Mục lục bài viết
- 1. Khái niệm cưỡng chế thi hành án dân sự
- 2. Đặc điểm của thi hành án dân sự
- 2.1 Văn bản cưỡng chế THADS do chấp hành viên ban hành
- 2.2 Cưỡng chế THADS là hoạt động mang tính quyền lực Nhà nước
- 2.3 Cưỡng chế THADS là hoạt động sáng tạo, chủ động, với tính trách nhiệm cao, tính quyết đoán của CHV
- 2.4 Cưỡng chế THADS phải tuân thủ đúng quy trình, thủ tục nghiêm ngặt do pháp luật quy định
1. Khái niệm cưỡng chế thi hành án dân sự
Thi hành án là dạng hoạt động chấp hành, quản lý và thể hiện rõ tính chất hành chính, chỉ được tiến hành trên cơ sở các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và trong khuôn khổ luật định; toàn bộ quá trình THA với những hoạt động, biện pháp, cách thức khác nhau đều nhằm thực hiện những nội dung đã được thể hiện trong các bản án, quyết định của toà án và theo các quy định cụ thể của pháp luật. Để thực hiện các hoạt động chấp hành và quản lý, phương pháp thuyết phục, giáo dục có ý nghĩa quan trọng nhưng phương pháp mệnh lệnh, bắt buộc (cưỡng chế) phải thi hành có tính chất đặc thù (trong thi hành án hình sự đó là phương pháp chủ yếu và có tính tiên quyết).
Theo Từ điển Luật học "cưỡng chế" được hiểu là: "Những biện pháp bắt buộc cá nhân hay tổ chức phải thực hiện và phục tùng một mệnh lệnh nhất định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền do pháp luật qui định".
Cưỡng chế là dùng quyền lực nhà nước bắt buộc cá nhân, tổ chức phải thực hiện những việc trái ý muốn của họ. Cưỡng chế gắn liền với hoạt động quản lý nhà nước và là một trong những phương pháp chủ yếu của hoạt động quản lý nhà nước. Cưỡng chế ở các Nhà nước khác nhau có bản chất khác nhau. Trong Nhà nước pháp quyền việc cưỡng chế nhằm mục đích thi hành pháp luật của nhà nước, duy trì trật tự xã hội. Ở nhà nước pháp quyền XHCN cưỡng chế là sự áp đặt ý chí của đa số mà Nhà nước là người đại diện đối với thiểu số, được áp dụng trong giới hạn do pháp luật qui định và được thực hiện một cách chặt chẽ. Cưỡng chế có nhiều loại, trong đó cưỡng chế THA nói chung, cưỡng chế THADS nói riêng.
THADS là quá trình thực hiện các quyền, nghĩa vụ dân sự của các đương sự đã được xác định trong các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, hoặc chưa có hiệu lực pháp luật nhưng được thi hành ngay (trường hợp áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án) được đưa ra thi hành. Theo quy định tại Điều 9 Luật THADS thì nhà nước khuyến khích đương sự tự nguyện THA và người phải THA có điều kiện THA mà không tự nguyện thi hành thì bị cưỡng chế THA. Do vậy, việc tự nguyện THA được coi là biện pháp quan trọng trong hoạt động THADS. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, người phải THA mặc dù có điều kiện THA nhưng vẫn không tự nguyện thi hành trong thời hạn mà cơ quan THA đã ấn định, tìm cách trì hoãn, trốn tránh việc THA. Trong những trường hợp này, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được THA, bảo đảm cho pháp luật được thi hành nghiêm chỉnh thì việc cưỡng chế THADS là hết sức cần thiết.
Đây là hoạt động thực hiện quyền lực Nhà nước, thể hiện ở việc cơ quan THADS sử dụng các biện pháp cưỡng chế khác nhau do pháp luật qui định, để đảm bảo hiệu lực, hiệu quả của các bản án, quyết định của Tòa án được thực thi trên thực tế mà bên phải THA không tự nguyện chấp hành án. Việc làm này, nhằm bảo vệ pháp chế XHCN, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, Nhà nước và doanh nghiệp. Việc sử dụng các biện pháp cưỡng chế chỉ nhằm vào đối tượng chủ yếu là tài sản hoặc hành vi của người phải THA và chỉ trong giới hạn mà pháp luật cho phép. Theo quy định tại Điều 46 Luật THADS, sau khi hết thời hạn tự nguyện THA, nếu người phải THA có điều kiện THA mà không THA, hoặc trong trường hợp cần ngăn chặn người phải THA có hành vi tẩu tán, hủy hoại tài sản, hoặc hành vi khác nhằm trốn tránh nghĩa vụ THA thì CHV có quyền áp dụng ngay các biện pháp cưỡng chế THA.
Các căn cứ cưỡng chế THADS quy định tại Luật THADS, gồm:
Một là, bản án, quyết định dân sự, hình phạt tiền, tịch thu tài sản, truy thu tiền, tài sản thu lợi bất chính, xử lý vật chứng, tài sản, án phí và quyết định dân sự trong bản án, quyết định hình sự, phần tài sản trong bản án, quyết định hành chính của Tòa án, quyết định của Tòa án giải quyết phá sản, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia, Hội đồng xử lý vụ việc hạn chế cạnh tranh, quyết định giải quyết khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của Chủ tịch Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia, Hội đồng giải quyết khiếu nại quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh có liên quan đến tài sản của bên phải thi hành và phán quyết, quyết định của Trọng tài thương mại.
Hai là, quyết định THA: là Quyết định do Thủ trưởng cơ quan THADS ban hành. Ban hành theo hai trường hợp là: quyết định THA chủ động và quyết định THA theo đơn yêu cầu.
Ba là, quyết định cưỡng chế THA: là quyết định do CHV cơ quan THA ban hành. Tuy nhiên, trừ trường hợp bản án, quyết định đã tuyên kê biên, phong tỏa tài sản, tài khoản và các trường hợp thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án.
Như vậy, cưỡng chế THADS là việc áp dụng các biện pháp được pháp luật qui định nhằm buộc người phải THA thực hiện những hành vi hoặc nghĩa vụ về tài sản theo đúng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật hoặc chưa có hiệu lực pháp luật nhưng được thi hành ngay (trường hợp áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời) của Tòa án. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Luật THADS, Thủ trưởng cơ quan THA ra quyết định về THA theo thẩm quyền. CHV là công chức, được Nhà nước giao trách nhiệm tổ chức thi hành các bản án, quyết định của Tòa án. Vậy nên, chỉ có CHV mới được quyền ra quyết định để cưỡng chế THADS.
Từ sự phân tích trên, chúng ta có thể thấy rằng: Cưỡng chế thi hành án dân sự là việc chủ thể có thẩm quyền dùng quyền lực nhà nước thực hiện biện pháp cưỡng chế theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự đối với tổ chức, cá nhân nhằm bảo đảm thi hành trên thực tế quyền, nghĩa vụ đã được xác định trong bản án, quyết định được thi hành theo thủ tục thi hành án dân sự.
Để làm rõ lý luận về cưỡng chế THADS không thể không nghiên cứu các đặc điểm của hoạt động này.
2. Đặc điểm của thi hành án dân sự
Trong bối cảnh hiện nay số vụ việc phải đưa ra cưỡng chế THA chiếm tỷ lệ cao, và do nhiều nguyên nhân, trong đó có ý thức chấp hành pháp luật của người phải THA chưa cao. Mặt khác, quyết định cưỡng chế không chỉ có giá trị bắt buộc đối với người phải THA, mà mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đều phải tôn trọng và thực hiện. Với giá trị pháp lý bắt buộc phải thi hành, thì quyết định cưỡng chế THADS là công cụ hữu hiệu để Nhà nước xác lập trật tự kỷ cương trong lĩnh vực THADS.
Việc cưỡng chế THADS phải căn cứ vào quy định của pháp luật, nội dung bản án, quyết định; tính chất, mức độ, nghĩa vụ THA; điều kiện của người phải THA; đề nghị của đương sự. Đây là nguyên tắc đặc biệt quy định cho áp dụng cưỡng chế THADS, vậy nên khi tiến hành xác minh CHV phải thực hiện một công việc khác nữa đó là phải ước tính giá trị tài sản để làm cơ sở cho việc áp dụng biện pháp cưỡng chế THADS.
Chính vì cưỡng chế THADS áp dụng cho trường hợp cụ thể. Do đó có những đặc điểm riêng. Đó là:
2.1 Văn bản cưỡng chế THADS do chấp hành viên ban hành
nhưng hoạt động tổ chức thực hiện không chỉ do cơ quan THA tiến hành mà còn có sự phối hợp của các cơ quan, tổ chức có liên quan khi có việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế. Trong cưỡng chế THADS đòi hỏi phải có sự phối hợp giữa cơ quan THA với các cơ quan hữu quan, phối hợp hiệp đồng giữa các cơ quan, tổ chức trong công tác này. Tuy nhiên, trong cưỡng chế THADS vai trò của CHV là nhiệm vụ trung tâm có tính quyết định.
2.2 Cưỡng chế THADS là hoạt động mang tính quyền lực Nhà nước
thể hiện ở các quyết định cưỡng chế THADS có tính chất bắt buộc thi hành, không phụ thuộc vào ý chí của đương sự. Quyền lực Nhà nước được giao cho các CHV theo qui định của Luật THADS. Cưỡng chế THADS cũng là hoạt động nhằm đảm bảo trực tiếp cho các bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật được thi hành nghiêm minh trên thực tế.
Cưỡng chế THADS có phạm vi rộng, không chỉ là pháp luật nội dung mà cả pháp luật hình thức, trực tiếp là bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Đây cũng chính là đặc điểm của cưỡng chế THADS, bởi xét về bản chất, bản án, quyết định của Tòa án chính là kết quả của Hội đồng xét xử trong việc phán xét một hành vi vi phạm pháp luật, xác định hậu quả pháp lý của nó. Như vậy, cưỡng chế THADS là sự hiện thực hóa các bản án, quyết định đó song lại phụ thuộc vào chất lượng bản án, quyết định của Tòa án. Đặc điểm này cho phép lý giải tình trạng án tồn đọng bởi có những bản án, quyết định không có tính khả thi trên thực tế.
2.3 Cưỡng chế THADS là hoạt động sáng tạo, chủ động, với tính trách nhiệm cao, tính quyết đoán của CHV
Việc CHV lựa chọn các biện pháp cưỡng chế phải phù hợp, có hiệu quả, phải tính các yếu tố từ nội dung bản án, quyết định của Tòa án, yêu cầu THA của các bên đương sự và các điều kiện hoàn cảnh khách quan, nơi ở và thời gian, địa điểm thi hành biện pháp cưỡng chế. CHV phải nghiên cứu kỹ lưỡng vụ việc, làm sáng tỏ bản chất pháp lý. Đặc điểm này đòi hỏi CHV phải có trình độ năng lực chuyên môn vững vàng, kỹ năng thực tiễn tổ chức cưỡng chế THA, linh hoạt xử lý các tình huống mới phát sinh.
- Cưỡng chế THADS là hoạt động mang tính chủ động bởi nó được tiến hành trong cơ chế phối hợp. CHV là trực tiếp nên luôn có vai trò chủ đạo, nhất là trong khâu xác minh khả năng THA, phân tích, đánh giá mức độ chống đối của người phải THA và người thân của họ.
- Cưỡng chế THA mang tính trách nhiệm cao bởi các biện pháp cưỡng chế là sự thể hiện và thực hiện quyền lực Nhà nước, CHV phải chịu hoàn toàn trách nhiệm do hậu quả của việc thi hành các biện pháp cưỡng chế. Quá trình cưỡng chế THADS phải tính toán kỹ lưỡng, thận trọng mọi khía cạnh, mọi tình tiết, lựa chọn biện pháp cưỡng chế phù hợp để ra quyết định cưỡng chế và tổ chức thực hiện quyết định đó có hiệu quả. Trong quá trình cưỡng chế có nhiều tình huống bất ngờ có thể xảy ra, đòi hỏi CHV phải linh hoạt, thận trọng, quyết đoán… để tránh mắc phải những sai lầm khi áp dụng pháp luật, gây thiệt hại nghiêm trọng về vật chất cũng như quyền con người của công dân.
2.4 Cưỡng chế THADS phải tuân thủ đúng quy trình, thủ tục nghiêm ngặt do pháp luật quy định
Việc vi phạm quy trình, thủ tục này không chỉ vi phạm pháp luật mà còn làm cho quyết định áp dụng biện pháp cưỡng chế có thể bị vô hiệu hoặc việc thực hiện có thể gây phản tác dụng, thậm chí gây những thiệt hại đáng tiếc.
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty Luật Minh Khuê