1. Giai đoạn trước năm 1945

Giai đoạn trước năm 1945, nước ta là thuộc địa của Pháp, Pháp trực tiếp áp đặt chế độ cai trị thực dân và áp dụng quy chế về thuộc địa lãnh thổ, coi 6 tỉnh Nam Kỳ như một hạt, mỗi tỉnh được coi như một quận của nước  Pháp. Sau đó, bằng bản Hiệp ước ngày 06/06/1884, nước Việt Nam trở thành một nước bảo hộ của Pháp. Quyền tư pháp vẫn thuộc về Hoàng đế nhưng bị hạn chế bởi sự kiểm soát của đại diện chính quyền Pháp. Do đó pháp luật Việt Nam nói chung và pháp luật về tố tụng dân sự Việt Nam nói riêng chưa được hình thành, tuy nhiên đã xuất hiện chế định thừa phát lại. Những công việc của thừa phát lại như trát đòi hầu toà, truyền phiếu...vẫn do các sứ giả của Vua thực hiện. Mô hình Thừa phát lại đã được quy định chính thức trong một số văn bản như: “BLTTDS Nam Việt” ban hành kèm Nghị định ngày 16/03/1910 (ở Nam Kỳ); “Bộ dân luật Trung năm 1936 - 1939”, ban hành kèm Bộ hộ sự, thương sự tố tụng Trung Việt năm 1942 (ở Trung kỳ); “Bộ dân luật Bắc năm 1931”, kèm Bộ dân sự tố tụng Bắc năm 1917 (ở Bắc kỳ). Hầu hết các quy định trong các bộ luật này đều theo khuôn mẫu của mô hình thừa phát lại của Pháp thể hiện trong Bộ dân luật Pháp năm 1804 và Bộ dân sự tố tụng Pháp năm 1807.
Ngày 08/03/1949 Thoả ước Việt – Pháp được ký kết dưới thời vua Bảo Đại. Các chế định về Thừa phát lại ngày càng được quy định chi tiết, cụ thể hơn, được thể hiện tại: Nghị định số 111/BTP-NĐ ngày 04/02/1950 do Tổng trưởng Bộ tư pháp ban hành quy định chi tiết về tổ chức, chức năng, nhiệm, vụ, quyền hạn của Thừa phát lại; Bộ luật dân sự và thương sự tố tụng ban hành năm 1972 bởi chính quyền Nguyễn Văn Thiệu. Tuy nhiên sau khi chính quyền Thiệu sụp đổ thì Thừa phát lại cũng không được sử dụng nữa.

2. Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1989

2.1 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1977

Đây là giai đoạn nước ta vừa giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Bản tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, hệ thống pháp luật Việt Nam dần được xây dựng và hoàn thiện để đáp ứng nhu cầu phát triển đất nước. Pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam bấy giờ vẫn chưa có một văn bản pháp lý nào quy định về thủ tục tố tụng dân sự. Hình thức của thông báo, cấp, tống đạt văn bản tố tụng lần đầu tiên được đề cập đến và được ghi nhận tại Công văn số 363 ngày 17/04/1961 trong đó có nêu: “Việc niêm yết công khai giấy gọi đương sự ra phiên tòa, niêm yết trích lục bản án”. Tuy nhiên nội dung này chỉ dừng lại ở mức độ khái quát, mang tính chất chung chung, quy định về thủ tục thông báo, cấp, tống đạt VBTTDS chưa được thể hiện rõ ràng, cụ thể.
Đến năm 1977, Thông tư số 53/TATC ngày 23/06/1977 được  TANDTC ban hành, đưa ra hướng dẫn về thủ tục tống đạt. Đây được coi là văn bản pháp luật đầu tiên của nước ta quy định cụ thể về tống đạt văn bản tố tụng. Nội dung Thông tư cũng xác định rõ những loại giấy tờ cần phải tống đạt cho những người tham gia tố tụng, người có nghĩa vụ tống đạt, thủ tục tống đạt, hướng dẫn cách làm giấy tờ tống đạt, quy định cách giải quyết trong trường hợp tống đạt đương sự vắng mặt hoặc không hợp tác, có tình trốn tránh hoặc giấu địa chỉ… Kèm theo Thông tư này là một số mẫu biên bản hướng dẫn để Tòa án sử dụng trong quá trình thực hiện hoạt động tống đạt.

2.2 Trong quan hệ quốc tế

Trong quan hệ quốc tế, ngày 12/10/1982, Việt Nam tham gia ký kết “Hiệp định tương trợ tư pháp và pháp lý về dân sự và hình sự giữa nước CHXHCN Việt Nam và nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Tiệp Khắc”. Trong đó quy định việc tống đạt văn bản có yếu tố nước ngoài (Điều 7, Điều 8), các cơ quan tư pháp giữa hai nước tương trợ nhau trong việc lập, chuyển và tống đạt giấy tờ.
Nhìn chung trong giai đoạn này do nước ta vẫn đang còn bị ảnh hưởng bởi chiến tranh, pháp luật tố tụng dân sự ở thời kỳ đầu chưa được hoàn thiện và quan tâm đúng mức dẫn đến hoạt động cấp, tống đạt và thông báo VBTTDS này vẫn chưa được chú trọng. Ngày 30/04/1975, miền Nam hoàn toàn được giải phóng, chiến tranh kết thúc. Sau khi đất nước được thống nhất thì hoạt động này đã được quan tâm, chú trọng hơn. Tuy nhiên, do mới bắt đầu được xây dựng nên các quy định vẫn chưa đầy đủ, rõ ràng, tương xứng với vai trò của nó trong thời kỳ mới.

3. Giai đoạn từ năm 1989 đến nay

Thời kỳ này, Pháp lệnh số 27-LCT/HĐNN8 ngày 07/12/1989 của Hội đồng nhà nước về thủ tục giải quyết các vụ án vụ án dân sự được ban hành đã xác định rõ thẩm quyền của Toà án cũng như trình tự, thủ tục tố tụng tại phiên toà các cấp. Tuy nhiên quy định về thủ tục cấp, tống đạt, thông báo VBTTDS lại không được đề cập đến. Sau đó, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã đưa ra hướng dẫn việc áp dụng một số quy định của Pháp lệnh số 27 tại Nghị quyết số 03/HĐTP ngày 19/10/1990 những cũng chỉ dừng lại ở việc hướng dẫn niêm yết giấy triệu tập phiên toà đối với bị đơn. Cho đến Công văn số 29/NCPL ngày 6/4/1992 của TANDTC hướng dẫn giải quyết các vụ án ly hôn với một bên đương sự đang ở nước ngoài mới đề cập đến việc thông báo và lấy lời khai đương sự qua cơ quan ngoại giao của nước ta ở nước ngoài.
Ngày 15/6/2004, tại kỳ họp Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI, BLTTDS được thông qua. Sau đó Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS năm 2004 được Quốc hội thông qua vào ngày 29/3/2011 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2012). Qua lần sửa đổi này, các chế định về thủ tục cấp, tống đạt, thông báo VBTTDS hầu như không có gì thay đổi so với nguyên bản của nó. Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng trên thực tế, các quy định của pháp luật tố tụng dân sự trong thời gian này đã bộc lộ những hạn chế nhất định. Do đó, để phù hợp với điều kiện, tình hình mới,
BLTTDS năm 2015 được Quốc hội ban hành và thông qua ngày 25/11/2015, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/07/2016. So với BLTTDS năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm 2011), BLTTDS năm 2015 quy định về cấp, tống đạt, thông báo VBTT gồm 12 điều (từ Điều 70 đến Điều 181), trong đó giữ nguyên 2 điều, mới 1 điều, sửa đổi 9 điều. Nội dung các điều luật đã có sự quy định rõ ràng về trách nhiệm tống đạt VBTTDS do các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện cũng như trình tự, thủ tục tống đạt hợp lệ. Các phương thức cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng cũng có những điểm mới, đó là: thừa nhận phương thức cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng mới bằng phương tiện điện tử theo yêu cầu của đương sự hoặc người tham gia tố tụng khác phù hợp với quy định của pháp luật về giao dịch điện tử và quy định cụ thể cấp, tống đạt, thông báo bằng phương thức khác cho đương sự ở nước ngoài theo quy định tại Chương XXXVIII (Điều 173); việc cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng qua dịch vụ bưu chính phải bằng thư bảo đảm và có xác nhận của người nhận văn bản tố tụng (Điều 175).
Ở một khía cạnh khác, ngày 14/11/2008, Nghị quyết số 24/2008/QH12 do Quốc hội ban hành về việc thi hành Luật THADS có nêu rõ việc thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại tại một số địa phương nhằm xã hội hoá công việc liên quan đến THADS. Việc thí điểm được thực hiện từ ngày 01/07/2009 đến ngày 01/07/2012. Căn cứ vào Nghị quyết số 24/2008/QH12, ngày 19/02/2009 Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 224/QĐ-TTg phê duyệt đề án “Thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại tại thành phố Hồ Chí Minh”. Theo Quyết định này, việc thực hiện đề án là nhằm xác định sự cần thiết và tính hiệu quả của Thừa phát lại trong hoạt động tư pháp, xác định khả năng áp dụng mô hình này trong toàn quốc. Sau khi phê duyệt đề án, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 61/2009/NĐ-CP ngày 24/7/2009 quy định về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại thực hiện thí điểm tại thành phố Hồ Chí Minh. Ngoài ra, Bộ tư pháp đã chủ trì phối hợp với các Bộ, ngành xây dựng ban hành một số văn bản hướng dẫn như: Thông tư liên tịch số 04/2009/TTLT-BTP-BTC ngày 15/10/2009, Thông tư số 03/2009/TT-BTP ngày 30/09/2009, Thông tư liên tịch số 12/2010/TTLT-BTP-BTC-TANDTC. Có thể nói, việc ra đời chế định thừa phát lại đã phần nào giảm tải đáng kể khối lượng công việc cho ngành Toà án và THADS, giúp cho việc giải quyết các vụ việc dân sự được diễn ra nhanh chóng và hiệu quả hơn. Sau hơn hai năm thực hiện thí điểm trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, ngày 23 tháng 11 năm 2012 tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khóa XIII đã thông qua Nghị quyết số 36/2012/QH13 của Quốc hội về việc tiếp tục thực hiện thí điểm chế định thừa phát lại đồng thời mở rộng phạm vi thí điểm ra các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Tại Hà Nội, Bộ tư pháp đã có văn bản phê duyệt đề án thực hiện thí điểm chế định thừa phát lại tại thành phố Hà Nội thông qua Quyết định số 2531/QĐ-BTP ngày 21/10/2013. Tiếp đó là Quyết định số 6236/QĐ-UBND về việc ban hành đề án “Thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại tại thành phố Hà Nội” ngày 15/10/2013 do UBND thành phố Hà Nội ban hành. Đến ngày 03/04/2014, Kế hoạch triển khai thực hiện thí điểm chế định Thừa phát lại tại thành phố Hà Nội được chính thức ban hành kèm theo Quyết định số 1790/QĐ-UBND của Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội. Trong quá trình thực hiện chương trình thí điểm tại thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội, các chế định về thừa phát lại cũng như thủ tục thực hiện công việc mà trọng tâm đó là thực hiện chức năng cấp, tống đạt, thông báo VBTTDS giúp Toà án và cơ quan THADS đã được quy định khá chi tiết, cụ thể tại các văn bản pháp luật và văn bản hướng dẫn thực hiện của cơ quan có thẩm quyền. Hoạt động của tổ chức thừa phát lại sẽ là một giải pháp hữu hiệu để thực hiện chủ trương xã hội hoá hoạt động tư pháp mà Đảng và Nhà nước ta đã đề ra.

4. Kết luận

Có thể thấy rằng trong mỗi giai đoạn, pháp luật TTDS nước ta có  những thay đổi, chuyển biến tích cực hơn. Các thủ tục TTDS dần được hoàn thiện, mở rộng phương thức tống đạt, từng bước thực hiện xã hội hoá. Theo đó, không chỉ có cơ quan nhà nước, các tổ chức khác cũng được nhà nước trao quyền thực hiện một số hoạt động tố tụng nhất định trong phạm vi, quyền hạn mà pháp luật cho phép. Qua các thời kỳ, hoạt động tống đạt VBTT ngày càng được chú trọng, cùng với đó là sự ra đời của chế định Thừa phát lại đã tạo cho người dân có thêm sự lựa chọn phương thức cấp, tống đạt, thông báo VBTT một cách phù hơp, giảm tải công việc cho hoạt động của các cơ quan nhà nước. Thông qua hoạt động của Thừa phát lại, người dân có thể chủ động bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Đối với các cơ quan tiến hành tố tụng, việc thực hiện xã hội hoá thủ tục tố tụng, chuyển giao cho tổ chức Thừa phát lại đảm nhiệm việc tống đạt các văn bản, giấy tờ đã phần nào giải toả được những ách tắc, quá tải trong hoạt động của các cơ quan xét xử và THADS, đồng thời đây cũng là sự bổ sung góp phần hoàn thiện hệ thống  pháp luật Việt Nam nói chung và pháp luật TTDS nói riêng.
Trân trọng!
Bộ phận tư vấn pháp luật dân sự - Công ty Luật Minh Khuê