1. Cấp văn bản tố tụng dân sự

Hiểu theo nghĩa đơn giản và phổ thông nhất thì “cấp” là một hoạt động nhằm cung cấp cho ai đó vật, giấy tờ, tài liệu xác định để họ sử dụng tùy theo mục đích khác nhau. Đối với thuật ngữ này, Từ điển Tiếng Việt cũng đưa ra cách hiểu khái quát về khái niệm “cấp” là việc giao cho hưởng, giao cho toàn quyền sử dụng. Tuy nhiên, khi mang tính chất là một thuật ngữ pháp lý thì việc cấp văn bản tố tụng dân sự phải được hiểu với ý nghĩa cụ thể hơn gắn với yêu cầu của từng hoạt động tố tụng cụ thể.
Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam của Trường Đại học Luật Hà Nội định nghĩa: “Hoạt động tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng giao cho cá nhân, cơ quan, tổ chức liên quan đến vụ việc dân sự văn bản tố tụng để họ sử dụng được gọi là cấp văn bản tố tụng”(trang 201). Ví dụ: sau thời hạn luật định, đương sự được Tòa án cấp cho Quyết định giải quyết việc dân sự về việc công nhận thuận tình ly hôn và thỏa thuận giữa các đương sự. Quyết định này có hiệu lực ngay và được cấp cho đương sự để họ sử dụng làm căn cứ cho việc chấm dứt quan hệ hôn nhân. Cơ quan tiến hành tố tụng ở đây hay còn gọi là chủ thể thực hiện việc cấp VBTTDS bao gồm Tòa án và cơ quan thi hành án dân sự. Viện kiểm sát không thực hiện việc cấp VBTTDS do chức năng của VKS là kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, thực hiện các quyền yêu cầu kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật nhằm đảm bảo việc giải quyết vụ việc dân sự kịp thời, đúng pháp luật. Do đó, định nghĩa theo giáo trình như trên còn chung chung, chưa chỉ rõ được cơ quan tiến hành tố tụng bao gồm những cơ quan nào và chưa thực sự chính xác khi thực tế hiện nay ngoài Tòa án và Cơ quan thi hành án dân sự thì Văn phòng thừa phát lại cũng là một chủ thể được nhà nước trao quyền thực hiện việc cấp VBTTDS.
Theo quan điểm của tác giả, hoạt động cấp VBTTDS có thể được hiểu như sau: “Cấp VBTTDS là hoạt động của cơ quan có thẩm quyền (gồm Toà án, cơ quan Thi hành án, Thừa phát lại) tiến hành giao VBTT cho các đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan đến việc giải quyết vụ việc dân sự và thi hành án để họ sử dụng phù hợp với quy định của pháp luật”.

2. Thông báo văn bản tố tụng dân sự

Theo từ điển Tiếng Việt, “thông báo” được hiểu là báo cho mọi người biết tình hình, tin tức bằng lời nói hoặc văn bản [46]. Như vậy, dựa theo cách hiểu như trên thì việc cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện hoạt động báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan đến vụ việc dân sự biết về những hoạt động tố tụng liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ được gọi là thông báo văn bản tố tụng dân sự. Việc thông báo được thể hiện dưới hình thức văn bản. Mục đích của hoạt động này nhằm truyền tải các thông tin về hoạt động giải quyết vụ việc dân sự và thi hành án để đương sự biết thông tin để từ đó có cách xử sự phù hợp. Không giống như hoạt động tống đạt, việc thông báo VBTTDS chỉ nhằm giúp đương sự nhận biết rằng VBTTDS đã được ban hành công khai với nội dung nhất định hay một hoạt động tố tụng nào đó sắp được tiến hành để các chủ thể biết và tham gia, không phụ thuộc vào ý chí của các chủ thể được thông báo. Trong đó chủ thể thực hiện thông báo là các cơ quan tiến hành tố tụng bao gồm Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan THADS và tổ chức Thừa phát lại. Đối tượng thông báo là các văn bản tố tụng phát sinh trong quá trình giải quyết vụ án dân sự và thi hành án dân sự.
Ví dụ: Đối với Thông báo thụ lý vụ án được quy định tại Điều 196 BLTTDS năm 2015 thì “Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày thụ lý vụ án, Thẩm phán phải thông báo bằng văn bản cho nguyên đơn, cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc giải quyết vụ án, cho VKS cùng cấp về việc Toà án đã thụ lý vụ án”. Có thể thấy điều luật này đã quy định rõ thẩm phán là người có nghĩa vụ thực hiện việc thông báo cho các đương sự, người có quyền và lợi ích liên quan và VKS cùng cấp. Hoạt động thông báo này là bước quan trọng trong thủ tục tố tụng để giúp các đương sự biết thông tin về vụ việc đã được Tòa án thụ lý giải quyết. Mặt khác đây cũng là căn cứ để đương sự cũng như VKS nắm bắt được thông tin vụ việc để từ đó có căn cứ thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình.
Từ những phân tích trên, ta có thể định nghĩa về thông báo VBTTDS như sau: “Thông báo VBTTDS là việc các cơ quan có thẩm quyền bao gồm Toà án, VKS, cơ quan THADS và tổ chức Thừa phát lại chuyển đến cho đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền và lợi ích liên quan các thông tin về hoạt động tố tụng trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự có liên quan tới quyền và nghĩa vụ của họ để họ biết và thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình theo đúng quy định của pháp luật”.

3. Tống đạt văn bản tố tụng dân sự

Về mặt pháp lý, Từ điển Luật học có đưa ra khái niệm tống đạt là “việc chuyển các giấy tờ đến tận tay người nhận” [45]. Với tư cách là một thuật ngữ pháp lý thì tống đạt là việc chuyển đến đương sự giấy tờ cần thiết của cơ quan tư pháp. Theo pháp luật tố tụng dân sự, Tòa án, Viện kiểm sát, cơ quan Thi hành án có nghĩa vụ tống đạt hoặc thông báo văn bản tố tụng cho đương sự, những người tham gia tố tụng khác và cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan đến vụ việc dân sự theo quy định của pháp luật tố tụng. Việc chuyển giao tài liệu, giấy tờ do cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện là hoạt động giao nhận một cách chính thức và mang tính chất bắt buộc đối với người nhận, người nhận văn bản bắt buộc phải có trách nhiệm tuân theo, không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của người nhận văn bản tống đạt.
Ví dụ: ông H là đương sự trong một vụ án dân sự, Tòa án huyện K tống đạt cho ông H giấy triệu tập tham gia phiên tòa xét xử vào ngày 20/05/2018. Ông H có nghĩa vụ phải tham gia phiên tòa vào đúng thời gian nên trên.
Tại Khoản 3 Điều 2 Nghị định 135/2013/NĐ-CP ngày 18/10/2013 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung tên gọi và một số điều của Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24/07/2009 của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại thực hiện thí điểm tại thành phố Hồ Chí Minh thì: “Tống đạt là việc thông báo, giao nhận các văn bản của Tòa án và cơ quan thi hành án dân sự do Thừa phát lại thực hiện theo quy định của pháp luật”. Với quy  định này, bản chất của hoạt động tống đạt văn bản là việc “thông báo” và “giao nhận” các văn bản tố tụng, điều này cũng gần giống với hoạt động thông báo hay cấp VBTT.
Thông thường cơ quan nào ban hành ra VBTTDS thì phải có nghĩa vụ thực hiện việc tống đạt VBTT đó. Khác với hoạt động cấp hay thông báo VBTTDS, tống đạt mang tính chất bắt buộc, thậm chí là áp đặt đối với đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan đến vụ việc dân sự. Ở đây, người nhận văn bản phải có trách nhiệm bắt buộc tuân theo, không phụ thuộc vào ý chỉ chủ quan của họ, buộc họ phải thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình. Trường hợp họ không thực hiện đúng như nội dung văn bản yêu cầu thì vô hình chung họ đã tự mình từ bỏ quyền và nghĩa vụ. Đây là cơ sở để các cơ quan có thẩm quyền xác định và tiến hành các hoạt động tố tụng tiếp theo theo trình tự luật định.
Như vậy, có thể đưa ra định nghĩa về tống đạt VBTTDS như sau: “Tống đạt VBTTDS là hoạt động của cơ quan có thẩm quyền bao gồm Toà án, cơ quan THADS và Thừa phát lại giao cho đương sự, cá nhân, cơ quan,  tổ chức có liên quan đến vụ việc dân sự VBTT, buộc họ phải nhận và thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật”.
Có thể nói cấp, tống đạt, thông báo VBTTDS đều là hoạt động tố tụng quan trọng của các cơ quan có thẩm quyền nhằm chuyển giao văn bản tố tụng do các cơ quan này ban hành cho các chủ thể có liên quan để họ biết được nội dung các hoạt động tố tụng trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự để từ đó giúp họ biết và sử dụng quyền, nghĩa vụ của mình một cách hợp pháp.

4. Đặc trưng cơ bản của cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng dân sự ở Việt Nam

Cấp, tống đạt, thông báo VBTTDS ở Việt Nam có những đặc trưng sau đây:

4.1 cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng dân sự là nghĩa vụ của cơ quan ban hành văn bản TTDS 

Theo quy định của BLTTDS thì chủ thể của quan hệ pháp luật tố tụng dân sự bao gồm Toà án, Viện kiểm sát, cơ quan Thi hành án, đương sự, người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch và người liên quan. Trong quá trình tiến hành tố tụng, tuỳ vào chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình mà các cơ quan như Toà án, Viện kiểm sát, cơ quan thi hành án đã ban hành ra nhiều văn bản với mục đích và nhiệm vụ khác nhau. Trong đó có một số văn bản tố tụng dân sự được cấp, tống đạt, thông báo cho đương sự, những người tham gia tố tụng khác, cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan đến vụ việc dân sự và THADS. Việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng dân sự  do Toà án, Viện kiểm sát, cơ  quan thi hành án dân sự thực hiện, đây cũng được xem là nghĩa vụ của các cơ quan này. Việc quy định nghĩa vụ cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng dân sự cho các cơ quan tiến hành tố tụng góp phần đảm bảo việc giải quyết các vụ việc dân sự một cách đúng đắn, đảm bảo thời gian và tuân theo trình tự luật định. Qua đó cũng thể hiện vai trò chủ đạo của các cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự. Điều này cũng giúp đảm bảo các quyền cho đương sự, những người tham gia tố tụng khác, các cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan.

4.2 Văn bản được cấp, tống đạt, thông báo là văn bản tố tụng của Toà án, VKS và CQ THA  ban hành 

Để đảm bảo việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, các cơ quan tiến hành tố tụng đã sử dụng công cụ là văn bản tố tụng dân sự như bản án, quyết định của Toà án, giấy mời, giấy báo...theo quy định của pháp luật về hình thức cũng như nội dung thể hiện văn bản. Đây là các văn bản thể hiện nội dung làm việc trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự. Theo quy định tại Điều 171 BLTTDS năm 2015 thì nhìn chung các văn bản được cấp, tống đạt, thông báo chủ yếu là do Toà án, VKS và cơ quan Thi hành án ban hành. Cụ thể, các văn bản tố tụng phải được cấp, tống đạt, thông báo gồm có: thông báo, giấy báo, giấy triệu tập, giấy mời trong tố tụng dân sự; bản án, quyết định của Toà án; quyết định kháng nghị của VKS; các văn bản của cơ quan thi hành án dân sự và các văn bản khác mà pháp luật có quy định.
Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, mỗi cơ quan tiến hành tố tụng có vai trò, chức năng, nhiệm vụ khác nhau. Chức năng của Viện kiểm sát là kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình tố tụng, do đó các loại văn bản do cơ quan này ban hành thông thường ít được cấp, tống đạt, thông báo. Cụ thể, loại VBTT mà VKS phải tiến hành cấp, tống đạt, thông báo đó là Quyết định kháng nghị (khoản 3 Điều 171). Trong khi đó cơ quan Thi hành  án dân sự thực hiện việc thi hành các bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật. Công việc này có liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan nên việc ban hành và thực hiện hoạt động cấp, tống đạt, thông báo văn bản cho họ là rất cần thiết. Còn đối với Toà án, đây là cơ quan đóng vai trò là cầu nối trung gian, cơ quan tiến hành tố tụng và đưa ra quyết định cuối cùng trong quá trình giải quyết vụ việc. Để thực hiện tốt chức năng xét xử của mình, Toà án cần tìm hiểu và tiếp cận sự việc một cách xuyên suốt theo trình tự luật định, điều này cũng chiếm phần lớn thời gian trong quá trình tố tụng. Do đó ta có thể thấy hầu hết các văn bản tố tụng dân sự được cấp, tống đạt, thông báo là do Toà án và cơ quan Thi hành án ban hành và thực hiện.

4.3 Cấp, tống đạt, thông báo văn bản TTDS là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước

 Để thực hiện hoạt động cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng dân sự, các cơ quan tiến hành tố tụng phải thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định. Ngoài ra, hình thức và nội dung mà văn bản tố tụng đó thể hiện cũng phải tuân thủ theo luật định. Để thực  hiện việc cấp, tống đạt, thông báo VBTTDS thì ngoài cơ quan tiến hành tố tụng như Toà án, VKS, cơ quan THA thì Thừa phát lại cũng là một tổ chức được nhà nước trao quyền thực hiện việc tống đạt VBTTDS nhằm góp phần làm giảm bớt gánh nặng cho các cơ quan nhà nước, nâng cao hiệu quả xét xử, tiến độ thi hành án và các quyền tố tụng của công dân. Hay nói cách khác, hoạt động tống đạt của Thừa phát lại được thực hiện theo sự uỷ quyền (thông qua hình thức hợp đồng) của cơ quan nhà nước theo trình tự, thủ tục chặt chẽ do pháp luật quy định. Do đó hoạt động của tổ chức Thừa phát lại cũng mang tính quyền lực nhà nước.
Cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng dân sự được quy định cụ thể tại chương X (từ Điều 170 đến Điều 181) của BLTTDS năm 2015. VBTTDS được ban hành bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được bảo đảm thực hiện bởi quyền lực nhà nước. Nếu người có quyền hoặc nghĩa vụ thực hiện việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng mà không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, cố tình làm sai quy định của pháp luật thì phải chịu những chế tài nhất định tuỳ theo tính chất và mức độ nghiêm trọng của hành vi. Người có nghĩa vụ thi hành các VBTTDS đã được cấp, tống đạt, thông báo thì phải nghiêm chỉnh thực hiện, nếu không thi hành hoặc thi hành không đúng thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty Luật Minh Khuê