1. Hegel ảnh hưởng đến tư tưởng của Marx như thế nào?

Nhân vật chi phối trong triết học Đức trong thế kỷ 19 là Georg Hegel (1770-1831), mà tư tưởng của ông ảnh hưởng không chỉ đối với Marx mà còn đối với những người theo chủ nghĩa lịch sử. Đối với Marx, ít nhất khía cạnh lôi cuốn nhất trong triết học Hegel là thuyết tiến bộ của ông. Theo Hegel, lịch sử nắm vai trò mấu chốt trong ngành khoa học xã hội. Lịch sử không phải là một chuỗi liên tục những điều xảy ra ngẫu nhiên hay là một tập hợp những câu chuyện rời rạc, mà đúng ra lịch sử là một tiến trình hữu cơ do tinh thần con người điều khiển Lịch sử .

Tiến bộ đạt được theo Hegel, khi một lực lượng đương đầu với một lực lượng đối lập. Trong đấu tranh, cả hai đều bị hủy diệt và bị một lực lượng thứ ba vượt qua. Cái gọi là phép biện chứng này thường được tóm tắt, theo nhận thức, bằng ảnh hưởng lẫn nhau giữa “chính đề”, “phản đề” và “tổng hợp”. Theo Hegel, tiến bộ lịch sử diễn ra khi một tư tưởng hay chính đề gặp phải một tư tưởng hay phản đề đối lập. Trong trận chiến tư tưởng, không một tư tưởng nào còn nguyên vẹn, mà cả hai sẽ được tổng hợp thành tư tưởng thứ ba, điều này giải thích mọi hiểu biết chung cũng như lịch sử luôn tiến bộ.

2. Ảnh hưởng của Feuerbach đến Marx

Khi Marx trưởng thành, ông phê bình Hegel trên một số cơ sở, nhưng dù sao ông cũng công nhận phép biện chứng của Hegel. Tuy nhiên, ông sửa đổi nó, theo quan điểm chủ nghĩa duy vật của Ludwig Feuerbach. Feuerbach không kém Hegel hay Marx, nhưng trong quyển Essence of Christianity của ông được viết sau khi Hegel mất được 10 năm, ông triển khai khái niệm “tự chuyển nhượng” của Hegel theo chiều hướng chủng tộc. Feuerbach bổ sung “chủ nghĩa duy vật” - quan niệm cho rằng con người không những là “sinh vật đặc biệt” như Hegel khẳng định, mà còn là những sinh vật có giác quan và vì thế sự nhận thức qua giác quan ấy phải trở thành nền tảng của mọi ngành khoa học. Theo Feuerbach, toàn bộ lịch sử là tiến trình chuẩn bị cho con người trở thành đối tượng của hoạt động “nhận thức” hơn là hoạt động “vô thức”.

Trong tôn giáo, Feuerbach thấy một vùng nơi hoạt động vô thức chiếm lĩnh. Tôn giáo là hình chiếu đơn thuần của những thuộc tính lý tưởng hóa của con người đối với một đối tượng thuộc thế giới khác (nghĩa là Thượng Đế). Khi ấy đối tượng siêu nhiên này được con người thờ phụng như đấng toàn năng, toàn trí và toàn mỹ. Như một người theo thuyết “duy thực” tự xưng, Feuerbach xem tôn giáo là hão huyền, ông xem các thuộc tính thần thánh không gì khác hơn ngoài thuộc tính của con người lý tưởng hóa mà dĩ nhiên, không thể được thừa nhận trong thế giới không hoàn hảo này. Nói cách khác, tôn giáo làm cho cuộc sống có thể chịu đựng được. Con người sẵn sàng chấp nhận sự không hoàn hảo của họ, sự tồn tại trên trần thế chỉ vì họ hứa hẹn với chính mình trong vô thức rằng có sự hoàn hảo ở thế giới khác. Đối với Feuerbach, điều hiển nhiên là tại sao tôn giáo là một hiện tượng phổ biến như thế.

Trong quan điểm phân tích này, Feuerbach nhận thức tôn giáo như một hình thức “tự chuyển nhượng”. Ông và Marx, cả hai đều sử dụng thuật ngữ “chuyển nhượng” để ám chỉ một tiến trình - và một kết quả - chuyển đổi sản phẩm của cá nhân và hoạt động xã hội thành một điều gì đó khác với chính nó, cả hai đều độc lập với chúng và chi phối chúng. Tuy nhiên, Feuerbach hạn chế phân tích của ông theo cách trong đó con người tự chuyển nhượng mình trong tôn giáo và trong triết học, trong khi Marx áp dụng khái niệm đôi với tất cả các hoạt động chính trị, kinh tế, kể cả chính những định chế của chủ nghĩa Tư bản. ớ Marx, lần đầu tiên, nhà nước bắt tay với Thượng Đế như một sinh vật xa lạ, rút ra quyền lực và sự sinh tồn từ thực tế con người không khả năng hay miễn cưỡng đối mặt trực diện những vấn đề mà họ gặp trong mối tương tác xã hội hàng ngày với nhau. Qua thời gian, cấu trúc nguyên khôi này gọi là “nhà nước” gia tăng quyền lực của mình đối với cuộc sống của người dân, đơn thuần vì họ cho phép làm như thế.

3. Giải thích kinh tế lịch sử của Marx

Với cơ sở trên, lúc này chúng ta có thể bắt đầu đánh giá tính chất đổi mới trong tư tưởng của Marx. Ghép chủ nghĩa duy vật của Feuerbach với phép biện chứng của Hegel, Marx phát triển “chủ nghĩa duy vật biện chứng”, sau này ông mở rộng sang lĩnh vực kinh tế. Marx xem động lực chính của lịch sử phải theo cách trong đó cá nhân phải hình thành cuộc sống, nghĩa là, cách trong đó cá nhân phải thỏa mãn nhu cầu vật chất của mình. Điều này quan trọng bởi lẽ nhu cầu vật chất của họ nếu không được thỏa mãn, thì nhân loại sẽ chấm dứt sự tồn tại. Theo nguyên văn của Marx, “ Con người phải có khả năng sống để “làm nên lịch sử”, cho nên “Hành động lịch sử đầu tiên là... sản xuất phương tiện để thỏa mãn những nhu cầu này, sản xuất chính bản thân đời sống vật chất” (The German Ideology, trích dẫn Writings of the Young Marx, trang 419).

Dĩ nhiên, sản xuất không chỉ là hoạt động lịch sử mà là hoạt động kinh tế, và đây chính là bộ phận của tính độc đáo của Marx mà ông hiểu thật rõ ràng và đánh giá đúng mối tương quan giữa kinh tế và lịch sử. Thực ra, sự nhận dạng và giải thích của Marx về sản xuất là tâm điểm và động lực từ giữa những lực lượng tùy thuộc lẫn nhau trong sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng là những gì phân biệt kinh tế học của riêng ông với những gì đang tồn tại đến thời đại của ông. Marx, kinh tế học trở thành khoa học sản xuất.

Sản xuất là tác động xã hội đến chừng mực định hướng hoạt động con người thành những mục đích hữu dụng. Nhưng Marx khẳng định phương pháp sản xuất giúp định dạng chính bản chất con người. Trong tác phẩm ban đầu, ông viết: .

“Cách thức trong đó con người tạo ra phương tiện sinh sống trước hết tùy thuộc vào bản chất của mọi phương tiện thật sự mà họ tìm thấy trong sự sinh tồn và phải tái sản xuất. Phương thức sản xuâ't này không phải đơn thuần xem là sự tái sản xuất của sự sinh tồn cụ thể của cá nhân. Mà đúng ra đây là hình thức xác định hoạt động của những cá nhân này, một hình thức xác định cuộc đời của họ, một hình thức đời sống xác định về phần của họ. Khi cá nhân bày tỏ cuộc sống của mình, thì họ cứ bày tỏ. Vì thế, họ phải hợp với sản xuất của mình, cả việc họ sản xuất gì và sản xuất như thế nào. Vì thế, bản chất của cá nhân phụ thuộc vào điều kiện vật chất xác định sản xuất của họ”. (The German Ideology, trích dẫn Precapitalist Economic Formations, trang 121).

4. Phân công lao động xã hội

Marx thừa nhận cũng như Adam Smith rằng sự phát triển lực lượng sản xuất ở mọi nền kinh tế phụ thuộc vào mức độ thực hiện phân công lao động. Nhưng không như Smith, Marx nhìn thấy sự mâu thuẫn quyền lợi như kết quả logic của sự phân công lao động lũy tiến. Phân công lao động trước tiên dẫn đến sự phân chia lao động công nghiệp và thương mại với lao động nông nghiệp, do đó dẫn đến sự phân chia giữa thành phố và nông thôn. Kế đến dẫn đến sự phân chia lao động với lao động thương mại, và sau cùng dẫn đến sự phân chia giữa các công nhân trong mỗi loại lao động. Vì thế mâu thuẫn khác phát sinh: quyền lợi cá nhân mâu thuẫn với quyền lợi cộng đồng, và mỗi công nhân “bị trói buộc” với một công việc cụ thể. Sau cùng lao động của con người trở thành một lực lượng đối lập, đối lập với họ và nô dịch hóa họ.

Ngoài xung đột này giữa quyền lợi cá nhân và quyền lợi cộng đồng, Marx nhìn thấy sự xuất hiện của nhà nước như một quyền hạn độc lập, một quyền hạn tách quyền lực thực sự của cá nhân và cộng đồng. Tuy nhiên nhà nước có được tính chất này đối với các giai cấp lao động đã được xác định bằng cách phân công lao động. Mỗi giai cấp đang nắm quyền lực tìm cách đẩy mạnh quyền lợi của riêng mình như quyền lợi chung của cộng đồng. Tuy nhiên, cộng đồng nhận thức quyền lợi giai cấp này như một lực lượng đối lập mà giai cấp không kiểm soát được.

Tình huống trở thành không thể chịu đựng được khi thực hiện hai điều kiện: Thứ nhất, đại đa số nhân loại phải thể hiện tính vô sản trong khi cùng lúc đương đầu với mâu thuẫn của một thế giới của cải và văn hóa đang tồn tại. Nhưng cả hai yếu tố này hàm ý sự gia tăng to lớn trong sức sản xuất và với một mức độ phát triển cao, như trong thời kỳ trưởng thành của chủ nghĩa Tư bản. Thứ hai, sự phát triển các lực lượng sản xuất phải phổ biến. Như một tiền đề thực tế, hiện tượng giai cấp “vô sản” phải cân đối toàn thế giới, nếu không, cách mạng và chủ nghĩa cộng sản chỉ có thể tồn tại như những sự kiện mang tính địa phương chứ không phải là thực thể trên toàn cầu.

5. Các lực lượng tĩnh so với động trong xã hội

Điều Marx gọi là “lực lượng sản xuất”, phát triển trong thời hiện đại thông qua phân công lao động về bản chất mang tính động, gồm đất, lao động, vốn và công nghệ, mỗi yếu tố không ngừng thay đổi về số lượng và/hoặc chất lượng như kết quả của sự thay đổi trong dân số, khám phá, phát minh, giáo dục và v.v... Trong tiến trình sản xuất trong đời sống xã hội của mình, con người lại tham gia một số “quan hệ xác định không thể thiếu được và độc lập với ý chí của họ, môi quan hệ giữa sản xuất tương ứng với giai đoạn phát triển xác định của các lực lượng sản xuất vật chất”. Những “quy luật trong trò chơi Tư bản chủ nghĩa” về bản chất tĩnh và gồm hai dạng: quan hệ tài sản và quan hệ con người. Quan hệ tài sản tồn tại giữa con người và sự vật, quan hệ con người tồn tại giữa con người với nhau. Theo Marx, đây là tổng của các mối quan hệ này hình thành cấu trúc kinh tế xã hội và trên cấu trúc này áp đặt một thượng tầng kiến trúc hợp pháp và chính trị tương ứng với các hình thức nhận thức xã hội xác định. Mỗi khía cạnh cấu trúc kinh tế xã hội có được quan hệ sản xuất là nhờ ở nguồn gốc bởi lẽ các định chế tồn tại để làm cho con người thích hợp với các môi quan hệ sản xuất.

Như sự phân công lao động được đẩy đến kết luận logic, lao động ngày càng bị phân mảnh. Mâu thuẫn quyền lợi kế tiếp trầm trọng hơn bằng định chế tài sản cá nhân, đảm bảo việc phân chia Tư bản tích lũy trong số các chủ sở hữu khác nhau, vì thế là sự phân chia giữa Tư bản và lao động. Lực lượng tĩnh trong sản xuất sẽ đi đến xung đột với các quan hệ tĩnh của sản xuất. Một khi sự mâu thuẫn đạt đến cao độ thích hợp, cuộc đấu tranh giai cấp và cách mạng diễn ra, và Kim tự tháp xã hội sụp đổ từ trên xuống.

Marx tóm tắt súc tích các tiến trình động của thay đổi xã hội được xác định bởi các lực lượng sản xuất trong lời nói đầu quyển sách A Contribu­tion to the Critique of Political Economy:

“Phương thức sản xuất đời sống vật chất quyết định tính chất các tiến trình xã hội, chính trị và tinh thần trong cuộc sống. Đây không phải là ý thức của con người quyết định sự sinh tồn của mình, mà trái lại, sự sinh tồn xã hội quyết định ý thức của họ. ở một số giai đoạn phát triển của nó, các lực lượng sản xuất vật chết trong xã hội sẽ đi đến mâu thuẫn với các mối quan hệ sản xuất hiện có, hoặc - những gì chỉ là cách diễn đạt pháp lý đối với cùng vấn đề - với mối liên hệ tài sản trong đó họ đã làm trước kia. Từ hình thức phát triển các lực lượng sản xuất, những mối quan hệ này chuyển thành sự ràng buộc. Khi đó đến giai đoạn cách mạng xã hội. Với sự thay đổi nền tảng kinh tế toàn bộ thượng tầng kiến trúc mênh mông được chuyển biến ít nhiều nhanh chóng hơn”.

“Không có trật tự xã hội nào trước nay biến mất trước tất cả các lực lượng sản xuất vì có chỗ trong đó, đã và đang phát triển, và những quan hệ sản xuất cao hơn không hề xuất hiện trước các điều kiện vật chất của sự tồn tại của chúng đã trưởng thành trong lòng của xã hội cũ... Quan hệ sản xuất giai cấp tư sản

"Kim tự tháp xã hội" của Marx trong đó cấu trúc xã hội có được những thực tế cơ bản của sản xuất kinh tế từ nguồn gốc là hình thức đối kháng sau cùng, nhưng cũng là hình thức tiến trình sản xuất của xã hội - tính chất đối kháng không chỉ theo chiều hướng đối kháng cá nhân, mà còn là sự đối kháng phát sinh từ những điều kiện bao quanh đời sống cá nhân trong xã hội, đồng thời các lực lượng sản xuất phát triển trong lòng xã hội tư sản hình thành những điều kiện vật chất đối với giải pháp cho sự đối kháng ấy”. (Critique of Political Economy, trang 20-21).

Dĩ nhiên, tất cả những điều này không gì khác hơn là lý thuyết kinh tế học, đây là thuyết lịch sử, chính trị học cũng như xã hội học. Tuy nhiên, tác phẩm vĩ đại nhất của Marx, Capital, rõ ràng là sự phân tích chủ nghĩa Tư bản, chứ không phải là chủ nghĩa xã hội hay chủ nghĩa cộng sản. Dù sao, sự hiểu biết toàn bộ các động lực của sự phân tích ấy sẽ cực kỳ khó khăn khi chưa nhận thức về thuyết của Marx thay đổi xã hội xoay chuyển như thế nào.


LUẬT MINH KHUÊ (Sưu tầm)