1.Khái quát chung về bảo lãnh ngân hàng

Trong hoạt động kinh doanh của các ngân hàng hiện đại ngày nay hoạt  động  bảo  lãnh  được  xem  như  là  hoạt  động  kinh  doanh  phổ  biến. Quan hệ bảo lãnh mà chủ thể đứng ra cung ứng dịch vụ bảo lãnh là các tổ chức tín dụng được gọi là bảo lãnh ngân hàng. Đối  với  các  ngân  hàng,  bảo  lãnh  ngân  hàng  là  hoạt  động  kinh doanh  ngân  hàng  của  các  ngân  hàng  hiện  đại.

Bảo lãnh ngân hàng bắt đầu ra đời và phát triển vào đầu thập niên 70 của thế kỷ và trở thành một loại hình dịch vụ hữu hiệu của các ngân hàng hiện đại với nền kinh tế.

Ở Việt Nam, từ những năm 80 bảo lãnh đã được đề cập trong các văn bản pháp quy. Tuy nhiên từ 1980 đến 1990, bảo lãnh của ngân hàng chỉ do Ngân hàng nhà nước thực hiện như một công cụ kinh doanh cho các doanh nghiệp nhà nước vay vốn nước ngoài để sản xuất kinh doanh. Sau công cuộc đổi mới hệ thống ngân hàng năm 1998, hệ thống ngân hàng thương mại được phát triển với nhiều nghiệp vụ phong phú và đa dạng trong đó có nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng .

Năm 1994, thống đốc Ngân hàng nhà nước mới ban hành quy chế bảo lãnh và tái bảo lãnh được áp dụng lần đầu cho các ngân hàng thương mại tại Việt Nam.

Bảo  lãnh  ngân  hàng  có  thể  xem là  hình thức  bảo  đảm thực  hiện nghĩa vụ mang tính phát sinh. Trong quan hệ bảo lãnh có phát sinh quan hệ hợp đồng, đó là hợp đồng bảo lãnh ngân hàng được ký kết giữa những chủ thể là bên bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh.

2. Chủ thể tham gia quan hệ bảo lãnh ngân hàng

Chủ thể tham gia trong quan hệ bảo lãnh ngân hàng gồm 3 bên:

- Bên bảo lãnh;

- Bên được bảo lãnh;

- Bên nhận bảo lãnh.

+) Bên  bảo  lãnh: là  người  phát  hành  thư  bảo  lãnh, thường là tổ chức tín dụng thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh. Ngân hàng bảo lãnh phải là ngân hàng có uy tín, có khả năng tài chính, được bên thụ hưởng chấp nhận. Ngân hàng bảo lãnh có khi chỉ là ngân hàng phục vụ người xin bảo lãnh ; và cũng có khi là hai ngân hàng tham gia, trong đó một ngân hàng phục vụ người  xin  bảo  lãnh,  một  ngân  hàng  phục  vụ  Người  thụ  hưởng .

Theo quy định của pháp luật hiện hành, các tổ chức tín dụng hoạt động  tại  Việt  Nam  đều  được  phép  thực  hiện  hoạt  động  bảo  lãnh  ngân hàng bao gồm: các tổ chức tín dụng thành lập và hoạt động theo Luật các tổ chức tín dụng; các ngân hàng được  Ngân hàng Nhà nước  cho phép  hoạt động thanh toán quốc tế được thực hiện các loại bảo lãnh mà bên nhận bảo lãnh là các tổ chức và cá nhân nước ngoài.

Tổ chức tín dụng được quyền thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh đối với khách hàng khi thỏa mãn các điều kiện là:

- Có tư cách pháp nhân và có người đại diện hợp pháp.

-  Được  Ngân  hàng  Nhà  nước  cho  phép  thực  hiện  nghiệp  vụ  bảo lãnh đối với khách hàng  điều kiện này thường được ghi rõ trong giấy phép  thành  lập  và  hoạt  động  của  tổ  chức  tín  dụng  do  Ngân  hàng  Nhà nước cấp.

+) Bên được bảo lãnh: là khách hàng được tổ chức tín dụng bảo lãnh. Khách hàng được tổ chức tín dụng bảo lãnh là các tổ chức và cá nhân trong nước và nước ngoài yêu cầu được ngân hàng bảo lãnh. Bên được bảo lãnh có thể là: người xuất khẩu trong trường hợp bảo lãnh thực hiện hợp đồng; người nhập khẩu trong trường hợp bảo lãnh thanh toán;  người  đi  vay,  người  mua  hàng  trả  chậm  trường  hợp  bảo  lãnh thanh toán; người tham gia dự thầu trong trường hợp bảo lãnh dự thầu.

Theo quy định của pháp luật, điều kiện đối với bên được bảo lãnh phải đáp ứng các điều kiện là:

- Tổ chức hoặc cá nhân trong nước và ngoài nước có đầy đủ năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật;

- Có các giấy tờ tài liệu chứng minh nghĩa vụ cần được bảo lãnh và mục đích đề nghị tổ chức tín dụng bảo lãnh là hợp pháp

 Có  khả  năng  tài  chính  để  thực  hiện  nghĩa  vụ  được tổ  chức  tín dụng bảo lãnh trong thời hạn cam kết như có đủ uy tín đối với tổ chức tín dụng trên cơ sở các tài sản đem cầm cố, thế chấp và tình hình tài chính lành mạnh ở thời điểm xin bảo lãnh.

- Trường hợp khách hàng là tổ chức hoặc cá nhân nước ngoài thì ngoài các điều kiện nêu trên phải tuân thủ các quy định về quản lý ngoại hối của Việt Nam.

Tổ chức tín dụng không được bảo lãnh đối với những người sau đây: 

Thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng thành viên, thành viên Ban kiểm soát, Tổng giám đốc , Phó Tổng giám đốc và các chức danh tương đương của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, pháp nhân là cổ đông có người đại diện phần vốn góp là thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Ban kiểm soát của tổ chức tín dụng là công ty cổ phần, pháp nhân là thành viên góp vốn, chủ sở hữu của tổ chức tín dụng là công ty trách nhiệm hữu hạn;

Cha, mẹ, vợ, chồng, con của thành viên Hội đồng quản trị, thành viên  Hội  đồng  thành  viên,  thành  viên  Ban  kiểm  soát,  Tổng  giám  đốc, Phó Tổng giám đốc và các chức danh tương đương. Quy  định  này  không  áp  dụng  đối  với  quỹ  tín  dụng  nhân  dân,  tổ chức tài chính vi mô.

 - Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được bảo lãnh cho khách hàng trên cơ sở bảo đảm của đối tượng quy định nói trên. Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không được bảo đảm dưới bất kỳ hình thức nào để tổ chức tín dụng khác bảo lãnh cho đối tượng nói trên

+) Bên nhận bảo lãnh : là các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước có quyền thụ hưởng bảo lãnh của tổ chức tín dụng

Bên nhận bảo lãnh phải thoả mãn những điều kiện chủ thể do pháp luật quy định nhằm góp phần đảm bảo hiệu lực của hợp đồng. Các điều kiện đó bao gồm:

- Có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự. Đối với người bảo lãnh là một tổ chức thì tổ chức đó phải có người đại diện hợp pháp có đủ năng lực và thẩm quyền;

- Có các giấy tờ, tài liệu hay bằng chứng khác chứng minh quyền chủ nợ trong một nghĩa vụ cần được bảo đảm.

Như vậy, hợp đồng trong hoạt động bảo lãnh ngân hàng theo quy định của pháp luật, sẽ tồn tại 2 loại quan hệ hợp đồng, là quan hệ hợp đồng bảo lãnh ngân hàng  và quan hệ hợp đồng dịch vụ bảo lãnh ngân hàng, giao dịch bảo lãnh không phải giao dịch hai bên hay ba bên mà là giao dịch kép.

3. Phạm vi bảo lãnh ngân hàng của các tổ chức tín dụng

Phạm vi bảo lãnh ngân hàng là giới hạn mà pháp luật quy định đối với hoạt động bảo lãnh ngân hàng của tổ chức tín dụng. Bên bảo lãnh có thể cam kết bảo lãnh một phần hoặc toàn bộ các nghĩa vụ sau đây:

- Nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi vay và các chi phí khác có liên quan đến khoản vay;

- Nghĩa vụ thanh toán tiền mua vật tư, hàng hoá, máy móc, thiết bị và các khoản chi phí để khách hàng thực hiện các dự án hoặc phương án đầu tư, phương án sản xuất, kinh doanh hoặc dịch vụ đời sống;

- Nghĩa vụ thanh toán các khoản thuế, các nghĩa vụ tài chính khác đối với nhà nước;

- Nghĩa vụ của khách hàng khi tham gia dự thầu;

- Nghĩa vụ của khách hàng khi tham gia quan hệ hợp đồng với bên nhận bảo lãnh, như thực hiện hợp đồng, bảo đảm chất lượng sản phẩm, nhận và hoàn trả tiền ứng trước;

- Các nghĩa vụ hợp pháp khác do các bên thoả thuận

Bên cạnh đó, pháp luật còn quy định về giới hạn số tiền bảo lãnh. Theo quy định tại Điều 128 Luật các Tổ chức tín dụng thì tổng số dư bảo lãnh của tổ chức tín dụng cho một khách hàng không được vượt qua 15% vốn tự có của tổ chức tín dụng bảo lãnh. Tổng số dư bảo lãnh của chi nhánh ngân hàng nước  ngoài đối với một khách hàng không vượt quá 15% vốn tự có của ngân hàng nước ngoài.

4. Hình thức và nội dung của giao dịch bảo lãnh ngân hàng

Pháp luật quy định việc bảo lãnh của tổ chức tín dụng đối với khách hàng phải được lập bằng văn bản. Trong giao dịch bảo lãnh của tổ chức tín dụng, cam  kết  bảo  lãnh là  văn  bản  bảo  lãnh  của  bên bảo  lãnh  với  bên nhận bảo lãnh theo một trong các hình thức là:

Hợp đồng bảo lãnh là văn bản thỏa thuận giữa bên bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh hoặc giữa bên bảo lãnh, bên nhận bảo lãnh và các bên có liên quan về việc bên bảo lãnh sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho bên được bảo lãnh khi bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh.

Thư bảo lãnh là văn bản cam kết của bên bảo lãnh với bên nhận bảo lãnh về việc bên bảo lãnh sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho bên được bảo lãnh khi bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh.

5. Thủ tục bảo lãnh Ngân hàng

Bước thứ nhất:  tổ chức, cá nhân xin bảo lãnh phải gửi đến Ngân hàng hay tổ chức tín dụng được mình lựa chọn các tài liệu thuộc hồ sơ đề nghị bảo lãnh, bao gồm:

- Văn bản đề nghị bảo lãnh;

- Tài liệu về bên được bảo lãnh;

- Tài liệu về nghĩa vụ được bảo lãnh;

- Tài liệu về tài sản bảo đảm ;

Trên  cơ  sở  hồ  sơ  đề  nghị  bảo  lãnh,  Ngân  hàng   thẩm định và thông báo cho khách hàng biết ý kiến chấp thuận hay từ chối bảo lãnh;

Bước thứ hai: nếu được tổ chức tín dụng chấp thuận bảo lãnh, tổ chức hay cá nhân được bảo lãnh phải làm thủ tục cầm cố, thế chấp tài sản cho người bảo lãnh để làm bảo đảm cho nghĩa vụ hoàn trả sau này trong trường hợp tổ chức tín dụng phải thực hiện nghĩa vụ thay cho họ;

Bước thứ ba: sau khi đã nhận được tài sản cầm cố hay giấy tờ về tài sản thế chấp, tổ chức tín dụng bảo lãnh mới thực hiện việc bảo lãnh cho liên quan  về việc bên bảo lãnh sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho bên được bảo lãnh khi bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh. Thư bảo lãnh là văn bản cam kết của bên bảo lãnh với bên nhận bảo lãnh về việc bên bảo lãnh sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho bên được bảo lãnh khi bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh.

khách hàng bằng thủ tục lập văn thư bảo lãnh hợp thức để gửi cho bên nhận bảo lãnh;

Bước thứ tư: nếu người được bảo lãnh đã thực hiện đúng nghĩa vụvới bên có quyền thì tổ chức tín dụng bảo lãnh phải hoàn trả lại các tài sản hay giấy tờ về tài sản đã nhận cho người được bảo lãnh. Nghĩa vụ bảo lãnh của tổ chức tín dụng chấm dứt trong các trường hợp sau:

- Nghĩa vụ của bên được bảo lãnh chấm dứt.

- Bên bảo lãnh đã thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh theo cam kết bảo lãnh.

- Việc  bảo lãnh  được hủy bỏ hoặc thay  thế  bằng  biện pháp  bảo đảm khác.

- Hiệu lực của cam kết bảo lãnh đã hết.

- Bên nhận bảo lãnh miễn thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh cho bên bảo lãnh.

- Nghĩa vụ bảo lãnh chấm dứt trong các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.

- Theo thỏa thuận của các bên.

Trong trường hợp tổ chức tín dụng bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ của người bảo lãnh thì tổ chức, cá nhân được bảo lãnh phải lập giấy nhận nợ với tổ chức tín dụng bảo lãnh và phải chịu ngay lãi suất nợ quá hạn do tổ chức tín dụng bảo lãnh áp dụng.