1.Khái niệm dân sự quốc tế là gì ?
Trong sách báo về tư pháp quốc tế, các nhà lý luận ít khi đưa ra định nghĩa về tố tụng dân sự quốc tế1 hoặc cố gắng đưa ra một định nghĩa nhưng chưa thật hoàn chỉnh. Ví dụ, có quan điểm cho rằng “tố tụng dân sự quốc tế là tổng hợp những vấn đề có tính chất tố tụng, liên quan đến việc bảo hộ quyền lợi của người nước ngoài tại các cơ quan toà án hay trọng tài...Quan điểm này không làm rõ tính chất tố tụng là như thế nào, không đặt vấn đề bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của tất cả các chủ thể tham gia quan hệ dân sự có yếu tố nưốc ngoài mà đề cập việc bảo vệ các quyền và lợi ích của người nước ngoài, đồng thời còn lẫn lộn giữa tố tụng dân sự vối tố tụng trọng tài.
Nhìn chung, tô tụng dân sự thông thường được hiểu là những hoạt động của toà án trong việc giải quyết các vụ việc, án kiện dân sự và bảo đảm thi hành các bản án, các quyết định dân sự của toà án theo một trình tự, thủ tục do pháp luật quy định.
Với cách hiểu trên, tô' tụng dân sự quốc tế là hoạt động của toà án trong việc giải quyết các vụ việc, án kiện dân sự phát sinh từ các môì quan hệ dân sự theo nghĩa rộng có yếu tô' nước ngoài và bảo đảm thi hành các bản án, các quyết định dân sự về các án kiện, vụ việc dân sự đó theo một trình tự, thủ tục do pháp luật quy định. Định nghĩa này giúp chúng ta khắc phục được tất cả những nhược điểm như trên.
Điều đặc biệt cần lưu ý ở đây là, thuật ngữ "tố tụng dân sự quốc tế" là thuật ngữ được dùng hoàn toàn có tính chất quy ước, bồi vì chính các toà án của từng nước chứ không phải toà án quốc tê' giải quyết các vụ việc, án kiện dân sự có yếu tô' nưởc ngoài; trình tự, thủ tục xét xử cũng như việc bảo đảm thi hành các bản án, các quyết định dân sự về các án kiện, vụ việc dân sự có yếu tô' nước ngoài, do pháp luật của từng nưốc quy định. Tuy nhiên, do các vụ việc, án kiện dân sự .có yếu tô' nước ngoài, tức là các vụ việc, án kiện dân sự liên quan đến ít nhất hai nước, một sô' vấn đề của tô' tụng dân sự quô'c tế, ở mức độ nào đó, có thể được thoả thuận quy định trong các điều ước quốc tế. Ví dụ như các vấn đề về qưy chê' pháp lý của cá nhân, pháp nhân nước ngoài, của Nhà nước nước ngoài trong lĩnh vực tô' tụng dân sự, việc phân định thẩm quyền giữa các nước trong việc giải quyết các vụ việc, án kiện dân sự có yếu tô' nước ngoài; uỷ thác tư pháp, công nhận và thi hành bản án, quyết định dân sự của Toà án nước ngoài.
2. Những nguyên tắc cơ bản của tô tụng dân sự quốc tế
Một vấn đề không ai có thể phủ nhận được là, mỗi hệ thôhg pháp luật, mỗi ngành pháp luật trong từng hệ thống đều có những nguyên tắc đặc thù của mình. Mỗi chế định trong từng ngành pháp luật cũng phải có những nguyên tắc đặc thù của nó. Chính tính chất và đặc điểm của các nhóm, các loại quan hệ xã hội do hệ thông, ngành hay chế định pháp luật điều chỉnh đòi hỏi phải như vậy.
Với tư cách là một bộ phận của tư pháp quốc tế, tô' tụng dân sự quốc tế phải tuân theo các nguyên tắc cơ bản của tư pháp quốc tế, đồng thời cũng có những nguyên tắc cơ bản, đặc thù của mình.
Trong việc xác định hệ thốhg những nguyên tắc cơ bản, đặc thù của tô' tụng dân sự quốc tê' hiện nay còn có những quan điểm rất khác nhau. Thậm chí nhiều học giả còn không đặt vấn đề nghiên cứu, tìm hiểu hệ thôhg nguyên tắc này’. Song, từ góc độ lý luận, thực tiễn xây dựng các điều ước quô'c tê' cũng như thực tiễn xây dựng và thi hành pháp luật của các nước trong lĩnh vực này, phải khẳng định rằng các nguyên tắc cơ bản, đặc thù của tô' tụng dân sự quốc tế bao gồm
- Tôn trọng chủ quyền, an ninh quốc gia của nhau;
- Tôn trọng quyền miễn trừ tư pháp của Nhà nước nước ngoài và của những người được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao, lãnh sự;
- Bảo đảm quyền bình đẳng của các bên đương sự tham gia tranh chấp trong việc bảo vệ lợi ích của họ;
- Bình đang và cùng có lợi;
- Toà án chỉ áp dụng pháp luật tố tụng dân sự của nước mình (lex fori).
Những nguyên tắc cơ bản nêu trên của tố tụng dân sự quốc tế luôn luôn gắn bó chặt chẽ, bổ sung cho nhau, tạo cơ sở pháp lý vững chắc để bảo vệ lợi ích quốc gia, lợi ích chính đáng của các bên tham gia tranh chấp, góp phần thúc đẩy phát triển giao lưu dân sự quốc tế. Những nguyên tắc đó hoàn toàn phù hợp với nội dung và tinh thần của các nguyên tắc cơ bản của công pháp cũng như tư pháp quốc tế.
Nội dung các nguyên tắc cơ bản của tố tụng dân sự quốc tế được ghi nhận trong rất nhiều công ưởc quốc tế đa phương và song phương. Ví dụ, trong các công ước quốc tế sau đây: Công ước La Hay năm 1954 về các vấn đề tố tụng dân sự; Công ước 1965 về tông đạt giấy tờ vể các vụ việc dân sự và thương mại; Công ước La Hay năm 1958 về công nhận và thi hành quyết định của toà án v.ề cấp dưỡng cho trẻ em; Công ước nhất thể hoá các quy định về quyền tài phán dân sự đốỉ với các vụ đâm va tầu thuyền trên biển năm 1952, các hiệp định tương trợ tư pháp giữa các nước (tính đến tháng 1- 2001,Việt Nam đã ký hiệp định tương trợ tư pháp với 14 nước),v.v...
Pháp luật của từng nưốc, dưối những hình thức và ở những mức độ khác nhau đều khẳng định nội dung các nguyên tắc cơ bản của tố tụng dân sự quốc tế. Điều 48 luật về tư pháp quốc tế năm 1963 của Tiệp Khắc (cũ) quy định rằng: "tất cả các bên tham gia tranh chấp đều bình đẳng với nhau trong việc bảo vệ lợi ích của mình". Điều 62 bản nguyên tắc trình tự tố tụng dân sự năm 1961 của Liên Xô (cũ) quy định rằng Toà án Liên Xô chấp hành uỷ thác của Toà án nưởc ngoài nếu việc đó không trái với chủ quyền hoặc không đe doạ an ninh quốc gia của Liên Xô. Ở Việt Nam, nội dung các nguyên tắc cơ bản của tố tụng dân sự quốc tế được khẳng định rõ ràng trong Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989, Pháp lệnh Công nhận và thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Toà án nước ngoài...
3. Nội dung và đặc điểm của tố tụng dân sự quốc tế
– Nội dung tố tụng dân sự quốc tế bao gồm các vấn đề về giải quyết xung đột thẩm quyền và xác định thẩm quyền xét xử của Tòa án; vấn đề ủy thác tư pháp quốc tế; trình tự thủ tục giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài tại Tòa án; vấn đề công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài,…
– Đặc điểm của tố tụng dân sự quốc tế bao gồm các đặc điểm về: thủ tục đặc biệt (đây là các vụ việc liên quan đến hệ thống pháp luật và hệ thống tài phán của các quốc gia khác nhau (xung đột pháp luật và xung đột thẩm quyền); giải quyết theo pháp luật về trình tự thủ tục của mỗi quốc gia tại hệ thống Cơ quan tư pháp của quốc gia đó; quyết định, bản án của tòa án có tính bắt buộc thi hành đối với các bên và được đảm bảo bởi sức mạnh cưỡng chế của nhà nước theo quốc gia xét xử.
4. Nguồn của tố tụng dân sự quốc tế
Quy định về tố tụng dân sự quốc tế được xây dựng dưới hai hình thức chủ yếu là nguồn pháp luật trong nước và nguồn La Haye về tư pháp quốc tế. Hiện nay, có rất nhiều điều ước quốc tế về lĩnh vực tố tụng đã được Hội nghị La Haye xây dựng và thống nhất hóa. Có gần 2/3 trong số gần 40 công ước được xây dựng là các công ước về tố tụng. Trong đó có các công ước tiêu biểu như Công ước về thủ tục tố tụng dân sự ngày 01/3/1954; Công ước về bãi bỏ yêu cầu hợp pháp hóa tài liệu công nước ngoài ngày 05/10/1961 ; Công ước về tống đạt giấy tờ tư pháp và ngoài tư pháp trong lĩnh vực dân sự và thương mại ra nước ngoài ngày 15/11/1965; Công ước về lựa chọn tòa án ngày 25/11/1965; Công ước về tiếp cận quốc tế công lý ngày 25/10/1980; Công ước về thu thập chứng cứ ở nước ngoài trong vấn đề dân sự và thương mại ngày 18/3/1970; Công ước về công nhận và thi hành bản án dân sự và thương mại của nước ngoài ngày 01/02/1971; Nghị định thư bổ sung cho Công ước về công nhận và thi hành bản án dân sự và thương mại của nước ngoài ngày 01/02/1971… và các công ước về công nhận và thi hành các quyết định liên quan đến nghĩa vụ cấp dưỡng cho trẻ em, về con nuôi, công nhận li hôn và li thân…
5.Vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài
Ngày nay, với sự phát triển đa dạng và phong phú của các quan hệ dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động,… cùng với đó là quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng dẫn đến các tranh chấp, yêu cầu có yếu tố nước ngoài phát sinh nhanh chóng, khiến cho tòa án phải thụ lí giải quyết ngày càng nhiều các tranh chấp, yêu cầu mà đương sự là người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài, có tài sản ở nước ngoài, căn cứ làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quan hệ dân sự có tranh chấp xảy ra ở nước ngoài,… Các tranh chấp, yêu cầu này được gọi chung là vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài.
Theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự 2015, định nghĩa cụ thể như sau: Vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài được hiểu là vụ việc dân sự có ít nhất một trong các đương sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức nước ngoài, các bên tham gia đều là công dân, cơ quan, tổ chức Việt Nam nhưng việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ đó xảy ra tại nước ngoài; các bên tham gia đều là công dân, cơ quan, tổ chức Việt Nam nhưng đối tượng của quan hệ dân sự đó ở nước ngoài.
Có thể hiểu đơn giản như sau: vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài như sau:
– Vụ việc dân sự là các vụ án dân sự và các việc dân sự.
Trong đó ta hiểu vụ án dân sự là: về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động,…còn việc dân sự là: các yêu cầu để Tòa án giải quyết các việc về yêu cầu dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động,…
– Đối với yếu tố nước ngoài trong vụ việc dân sự được quy định cụ thể tại khoản 2 Điều 464 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Theo đó, Vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài là vụ việc dân sự thuộc một trong các trường hợp cụ thể sau đây:
+ Trường hợp thứ nhất: Có ít nhất một trong các bên tham gia là cá nhân, cơ quan, tổ chức nước ngoài.
+ Trường hợp thứ hai: Các bên tham gia đều là công dân, cơ quan, tổ chức Việt Nam nhưng việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ đó xảy ra tại nước ngoài.
+ Trường hợp thư ba: Các bên tham gia đều là công dân, cơ quan, tổ chức Việt Nam nhưng đối tượng của quan hệ dân sự đó ở nước ngoài.
Luật Minh Khuê( sưu tầm và biên tập)