Mục lục bài viết
- 1. Ý nghĩa của cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng dân sự
- 1.1 Có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm quyền và lợi ích của các đương sự
- 2. Để cơ quan có thẩm quyền tiến hành hoạt động tố tụng có trình tự, khoa học và thông suốt
- 3. Giúp các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn của mình một cách đúng đắn, kịp thời
- 4. Chủ thể, đối tượng và phương thức cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng dân sự
- 4.1 Chủ thể cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng dân sự
- 4.2 Đối tượng và phương thức cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng dân sự
1. Ý nghĩa của cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng dân sự
1.1 Có ý nghĩa quan trọng trong bảo đảm quyền và lợi ích của các đương sự
Đương sự chỉ có thể thực hiện được các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình khi họ có đầy đủ thông tin về quá trình tố tụng, được cấp, tống đạt, thông báo đầy đủ, kịp thời các văn bản tố tụng. Ví dụ, đương sự sẽ không thể thực hiện được quyền tranh tụng, quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước tòa án nếu không được tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập tham gia phiên tòa, phiên họp v.v…
Hoạt động cấp, tống đạt, thông báo VBTTDS là cầu nối gắn kết giữa cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan thi hành án với người tham gia tố tụng. Nhờ có hoạt động này mà các thông tin liên quan đến vụ việc dân sự được cơ quan tiến hành tố tụng thông báo tới các đương sự, giúp họ nắm bắt được thông tin cũng như theo dõi được quá trình diễn biến vụ việc, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Như vậy, mặc dù không trực tiếp tác động đến kết quả giải quyết nội dung vụ án, nhưng cấp, tống đạt, thông báo chính là phương tiện góp phần đảm bảo công lý về thủ tục trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự. Cấp, tống đạt, thông báo VBTTDS đảm bảo việc cung cấp những thông tin quan trọng, cần thiết trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự cho đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự. Thông qua hoạt động cấp, tống đạt, thông báo VBTT của Tòa án, VKS, cơ quan THA, tổ chức Thừa phát lại mà cá nhân, cơ quan, tổ chức liên quan đến vụ việc dân sự có thể biết được quyền và nghĩa vụ của mình để từ đó có những hành vi xử sự phù hợp, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Bên cạnh đó, thông qua hoạt động cấp, tống đạt và thông báo VBTTDS công dân được thực hiện quyền dân chủ, quyền giám sát đối với cơ quan nhà nước. Điều này được thể hiện qua việc pháp luật quy định cho đương sự quyền kháng cáo đối với bản án, quyết định của Tòa án và quyền khiếu nại, tố cáo khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.
2. Để cơ quan có thẩm quyền tiến hành hoạt động tố tụng có trình tự, khoa học và thông suốt
Ví dụ: Trước khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán phải tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải giữa các đương sự (trừ trường hợp vụ án dân sự không được hoà giải hoặc không tiến hành hoà giải được). Để tiến hành được phiên họp thì phải có người tham gia phiên họp. Muốn có người tham gia phiên họp thì Toà án phải thông báo cho các bên liên quan để họ được biết và tham gia phiên họp theo đúng thời gian, địa điểm mà Toà án đã ấn định. Như vậy, nếu Toà án không thực hiện hoạt động thông báo về phiên họp cho các đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự cũng như các cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan đến vụ việc dân sự đang được Toà án thụ lý giải quyết thì họ không thể biết được thông tin về phiên họp để tham gia. Điều này sẽ làm gián đoạn, gây khó khăn, cản trở trong việc thực hiện các hoạt động tố tụng tiếp theo của Toà án.
3. Giúp các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn của mình một cách đúng đắn, kịp thời
Để giải quyết một vụ việc dân sự cần trải qua các giai đoạn cũng như trình tự thủ tục nhất định do pháp luật quy định. Mỗi cơ quan tiến hành tố tụng có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn khác nhau do đó hoạt động thông báo, cấp, tống đạt VBTTDS sẽ đảm bảo việc thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn giải quyết vụ việc dân sự của mỗi cơ quan. Việc cấp, tống đạt, thông báo VBTT giúp cho quá trình giải quyết vụ việc dân sự được diễn ra một cách công khai, minh bạch, dân chủ. Ngoài việc công dân có thể thực hiện quyền dân chủ, quyền giám sát đối với cơ quan nhà nước thì hoạt động tố tụng này cũng giúp VKS thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan tư pháp trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự. Đối với cơ quan THADS, việc thông báo cũng giúp cho quá trình thực hiện việc thi hành các bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật được diễn ra nhanh chóng, đúng pháp luật. Việc thực hiện tốt các hoạt động cấp, tống đạt và thông báo VBTTDS cũng góp phần không nhỏ vào việc giúp cho các vụ việc dân sự được diễn ra công khai, minh bạch và dân chủ, phù hợp với chủ trương để “dân biết, dân, làm, dân kiểm tra” của Đảng và Nhà nước.
4. Chủ thể, đối tượng và phương thức cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng dân sự
Pháp luật TTDS các quốc gia trên thế giới khi quy định về chủ thể, đối tượng và phương thức tống đạt VBTTDS có những điểm khác biệt nhất định tuỳ thuộc vào mô hình tố tụng cũng như hệ thống pháp luật từng quốc gia. Do đó, nội dung chính trong phần này sẽ tập trung tìm hiểu, so sánh pháp luật một số quốc gia đại diện cho các mô hình tố tụng tranh tụng và mô hình tố tụng thẩm vấn để từ đó rút ra những giá trị tham khảo cho Việt Nam.
4.1 Chủ thể cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng dân sự
Nhìn chung, chủ thể tống đạt VBTTDS ở các quốc gia hiện nay có sự kết hợp giữa cơ quan tiến hành tố tụng, tổ chức thừa phát lại và tư nhân.
4.2 Đối tượng và phương thức cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng dân sự
Ở các nước châu Âu lục địa với mô hình tố tụng thẩm vấn, vai trò của cơ quan công quyền trong hoạt động tố tụng được đề cao, do đó, việc tống đạt các VBTT chủ yếu do cơ quan nhà nước có thẩm quyền (thường là Toà án) kết hợp với Thừa phát lại thực hiện. Chẳng hạn, Pháp là một quốc gia tiêu biểu của mô hình tố tụng thẩm vấn với vai trò chủ động của thẩm phán trong tố tụng dân sự. Một vụ việc dân sự được bắt đầu bằng việc nguyên đơn tống đạt trực tiếp giấy mời ra tòa (assignation) cho bị đơn thông qua một chức danh gọi là “huissier” - thừa phát lại (Điều 55, 750 BLTTDS Pháp). Thừa phát lại có độc quyền thực hiện tống đạt chính thức, là những người có chức năng tống đạt và phải tuân theo quy định của pháp luật. Việc tống đạt giấy mời ra tòa phải được thực hiện tại trụ sở của bị đơn (nếu bị đơn là tổ chức) hoặc nơi cư trú của bị đơn (nếu bị đơn là cá nhân). Giấy mời ra tòa đưa ra yêu cầu của nguyên đơn và các căn cứ thực tế cũng như căn cứ pháp lý của yêu cầu đó, kèm theo là danh mục các tài liệu, chứng cứ ban đầu của nguyên đơn (Điều 56). Sau khi tống đạt giấy mời ra tòa cho bị đơn, nguyên đơn phải nộp đơn khởi kiện đến Tòa án. Tòa án thụ lý vụ án khi nguyên đơn nộp bản sao đơn khởi kiện mà nguyên đơn đã tống đạt cho bị đơn (Điều 53-54). Việc tống đạt cũng có thể được thực hiện theo sự sắp đặt của Văn phòng toà án (trong một số trường hợp nhất định để triệu tập một phiên họp hoặc tống đạt các bản án).
Ở một số quốc gia khác như Đức có hai hình thức tống đạt, đó là tống đạt chính thức và tống đạt do các bên thực hiện. Tống đạt chính thức là việc tống đạt được thực hiện bởi Chánh văn phòng tòa án nơi vụ kiện đang được giải quyết (Điều 168 (1) của Bộ luật tố tụng dân sự của Đức). Chánh văn phòng tòa án có quyền lựa chọn phương thức tống đạt theo cách mà người đó cho là tốt nhất như: tống đạt thông qua luật sư hoặc người đại diện hợp pháp của đương sự, tống đạt trực tiếp hoặc thông qua dịch vụ bưu chính, hoặc chỉ định một cán bộ tòa án thực hiện việc tống đạt. Trong một số trường hợp được quy định hợp pháp, thẩm phán có trách nhiệm sắp xếp việc tống đạt, ví dụ trong trường hợp tống đạt ra nước ngoài (Điều 183 và Điều 184) hoặc tống đạt theo hình thức công bố công khai (Điều 186 và Điều 187).
Việc tống đạt VBTTDS do các bên thực hiện về nguyên tắc sẽ thông qua chức danh Thừa phát lại. Thừa phát lại tống đạt theo chỉ dẫn trực tiếp của các đương sự hoặc thông qua thỏa thuận với Văn phòng tòa án (Điều 192). Thừa phát lại có thể giao phó việc tống đạt tài liệu cho dịch vụ bưu chính (Điều 194).
Ở các nước thuộc truyền thống common law với mô hình tố tụng tranh tụng, vai trò tống đạt của tư nhân được đề cao hơn so với vai trò của cơ quan nhà nước.
Theo pháp luật Mỹ, sau khi nộp đơn khởi kiện tại tòa án, nguyên đơn có nghĩa vụ tống đạt các văn bản khởi kiện cho bị đơn, tức là giao cho bị đơn bản sao đơn khởi kiện và một thông báo (summons) của tòa án yêu cầu bị đơn phải đến để trả lời về một khiếu kiện trước Toà án nhằm bảo vệ quyền lợi của mình. Đây là thông báo có tính chất ràng buộc về mặt pháp lý từ phía Tòa án. Và trong trường hợp không có câu trả lời, thông báo này sẽ cho phép nguyên đơn có được phán quyết trên cơ sở những lời cáo buộc có trong đơn kiện (Quy tắc số 55). Các biện pháp theo đó lệnh tống đạt có hiệu lực là tương đối phức tạp, song nhìn chung chúng được xây dựng nhằm đem lại sự bảo đảm hợp lý rằng người được triệu tập sẽ thực tế nhận được thông báo về vụ việc. Việc nhận được thông báo và đơn khởi kiện sẽ bắt đầu vào thời điểm mà bị đơn phải trả lời khiếu kiện (quy định 12(a)).
Sau khi nhận được các văn bản từ nguyên đơn, bị đơn phải phúc đáp bằng việc nộp một bản trả lời, trong đó phúc đáp lại từng đoạn văn trong đơn khởi kiện (có thể là thừa nhận những tình tiết có thật, bác bỏ những tình tiết mà bị đơn cho là không có thật, hoặc nêu rõ bị đơn không có đủ thông tin để thừa nhận hoặc bác bỏ). Những tình tiết bị đơn đã thừa nhận sẽ được coi là tình tiết có thật, và toàn bộ quá trình chuẩn bị xét xử sơ thẩm sẽ chỉ tập trung vào các tình tiết mà bị đơn bác bỏ.
Ngoài ra, ngay ở giai đoạn khởi kiện và thụ lý, các đương sự có quyền yêu cầu tòa án ra một số quyết định, như yêu cầu đình chỉ giải quyết vụ án (motion to dismiss), yêu cầu chuyển vụ việc (motion to transfer)… dựa trên các căn cứ như: tòa án không có thẩm quyền theo loại việc, hoặc tòa án không có thẩm quyền theo lãnh thổ, hoặc yêu cầu của nguyên đơn thiếu cơ sở pháp lý. Trường hợp bị đơn yêu cầu đình chỉ vụ án do bị đơn không được tống đạt các văn bản khởi kiện theo đúng thủ tục, thông thường tòa án sẽ không đình chỉ mà chỉ ra lệnh buộc nguyên đơn thực hiện lại việc tống đạt giấy tờ theo đúng thủ tục.
Ở hầu hết các bang tại Mỹ, chủ thể thực hiện tống đạt VBTT chỉ cần đáp ứng điều kiện là phải từ 18 tuổi trở lên và không phải là đương sự trong vụ án. Ngoài ra, theo yêu cầu của nguyên đơn, tòa án có thể ra lệnh cho một người được tòa án chỉ định đặc biệt để thực hiện tống đạt.
Tại một số quốc gia khác, quá trình tống đạt VBTTDS được thực hiện thông qua Thừa phát lại. Chức danh này được bổ nhiệm bởi một thẩm phán của Toà án (như tại Canada, Italia...) hoặc bởi Bộ trưởng Bộ Tư pháp (ví dụ như Pháp). Họ giữ độc quyền về chức năng tống đạt và thi hành các quyết định của Toà án. Trong hệ thống pháp luật của Anh và Mỹ, thừa phát lại thường được dịch là “bailiff” và được hiểu như là một viên chức thuộc Toà án vì chức năng tương tự như vậy. Là người hoạt động trong lĩnh vực pháp lý, thừa phát lại thực hiện quá trình tống đạt VBTT, chịu trách nhiệm cung cấp các giấy tờ, tài liệu trong vụ án và xác thực đối với các bên khi VBTT được chuyển giao. Mọi hoạt động của họ phải tuân theo quy định của pháp luật.
Liên hệ với pháp luật Việt Nam thời kỳ trước năm 1975 dưới ách cai trị của thực dân Pháp cũng bị ảnh hưởng bởi pháp luật Pháp. “Thừa phát lại” có lẽ xuất hiện ở Việt Nam song hành với việc Vua Tự Đức ký Hoà ước ngày 05/06/1862 nhượng cho Pháp 6 tỉnh Nam Kỳ. Từ đó Pháp đã áp đặt chế độ cai trị và quy chế về thuộc địa lãnh thổ. Mô hình thừa phát lại được quy định ở các bộ luật dân sự, tố tụng dân sự thời kỳ đó hầu hết đều theo khuôn mẫu của mô hình thừa phát lại của Pháp. Cho đến nay, chức năng, nhiệm vụ của “thừa phát lại” vẫn được quy định trong PLTTDS Việt Nam nhưng vai trò của họ ngày càng giữ vị trí quan trọng, phù hợp với đặc điểm của hệ thống pháp luật nước ta.
Ở các nước có pháp luật tố tụng dân sự khá tương đồng với Việt Nam như Nga và Trung Quốc, chủ thể thực hiện tống đạt VBTTDS là cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc cá nhân, tổ chức khác có chức năng thực hiện tống đạt theo quy định của pháp luật.
Theo BLTTDS Liên Bang Nga, sau khi thụ lý vụ án, thẩm phán chuyển hoặc tống đạt cho bị đơn bản sao đơn kiện và những tài liệu kèm theo làm cơ sở cho yêu cầu của nguyên đơn và yêu cầu bị đơn trong thời hạn được ấn định phải xuất trình những chứng cứ làm cơ sở cho sự phản đối của bị đơn (Điều 150). Trong quá trình chuẩn bị xét xử, các đương sự phải tự tiến hành thu thập chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình và cung cấp các chứng cứ đó cho đương sự còn lại và cho tòa án. Nguyên đơn, người đại diện của nguyên đơn phải chuyển cho bị đơn bản sao chứng cứ làm cơ sở cho yêu cầu của nguyên đơn. Bị đơn, người đại diện của bị đơn chuyển cho nguyên đơn, đại diện của nguyên đơn và tòa án ý kiến phản đối bằng văn bản đối với những yêu cầu của nguyên đơn và những chứng cứ làm cơ sở cho ý kiến phản đối của bị đơn (Điều 149). Ở Nga, việc tống đạt giấy báo và giấy gọi do Toà án thực hiện. Đối với bị đơn, Toà án gửi bản sao đơn khởi kiện cùng với thông báo, còn đối với nguyên đơn, Toà án gửi bản sao bằng văn bản lời giải thích của bị đơn cùng với thông báo, nếu Toà án có những lời giải thích đó.
Đối với pháp luật TTDS Trung Quốc, thủ tục tố tụng dân sự cũng mang nhiều nét tương đồng với thủ tục tố tụng dân sự Việt Nam. Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án phải gửi bản sao đơn khởi kiện cho bị đơn trong thời hạn 5 ngày kể từ ngày thụ lý. Bị đơn phải nộp bản tự bảo vệ cho tòa án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao đơn khởi kiện. Trong thời hạn 5 ngày kể từ ngày nhận được bản tự bảo vệ của bị đơn, tòa án phải gửi bản sao bản tự bảo vệ cho nguyên đơn (Điều 125). Như vậy, khác với thủ tục tố tụng dân sự Hoa Kỳ, ở Trung Quốc, tòa án đóng vai trò chủ động và là chủ thể có trách nhiệm tống đạt văn bản, giấy tờ cho các bên đương sự.
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty Luật Minh Khuê