1. Khái niệm công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài tại Việt Nam

Với mục tiêu làm bạn với tất cả các nước, Việt Nam đã thực hiện “mở cửa”, mở rộng quan hệ hợp tác với các quốc gia, thu hút đầu tư nước ngoài. Trong những năm gần đây, thành quả mà Việt Nam đạt được về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội khi thực hiện chính sách này đều được các nước công nhận và khích lệ. Tuy nhiên, từ việc thực hiện chính sách mở cửa để đẩy mạnh hợp tác quốc tế, tại Việt Nam xuất hiện ngày càng nhiều các quan hệ giữa công dân, pháp nhân Việt Nam với công dân, pháp nhân nước khác. Từ đó, đã làm phát sinh nhu cầu được công nhận và cho thi hành trên lãnh thổ Việt Nam những bản án, quyết định của tòa án nước ngoài, phán quyết của ưọng tài nước ngoài để bảo vệ quyền và lợi ích của công dân, pháp nhân Việt Nam cũng như công dân, pháp nhân nước ngoài. Theo nguyên tắc chủ quyền quốc gia thì bản án, quyết định của tòa án, phán quyết của ưọng tài nước nào sẽ chỉ có hiệu lực và được thi hành trong phạm vi lãnh thổ của quốc gia đó. Vì vậy, bản án, quyết định dân sự của tòa án, phán quyết của trọng tài nước ngoài muốn có giá trị pháp lí và có hiệu lực thi hành tại Việt Nam thì chúng phải được tòa án có thẩm quyền của Việt Nam công nhận và cho thi hành. Tuy vậy, Nhà nước Việt Nam rất coi trọng vấn đề công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của tòa án và phán quyết của trọng tài nước ngoài trên cơ sở các cam kết quốc tế. Điều này thấy rõ qua nội dung các hiệp định tương trợ tư pháp mà Nhà nước Việt Nam đã kí kết với các nước từ năm 1980 đến nay và việc Việt Nam tham gia Công ước New York năm 1958 về công nhận và thi hành các quyết định của trọng tài nước ngoài. Trên cơ sở những điều ước quốc tế mà Việt Nam đã kí kết với các nước hoặc tham gia, trong thời gian qua, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp luật quy định về thủ tục công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của tòa án, phán quyết của trọng tài nước ngoài như Pháp lệnh công nhận và thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài năm 1994; Pháp lệnh công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định của trọng tài nước ngoài năm 1996; Bộ luật tố tụng dân sự. Hiện nay, thủ tục công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài, phán quyết của trọng tài nước ngoài được quy định tại Phần thứ bảy Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Thủ tục công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài, phán quyết của trọng tài nước ngoài là một trình tự tố tụng dân sự đặc biệt bao gồm các thủ tục do pháp luật quy định được tòa án có thẩm quyền của Việt Nam thực hiện nhằm xem xét tính có hiệu lực pháp luật để từ đó công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của tòa án ngoài, phán quyết của trọng tài nước ngoài trên lãnh thổ của Việt Nam. Đặc điểm cơ bản của thủ tục công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của tòa án, phán quyết của trọng tài nước ngoài là tòa án Việt Nam không xem xét lại nội dung của vụ việc để tránh tình trạng một vụ việc bị xét xử hai lần mà chỉ kiểm tra, đối chiếu bản án, quyết định dân sự của tòa án, phán quyết của trọng tài nước ngoài, các giấy tờ, tài liệu kèm theo đơn yêu cầu với các quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt Nam kí kết hoặc gia nhập có liên quan để quyết định có công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của tòa án, phán quyết của trọng tài nước ngoài hay không. Nếu bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài, phán quyết của trọng tài nước ngoài đã được tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành, chúng sẽ được đảm bảo thi hành ưên lãnh thổ Việt Nam như các bản án, quyết định dân sự của tòa án Việt Nam, như các phán quyết của trọng tài Việt Nam. Ngược lại, nếu bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài, phán quyết của ttọng tài nước ngoài không được tòa án Việt Nam công nhận và cho thi hành, chúng sẽ không được thi hành ưên lãnh thổ Việt Nam. Một đặc điểm nữa của thủ tục công nhận hay không công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của tòa án, phán quyết của ttọng tài nước ngoài là đương sự không trực tiếp gửi đơn yêu cầu và các tài liệu kèm theo đến tòa án mà phải thông qua Bộ tư pháp Việt Nam. Bộ tư pháp là cơ quan đầu mối, kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ, lập hồ sơ vụ việc và gửi đến tòa án có thẩm quyền.

2. Ý nghĩa của việc công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài tại Việt Nam

Việc quy định công nhận hay không công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài, phán quyết của trọng tài nước ngoài là những cơ sở pháp lí thiết thực, vừa đảm bảo cho việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, vừa là cơ sở pháp lí cho việc hợp tác phát triển kinh tế, xây dựng đất nước. Trên cơ sở của việc công nhận và cho thi hành tại Việt Nam các bản án, quyết định của tòa án nước ngoài và quyết định của ttọng tài nước ngoài, chúng ta có cơ hội phát triển mở rộng được hợp tác đầu tư, tăng cường được sự họp tác về mọi mặt đối với các nước, từ đó phát triển kinh tế đất nựớc.

Việc công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài, phán quyết của trọng tài nước ngoài cũng góp phần tăng cường sự phối hợp giữa Việt Nam với các quốc gia trong việc thực thi các bản án, quyết định dân sự của tòa án, phán quyết của ttọng tài vừa thể hiện rõ thiện chí hợp tác quốc tế cùng với các quốc gia khác trong việc bảo vệ quyền con người của Việt Nam. Đối với các cá nhân, tổ chức nước ngoài, thủ tục công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài, phán quyết của ttọng tài nước ngoài còn tạo đỉều kiện thuận lợi cho họ bảo vệ được quyền lợi chính đáng trên lãnh thổ Việt Nam. Đối với các cá nhân, tổ chức Việt Nam, việc công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định của tòa án Việt Nam, phán quyết của ttọng tài nước ngoài không những bảo đảm việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ trên lãnh thổ Việt Nam mà còn cả trên lãnh thổ của nước ngoài theo nguyên tắc có đi có lại.

Ngoài ra, việc công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài, phán quyết của trọng tài nước ngoài của pháp luật nước ta hiện nay thể hiện sự phù hợp giữa pháp luật Việt Nam với tập quán quốc tế, góp phần củng cố địa vị cửa Việt Nam ttên trường quốc tế. Thủ tục công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài, phán quyết của ttọng tài nước ngoài còn nhăm đảm bảo giải quyết xung đột về quyền tài phán và bảo đảm tôn ttọng quyền tài phán của mỗi quốc gia.

Riêng với trường hợp không công nhận bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài, phán quyết của trọng tài nước ngoại trên lãnh thổ Việt Nam thì việc không công nhận đó là biện pháp pháp lí để Việt Nam bào vệ chủ quyền quốc gia trong lĩnh vực tư pháp nói chung, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Việt Nam và nước ngoài ttên lãnh thổ Việt Nam nói riêng.

>> Xem thêm:  Điều kiện thương mại quốc tế (INCOTERMS) là gì ? Thời điểm chuyển dịch rủi ro trong Incoterms

3. Nội dung công nhân và thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài

Như đã đề cập ở phần trên, một trọng tài quốc tế có thể là một trọng tài nước ngoài hoặc một trọng tài trong nước. Đối với một trọng tài trong nước thì không đặt ra vấn đề công nhận và thi hành 1958 về công nhận và thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài (Công ước được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 07/6/1958 và có hiệu lực từ ngày 07/6/1959 (sau đây gọi tắt là Công ước). Việt Nam đã gia nhập Công ước ngày 28/7/1995) là công ước quốc tế đa phương tiêu biểu nhất, có phạm vi ảnh hưởng rộng nhất, và có số thành viên nhiều nhất. Tính đến nay, đã có 146 quốc gia là thành viên chính thức của công ước này. Công ước New York 1958 có một số nội dung cơ bản sau đây:

Thứ nhất, phán quyết trọng tài thuộc diện điều chỉnh của Công ước

Theo Điều I, phán quyết của trọng tài nước ngoài được hiểu là phán quyết của trọng tài được tuyên ở lãnh thổ của quốc gia khác với quốc gia nơi có yêu cầu công nhận và cho thi hành phán quyết trọng tài đó. Ngoài ra, phán quyết của trọng tài cũng được xem là phán quyết của trọng tài nước ngoài nếu nó được coi là phán quyết của trọng tài nước ngoài (không phải là phán quyết của trọng tài trong nước) tại quốc gia mà phán quyết được yêu cầu công nhận và thi hành.

Cần lưu ý là, cũng theo Điều I của Công ước, chỉ có các phán quyết trọng tài xuất phát từ hanh chấp giữa các cá nhân, pháp nhân mới trở thành đối tượng được Công ước điều chỉnh.

Thứ hai, quyền của các quốc gia thành viên

Theo Điều I của Công ước, bất kì quốc gia thành viên nào cũng có thể trên cơ sở có đi có lại, tuyên bố rằng quốc gia đó sẽ áp dụng Công ước đối với việc công nhận và thi hành các quyết định được đưa ra tại lãnh thổ một quốc gia thành viên khác mà thôi. Quốc gia đó còn có thể tuyên bố chỉ áp dụng Công ước cho các hanh chấp phát sinh từ các quan hệ pháp lý, dù là quan hệ hợp đồng hay không, được coi là quan hệ thương mại theo pháp luật của Quốc gia đó.

Thứ ba, những trường hợp có thể từ chối việc công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài ở một nước thành viên của Công ước.

4. Công nhận và thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài tại Việt Nam

>> Xem thêm:  Trọng tài quốc tế là gì ? Nội dung bản quy tắc về trọng tài quốc tế ?

Hiện nay, việc công nhận và thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài tại Việt Nam được thực hiện trên cơ sở Công ước NewYork 1958 về công nhận và thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài mà nước ta đã gia nhập vào 28/7/1995, các điều ước quốc tế song phương mà Việt Nam ký kết với các nước (hiệp định khuyến khích bảo hộ đầu tư, hiệp định thương mại, Hiệp định tương trợ tư pháp), và các văn bản pháp luật quốc nội mà nền tảng là Bộ luật tố tụng dân sự 2015 và Luật trọng tài thương mại 2010.

Công ước New York đưa ra một số nội dung về công nhận giá trị hiệu lực của thoả thuận trọng tài bằng văn bản (Điều II), nội dung đơn yêu cầu công nhận và thi hành (Điều IV), các trường hợp từ chối công nhận và thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài (Điều V), hoãn quyết định thi hành (Điều VI), đặc biệt Điều III Công ước đã quy định rõ nguyên tắc công nhận và thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài là “theo quy tắc về thủ tục của lãnh thổ nơi phán quyết sẽ được thi hành” và theo các điều kiện được nêu trong các điều khoản của Công ước. Như vậy, Công ước New York 1958 không chứa đựng các điều khoản về trình tự, thủ tục công nhận và thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài nhưng quy định các điều khoản liên quan tới việc không công nhận và thi hành phán quyết trọng tài, hoãn quyết định thi hành, nội dung đơn yêu cầu công nhận và thi hành phán quyết trọng tài .... Các nước thành viên không được đặt ra các điều kiện công nhận và thi hành nặng nề hơn so với Công ước. Ngược lại với Công ước New York, đa phần các hiệp định song phương không giải quyết cụ thể việc công nhận và thi hành tại nước ký kết phán quyết của trọng tài thương mại được tuyên ở nước ký kết kia mà thường dẫn chiếu tới Công ước New York 1958 hoặc dẫn chiếu tới pháp luật của nước ký kết nơi phán quyết trọng tài được thi hành. Ví dụ, khoản 6 Điều 4 Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ quy định: “Mỗi Bên thực hiện không chậm trễ các quy định của phản hợp với Công ước New York 1958. Có thể đưa ra một số nội dung pháp lý cơ bản về công nhận và thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài theo pháp luật Việt Nam như sau:

Thứ nhất, định nghĩa phán quyết trọng tài nước ngoài

Theo khoản 12 Điều 3 Luật trọng tài thương mại năm 2010:

“Phán quyết của trọng tài nước ngoài là phán quyết do trọng tài nước ngoài tuyên ở ngoài lãnh thồ Việt Nam hoặc ở trong lãnh thổ Việt Nam để giải quyết tranh chap do các bên thoả thuận lựa chọn"

Thứ hai, về nguyên tắc công nhận và thi hành phán quyết trọng tài nước ngoài

Có một số nguyên tắc cần phải tuân thủ khi công nhận và thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài được đưa ra tại Điều 424 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 như sau:

Một là, toà án Việt Nam xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của trọng tài nước ngoài mà nước đó và Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam cùng là thành viên của điều ước quốc tế về công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài.

Hai là, phán quyết của trọng tài nước ngoài cũng có thể được toà án Việt Nam xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam trên cơ sở có đi có lại mà không đòi hỏi Việt Nam và nước đó phải cùng là thành viên của điều ước quốc tế về công nhận và cho thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài.

Ba là, phán quyết của trọng tài nước ngoài được xem xét công nhận và cho thi hành tại Việt Nam là phán quyết cuối cùng của Hội đồng trọng tài giải quyết toàn bộ nội dung vụ tranh chấp, chấm dứt tố tụng trọng tài và có hiệu lực thi hành.

Thứ ba, về quyền được yêu cầu công nhận và thi hành phán quyết của trọng tài nước ngoài

>> Xem thêm:  Chính sách hỗ trợ của cơ quan tư pháp, tòa án đối với hoạt động trọng tài thương mại ?

Theo khoản 1 Điều 425 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, người được thi hành hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền gửi đơn yêu cầu:

- Thoả thuận trọng tài không có giá trị pháp lý theo pháp luật của nước mà các bên đã chọn để áp dụng hoặc theo pháp luật của nước nơi phán quyết đã được tuyên, nếu các bên không chọn pháp luật áp dụng cho thoả thuận đó.

- Cơ quan, tổ chức, cá nhân phải thi hành không được thông báo kịp thời và hợp thức về việc chỉ định trọng tài viên, về thủ tục giải quyết vụ tranh chấp tại trọng tài nước ngoài hoặc vì nguyên nhân chính đáng khác mà không thể thực hiện được quyền tố tụng của mình.

- Phán quyết của trọng tài nước ngoài được tuyên về một vụ tranh chấp không được các bên yêu cầu giải quyết hoặc vượt quá yêu cầu của các bên ký kết thoả thuận trọng tài. Trường hợp có thể tách được phần quyết định về vấn đề đã được yêu cầu và phần quyết định về vấn đề không được yêu cầu giải quyết tại trọng tài nước ngoài thì phần quyết định về vấn đề được yêu cầu giải quyết có thể được công nhận và cho thi hành tại Việt Nam.

- Thành phần của trọng tài nước ngoài, thủ tục giải quyết tranh chấp của trọng tài nước ngoài không phù hợp với thoả thuận trọng tài hoặc với pháp luật của nước nơi phán quyết của trọng tài nước ngoài đã được tuyên, nếu thoả thuận trọng tài không quy định về các vấn đề đó.

- Phán quyết của trọng tài nước ngoài chưa có hiệu lực bắt buộc đối với các bên.

- Phán quyết của trọng tài nước ngoài bị cơ quan có thẩm quyền của nước nơi phán quyết đã được tuyên hoặc của nước có pháp luật đã được áp dụng hủy bỏ hoặc đình chỉ thi hành.

- Toà án Việt Nam xét thấy, theo pháp luật Việt Nam, vụ tranh chấp không được giải quyết theo thể thức trọng tài.

- Toà án Việt Nam xét thấy, việc công nhận và cho thi hành tại Việt Nam phán quyết của trọng tài nước ngoài trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Mọi vướng mắc pháp lý về luật dân sự, tố tụng dân sự về công nhận và cho thi hành quyết định, bản án tòa án nước ngoài, tổ chức trọng tài nước ngoài tại Việt Nam cũng như các vấn đề khác liên quan. Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật dân sự, thừa kế trực tuyến.

>> Xem thêm:  Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC) là gì ? Quy định về phán quyết, điều lệ trung tâm trọng tài ?

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Phân biệt trọng tài và toà trọng tài trong việc giải quyết tranh chấp quốc tế ?