?

-Bùi Thi Lý

Trả lời:

Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn như sau:

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

Như vậy đối với cháu lớn nếu đã đủ 7 tuổi thì tòa án sẽ xem xét nguyện vọng của cháu muốn ở cùng bố hay ở cùng mẹ. Đối với cháu nhỏ chưa đủ 7 tuổi thì bên nào có điều kiện nuôi con tốt hơn thì sẽ được tòa án giao cho quyền nuôi con. Do đó, nếu bạn muốn tiến hành ly hôn với chồng thì bạn và chồng có thể thỏa thuận về việc để bạn nuôi dưỡng cả 2 cháu, trong trường hợp không thỏa thuận được thì trong đơn xin ly hôn bạn cần nêu rõ những điều kiện tốt hơn chồng cả về vật chất và tinh thần để tòa án xem xét trao cho bạn quyền nuôi con.

>> Xem thêm:  Tư vấn giải quyết cưỡng chế thi hành án khi chồng không thực hiện nghĩa vụ tài sản sau ly hôn ?

5. Cách giành quyền nuôi con sau ly hôn ?

Thưa luật sư! Tôi gửi thư này mong luật sư giúp tôi giải đáp thắc mắc về vấn đề dành lại quyền nuôi con sau ly hôn. Trước khi ly hôn tôi và chồng tôi đã ly thân 2 năm. Đến năm 2015 mới chính thức ly hôn. Vì điều kiện của tôi không đủ nên không có khả năng nuôi con, tôi đã để quyền nuôi con cho gia đình chồng. Sau khi ly hôn chồng tôi lấy vợ và đã có con trước với người phụ nũ khác. Từ thời gian ly hôn đến nay tôi thăm nom con rất khó khăn, mẹ chồng và vợ của chồng cũ của tôi luôn xúc phạm tôi, hơn nữa còn thường xuyên nói với con trẻ những lời làm chia cắt tình cảm mẹ con tôi. Đến việc cuối tuần muốn đón con về nhà ngoại cũng khó khăn. Nay tôi đã có công việc ổn định và muốn dành lại quyền nuôi con ?

Kính mong luật sư giúp đỡ tôi để tôi thực hiện nguyện vọng của mình. Trân thành cảm ơn luật sư.

-Phạm Trang

Trả lời:

Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định như sau:

Điều 82. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Điều 84. Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn như sau:

1. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều này, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

2. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con được giải quyết khi có một trong các căn cứ sau đây:

a) Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con;

b) Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phải xem xét nguyện vọng của con từ đủ 07 tuổi trở lên.

4. Trong trường hợp xét thấy cả cha và mẹ đều không đủ điều kiện trực tiếp nuôi con thì Tòa án quyết định giao con cho người giám hộ theo quy định của Bộ luật dân sự.

5. Trong trường hợp có căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều này thì trên cơ sở lợi ích của con, cá nhân, cơ quan, tổ chức sau có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con:

a) Người thân thích;

b) Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;

c) Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;

d) Hội liên hiệp phụ nữ.

Như vậy, sau khi ly hôn, bạn có quyền thăm nom con mà không ai được cản trở, trong trường hợp gia đình chồng cũ của bạn gây khó khăn cho việc thực hiện quyền thăm nom con của bạn thì bạn có thể gửi đơn đến cơ quan thi hành án để được giải quyết. Đối với việc bạn muốn giành lại quyền nuôi con thì bạn cần phải chứng minh được rằng chồng cũ của bạn không đủ khả năng nuôi dưỡng cháu nữa hoặc có ảnh hưởng xấu tới sự phát triển về thể chất và tâm lý của của cháu. Nếu không có các căn cứ trên thì bạn khó có thể giành lại quyền nuôi con được.

>> Xem thêm:  Việc chia tài sản trước khi ra tòa ly hôn có vi phạm pháp luật không ?

6. Ly hôn đơn phương khi chồng không chịu ký đơn ly hôn ?

Thưa luật sư tôi đã lập gia đình được gần 3 năm có 1 con trai chung gần 2 tuổi tôi quê ở Hà Nam đang làm việc ở Hà nội lấy vợ người Hà nội 2 . Cuộc sống sau hôn nhân cũng có những cãi vã ..... nhưng có thể cho qua. Hoàn cảnh gia đình nhà tôi có 2 chị e , chị lấy chồng bên hải dương .Đến tháng 11/2016 bố tôi khi tham gia giao Thông đã không may xảy ra tai nạn và đã mất . Ở nhà còn lại bà ngoại ngoài 85t mẹ cũng ốm đau tôi là người con làm tròn chữ hiếu đã bỏ cong việc trên Hà nội về nhưng vợ tôi lại không về Hà nam cùng tôi và cũng không ký đơn ly hôn.

Vậy xin hỏi luật minhkhue là: tôi có ly hôn đơn phương được không,tôi có quyền nuôi con không , thời gian ly hôn là bao nhiêu lâu, án phí là bao nhiêu ?

Xin chân thành cảm ơn

Trả lời:

Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về việc ly hôn theo yêu cầu của một bên như sau:

1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Tòa án tuyên bố mất tích yêu cầu ly hôn thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.

3. Trong trường hợp có yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Luật này thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc chồng, vợ có hành vi bạo lực gia đình làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của người kia.

Như vậy trong trường hợp này, để ly hôn đơn phương thì bạn cần đưa ra 1 lý do hợp lí, nếu chỉ vì lí do vợ bạn không cùng bạn về quê mà bạn xin ly hôn thì sẽ không được tòa án chấp nhận. Nếu có thể tiến hành ly hôn thì đối với con chưa đủ 36 tháng tuổi, tòa án giành quyền ưu tiên cho người mẹ trực tiếp nuôi dưỡng. Thông thường vụ án ly hôn đơn phương sẽ được giải quyết trong khoảng thời gian từ 3 tháng đến 6 tháng. Về án phí, nếu không có tranh chấp về tài sản thì mức thu là 300.000 đồng. Nếu có tranh chấp về tài sản thì tùy theo giá trị của tài sản tranh chấp, tòa án sẽ đưa ra các mức thu khác nhau.

Đừng ngần ngại, hãy chia sẽ những vấn đề thầm kín nhất, những vướng mắc pháp lý trong quan hệ hôn nhân bằng cách gọi:1900.6162 để nhận được sự tư vấn từ Chúng tôi.

Nếu bạn muốn đặt lịch tư vấn trực tiếp tại văn phòng vui lòng tham khảo bài viết: Dịch vụ luật sư tư vấn pháp luật trực tiếp tại văn phòng

Bạn cũng có thể tham khảo thêm: Một số video tư vấn pháp luật lĩnh vực hôn nhân gia đình do Luật Minh Khuê xây dựng hoặc tham gia trả lời trên truyền hình

Rất mong được phục vụ Quý khách hàng trên phạm vi cả nước!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Hướng dẫn viết đơn xin ly hôn như thế nào ? Giải quyết tranh chấp tài sản sau ly hôn ?

>> Xem thêm:  Những rủi ro khi vắng mặt không lý do tại tòa án buổi hòa giải và giải quyết việc ly hôn ?