1. Ý nghĩa hệ tư tưởng quốc gia

Trong mọi xã hội, hệ tư tưởng quốc gia là cơ sở, nên tảng của mọi hệ thống pháp luật, của mọi chính sách pháp luật.

Hệ tư tưởng có ý nghĩa rất quan trọng trong xã hội. Hoàn toàn đúng đắn khi khẳng định rằng, trong lịch sử phát triển của xã hội loài người, hệ tư tưởng bao giờ cũng đóng vai trò rất quan trọng.

Ớ mọi thời đại lịch sử và trong mọi nền văn minh, hệ tư tưởng quyết định phần lớn mọi quá trình diễn ra trong xã hội, xác định trước chính sách của nhà nước, hành vi của quần chúng, của các nhóm xã hội và của mọi cá nhân cụ thể trong những tình huống khác nhau, ở mức độ như nhau cả trong các giai đoạn của các cuộc cách mạng và của những biến đổi xã hội cơ bản, lẫn trong thời kỳ phát triển ổn định và không có xung đột lớn trong xã hội.

Việc đánh giá thấp vai trò và vị trí của hệ tư tưởng trong hệ thống các yếu tố tác động đến các quá trình chính trị, kinh tế, xã hội và các quá trình khác, từ các quá trình toàn cầu cho đến các quá trình khu vực, các quá trình quốc gia là biểu hiện hoặc là của sự thiển cận, hoặc là của sự thiếu lương tâm khoa học. Chính sách đối nội và chính sách đối ngoại của mọi quốc gia, chế độ chính trị, hình thức chính thê’ và chế độ nhà nước, tính chất của các quan hệ xã hội trong mỗi quốc gia bao giờ cũng chịu sự ảnh hưởng cơ bản của các học thuyết tư tưởng thống trị trong xã hội đó.

2. Ý nghĩa về bản chất và nội dung của hệ tư tưởng quốc gia

Vấn đề về bản chất và nội dung của hệ tư tưởng quốc gia có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với chính sách pháp luật, bởi vì, chính sách pháp luật được thực hiện chính trong phạm vi của hệ tư tưởng đó, dựa trên hệ tư tưởng đó và cụ thể hóa hệ tư tưởng đó. Do đó, cần phải khẳng định rằng, hệ tư tưởng quốc gia và chính sách pháp luật có mối liên hệ chặt chẽ với nhau và việc nghiên cứu chính sách pháp luật không thê thiếu được những hiểu biết về hệ tư tưởng quốc gia.

Nghiên cứu lịch sử phát triển các tư tưởng cho thấy, trong mọi xã hội có một số lượng nhất định các hệ thống giá trị hoặc các hệ thống tư tưởng, các hệ thống ý thức hệ khác nhau là hoàn toàn hiển nhiên. Các hệ thống đó có thể ở trong trạng thái đấu tranh cạnh tranh rất căng thẳng và không thể hòa hoãn với nhau, có thể cùng tồn tại, nhưng về mặt thực tế, không tương giao, không tương hợp với nhau, mà tìm cách thức tác động lẫn nhau rất lớn, có thể cùng tồn tại trên cơ sở của những thỏa hiệp nhất định. Tính chất xã hội của hệ tư tưởng xã hội thể hiện ở chỗ, nó bao giờ cũng phản ánh các giá trị, các lợi ích của các nhóm và các tầng lớp xã hội nhất định. Do vậy, không phải ngẫu nhiên mà các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác viết một cách đầy đủ, cụ thê’ về tính giai cấp của hệ tư tưởng.

3. Quan điểm, các quan niệm, các giá trị, các đánh giá của các hệ tư tưởng xã hội

Điều này thể hiện ở chỗ, các quan điểm, các quan niệm, các giá trị, các đánh giá, các quy phạm, v.v. chứa đựng trong hệ tư tưởng, tất yếu, phù hợp với các nhu cầu và các lợi ích của các giai cấp nhất định.

Tất nhiên, tất cả các hệ tư tưởng của một xã hội hoặc của một quốc gia nhất định được đặc trưng bởi tính tương đồng của những giá trị mang tính bản chất sâu sắc nhất, vốn có của xã hội đó; đó là một loại thỏa hiệp của tất cả các nhóm xã hội.

Tất cả các hệ thống tư tưởng, cho dù có những khác biệt cơ bản, đều vận động trong lĩnh vực giá trị tư tưởng thống nhất của xã hội đó, được nhà nước ủng hộ và được thể chế hóa. Thực tiễn cho thấy, những người bảo thủ và những người đảng viên công đảng, những người đảng viên Đảng Cộng hòa và những người đảng viên Đảng Dân chủ, những người đảng viên Đảng Dân chủ - Xã hội và những người đảng viên Đảng Kitô giáo - tất cả họ, theo cách của mình, đều chấp nhận các giá trị và các mục tiêu nền tảng đặc trưng cho xã hội đó và cho nhà nước trong xã hội đó (theo A.I. Aleksandrov: Chính sách hình sự và tô'tụng hình sự của Nhà nước Nga: Lịch sử, hiện tại, viễn cảnh, vấn đê, Nxb. Đại học Tổng hợp quốc gia Xanh Pêtecbua, 2003).

Sự khác nhau trong các cương lĩnh của các đảng phái chính trị hợp pháp và của các phong trào chính trị xã hội phần lớn được thể hiện trong chiến thuật và trong một số sắc thái của mục tiêu kinh tế - xã hội. Ở đây, nhà nước không điều chỉnh chi tiết các sắc thái nào đó trong các quan hệ giữa các đảng phái và bên trong các đảng phái, bởi vì, sự hiện có các giá trị và tư tưởng được các đảng phái đó công nhận tự bản thân nó đã điều chỉnh hoạt động chính trị của các đảng phái đó.

Trong điều kiện xã hội phát triển ổn định nhà nước không gặp khó khăn khi tuyên bố và khẳng định tầm quan trọng của hệ tư tưởng, bởi vì, đối với phần lớn dân cư hệ tư tưởng đó hoàn toàn là cái gì đó thông thường, tự mình là tất nhiên. Giá trị của cuộc sống con người, sự bình yên xã hội, các điều kiện sống xứng đáng của con người, khả năng bảo đảm tương lai cho trẻ em, lòng tự hào về Tổ quốc, V.V., tất cả những điều đó không có bất kỳ đảng phái chính trị nào, phong trào chính trị - xã hội nào, tổ chức xã hội nào tranh cãi và đều thừa nhận là những giá trị chung của xã hội. Do đó, cần hiểu rằng, hệ tư tưởng của quốc gia thống nhất, tích hợp, liên kết tất cả các đảng phái chính trị, các phong trào chính trị - xã hội, các tô chức xã hội và biến các đảng phái, các phong trào, các tổ chức đó thành các yếu tố của một hệ thống thống nhất, làm cho chúng không đối lập và đấu tranh vói nhau mà là ảnh hưởng lẫn nhau và tìm kiếm sự hợp tác, đồng thuận, xác lập các quy tắc trò chơi, cũng như bác bỏ các khẩu hiệu và hành động cực đoan không thể chấp nhận được (theo A.I. Aleksandrov: Chính sách hình sự và tô' tụng hình sự của Nhà nước Nga: Lịch sử, hiện tại, viễn cảnh, vấn đê, Sđd).

Do đó, hoàn toàn đúng khi kết luận rằng, chủ thể của hệ tư tưởng quốc gia là toàn thể dân cư của quốc gia, những người đại diện của tất cả các nhóm xã hội, các tầng lớp, các giai cấp, v.v. hiện có trong quốc gia. Hệ tư tưởng quốc gia là cộng đồng tư tưởng chung thống nhất, phản ánh các lợi ích của quốc gia.

Những người đại diện thể hiện hệ tư tưởng quốc gia là các thiết chế nhà nước, các cơ quan quyền lực nhà nước, những người lãnh đạo quốc gia.

4. Bàn luận về vai trò người đại diện

Vấn đề còn tranh luận là vấn đề các đảng chính trị có khả năng thể hiện với tư cách đó hay không? Bởi vì, mọi đảng phái chính trị chỉ phản ánh các lợi ích của các nhóm và các tầng lớp xã hội nhất định, và như tên gọi "đảng phái", nó chỉ có khả năng đại diện cho lợi ích của một bộ phận xã hội có ý nghĩa lớn hơn hoặc ít hơn.

Nhưng khi nắm quyền lực, về mặt thực tế, đảng cầm quyền trong xã hội dân chủ bao giờ cũng buộc phải xây dựng và thực thi chính sách phù hợp với các lợi ích của toàn xã hội hoặc của phần lớn xã hội và tương hợp với các nhu cầu, các lợi ích và các mục tiêu nền tảng của xã hội. Nếu như chính sách của đảng cầm quyền chỉ phản ánh các lợi ích nhóm cục bộ và khép kín trong các lợi ích đó thì chính sách đó có khả năng làm mất đi cơ sở xã hội và sự ủng hộ từ phía dân cư đối với đảng cầm quyền. Nghiên cứu thực tiễn chính trị cho thấy, trong trường hợp như vậy, đảng cầm quyền thường phải điều chỉnh chính sách, điều chỉnh các khẩu hiệu và các nhiệm vụ thực tiễn làm sao để chính sách của đảng cầm quyền phản ánh được các lợi ích của toàn xã hội hoặc của phân lớn xã hội.

Do đó, có thể kết luận rằng, trong nhà nước dân chủ, đảng chính trị cầm quyền ở mức độ nhiều hoặc ít, nhưng bao giờ cũng là người đại diện hệ tư tưởng quốc gia và buộc phải như vậy, bởi do chính lôgic của việc thực hiện quyền lực chính trị quy định.

Trong nhà nước pháp quyền dân chủ, hệ tư tưởng quốc gia thể hiện tập trung trong hệ tư tưởng "pháp luật quốc gia" - hệ tư tưởng dựa trên các giá trị nền tảng chung của xã hội loài người. Do đó, có thê’ nói hệ tư tưởng pháp luật quốc gia là hệ tư tưởng quốc gia.

Ngoài thuật ngữ "hệ tư tưởng quốc gia" trong khoa học còn sử dụng thuật ngữ "hệ tư tưởng chính trị".

5. Sự ra đời hệ tư tưởng chính trị

Hiện nay có những quan điểm khác nhau về thời điểm ra đời của hệ tư tưởng chính trị.

Một số nhà nghiên cứu cho rằng, sự xuất hiện của hệ tư tưởng chính trị chỉ diễn ra vào nửa đầu thế kỷ XIX, vào thời gian xuất hiện các đảng phái chính trị. Khi cuộc đấu tranh giữa các đảng phái chính trị diễn ra, các đảng phái chính trị mới thực hiện và hoàn thiện các kỹ năng, kỹ thuật tác động đến cử tri, các phương pháp và biện pháp ảnh hưởng đến ý thức quần chúng được áp dụng rộng rãi.

Tuy nhiên, có thể nhận thấy rằng quan điểm này không họp lý, bởi vì, đầu thế kỷ XIX là giai đoạn hình thành nên các đảng chính trị kiểu hiện đại với tư cách là các chủ thể của chính trị và chỉ là một loại chủ thể của hệ tư tưởng với các kiểu hệ tư tưởng và thế giới quan nhất định đặc trưng cho chúng mà thôi.

Cần phân biệt thời điểm ra đời của hệ tư tưởng chính trị với sự ra đời của các đảng phái chính trị kiểu hiện đại.

Hệ tư tưởng chính trị với tư cách một hiện tượng của đời sống chính trị xuất hiện sớm hơn rất nhiều so vói các đảng phái chính trị hiện đại. Nó xuất hiện cùng với sự xuất hiện của chính nhà nước và các thành tố của hệ tư tưởng vốn có của nhà nước. Nếu như nhận thức về hệ tư tưởng là hệ thống các giá trị tạo thành cơ sở, nền tảng của hành vi chính trị, thì ngay cả sự xuất hiện của chính trị và hoạt động chính trị với tư cách như vậy cũng đòi hỏi phải có tính động cơ hóa và sự lập luận cho hoạt động này hay hoạt động khác. Do đó, chính sự kiện nhà nước xuất hiện với tư cách là điều kiện và hình thức tổ chức đời sổng chính trị và quyền lực chính trị đòi hỏi phải có cả sự xuất hiện của hoạt động tư tưởng do cả nhà nước lẫn các chủ thể khác của đời sống chính trị thực hiện.

Như vậy, quan điểm quy nguồn gốc của hệ tư tưởng quốc gia về các giai đoạn ban đầu của sự xuất hiện nhà nước mang tính khoa học và lý luận hợp lý hơn.

Nghiên cứu lịch sử tư tưởng cho thấy, các nhà triết học cổ đại đã viết rất đầy đủ, chi tiết về vai trò của các tư tưởng trong đời sống nhà nước, về sự cần thiết của việc giáo dục mọi công dân tinh thần trung thành với Tổ quốc, tính thân hy sinh quên mình. Chẳng hạn, các kiểu tư tưởng quốc gia khác nhau một cách cơ bản ở Aten và xứ Sparta, trong Nhà nước Aten, các đặc điểm cá nhân làm cơ sở cho việc quy định pháp luật là tính tích cực chính trị và văn hóa chính trị của công dân, còn ở xứ Sparta, các đặc điểm cá nhân làm cơ sở cho việc quy định pháp luật là các phẩm chất quân sự sâu sắc.

Do vậy, có thể kết luận rằng, chính hệ tư tưởng quốc gia là một loại hệ tư tưởng chính trị đầu tiên về mặt lịch sử - hệ tư tưởng xuất hiện từ thời điểm xuất hiện đời sống chính trị, quyền lực chính trị và nhà nước với tư cách là điều kiện không thể thiếu của chúng.

Các chủ thể khác của chính trị, của chính sách và của các hệ tư tưởng tương ứng với các chủ thể đó xuất hiện muộn hơn, theo mức độ của sự gia tăng phân hóa xã hội và của việc những người đại diện của các nhóm xã hội khác nhau nhận thức được sự phân hóa đó, của sự xuất hiện tự ý thức xã hội (hoặc có thể là tự ý thức giai cấp) và của sự hình thành các hệ tư tưởng và giá trị nhất định phù hợp với các lợi ích của chúng. Với tư cách là hạt nhân, trung tâm của hệ thống chính trị trong mọi xã hội, nhà nước là chủ thể quan trọng nhất của chính sách, trong đó có chính sách pháp luật và hệ tư tưởng của nó đóng vai trò, vị trí lớn hơn so với các tư tưởng của tất cả các chủ thể khác: các đảng chính trị, các phong trào xã hội, các tổ chức xã hội và các tổ chức khác, V.V..

Cần lưu ý rằng, có rất nhiều thuật ngữ được những người nghiên cứu khác nhau sử dụng để xác định hiện tượng đó. Những thuật ngữ thường được sử dụng nhiều nhất trong các thuật ngữ đó là: hệ tư tưởng quốc gia (nhà nước), hệ tư tưởng xã hội chung, hệ tư tưởng dân tộc (quốc gia), hệ tư tưởng quốc gia - dân tộc, tư tưởng dân tộc, tư tưởng dân tộc chung, tư tưởng quốc gia - dân tộc và các thuật ngữ khác. Thông thường, các thuật ngữ đó được sử dụng tương đồng, bởi vì, nếu như không có sự thống nhất hoàn toàn thì cũng có sự gần gũi, tương đồng giữa nhiều thuật ngữ trong số các thuật ngữ đó. Tất cả các thuật ngữ đó, như xuất phát từ nội dung ngữ nghĩa của các thuật ngữ nói ở trên, đều phản ánh các hệ tư tưởng nào đó vốn có trong cộng đồng chính trị - lãnh thổ hình thành nên nhà nước nào đó hoặc ít nhất vốn có của tộc người nào đó trong nhà nước đó.

Các thuật ngữ đó được hợp thành hai khối: khối thứ nhất tạo thành thuật ngữ thống nhất "hệ tư tưởng", khối thứ hai tạo thành thuật ngữ "tư tưởng" với những định nghĩa khác nhau, đôi khi trùng nhau, về mặt thực tế, cần thừa nhận sự tồn tại của cả các hệ tư tưởng, lẫn các tư tưởng trong các thời kỳ lịch sử khác nhau và ở các quốc gia khác nhau.

Việc khẳng định sự tồn tại của một hệ tư tưởng theo đúng nghĩa của nó dưới một dạng nào đó hoặc việc bác bỏ sự tồn tại của một hệ tư tưởng nào đó là rất phức tạp và điều đó được giải thích bởi mức độ cấu thành chưa đầy đủ của nó. Hệ tư tưởng có thể tồn tại ở những mặt văn hóa chính trị khác nhau, có thê’ là vô hình hoặc có cấu trúc rõ ràng, mang tính quy phạm khác nhau - từ tính động cơ đạo đức sâu sắc đến sự bắt buộc của nhà nước. Nhưng hoàn toàn không thể nghi ngờ rằng, mọi quốc gia thông qua các chế định của mình để phát triển các giá trị hoặc các hệ thống giá trị nhất định vói tư cách là điều kiện tồn tại của nó và là công cụ tác động đến các công dân của mình. Không thể xây dựng được một nhà nước mạnh nếu thiếu việc giáo dục công dân tính thần yêu nước, cảm giác thấy được ý nghĩa hoạt động của từng con người cụ thể trong đời sống đất nước, trách nhiệm cùng tham gia giải quyết những vấn đề của dân tộc mình, và các nhiệm vụ đó cũng là chức năng của hệ tư tưởng.

T. Parsons - một trong những người sáng lập ra lý thuyết hành vi và trường phái cấu trúc - chức năng trong xã hội học, coi hành vi con người là tổng thể các hệ thống xã hội, văn hóa, cá nhân và cơ thể. Tác giả này cho rằng, hệ thống xã hội là tổng cộng các vai trò cá nhân hình thành nên một kiểu tính tập thể nhất định được điều chỉnh bằng các quy phạm và các giá trị tương ứng. Hệ thống văn hóa là các mô hình giá trị của các khách thể được biểu hiện thông qua các biểu tượng và các dấu hiệu. Nhưng cả hệ thống xã hội lẫn hệ thống văn hóa, suy cho cùng, đều được quy định bởi các giá trị của xã hội đó. Các giá trị tiên nghiệm là cơ sở, nền tảng của sự vận động của mọi cơ thê’ xã hội, xác định tính chất và các định hướng phát triển của nó. Do đó, các giá trị của mọi quốc gia, trong đó có các giá trị được quốc gia đó phát triển có ý thức, nếu như theo lôgic của T. Parsons, dưới hình thức hệ tư tưởng quốc gia phần lớn xác định các quá trình chính trị - xã hội, văn hóa - xã hội, kinh tế - xã hội và các quá trình khác diễn ra trong quốc gia đó.

Trên đây là nội dung Luật Minh Khuê sưu tầm và biên soạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Luật Minh Khuê (Sưu tầm và Biên soạn).