Khách hàng: Xin chào Luật sư. Luật sư cho tôi biết về nội dung của tư tưởng quản lý trong trường phái quan hệ con người và Thuyết quản lý của Mary Parker Follet.

Xin cảm ơn Luật sư!

Trả lời:

1. Trường phái quan hệ con người

Qua những thuyết thuộc trường phái cổ điển thịnh trị một thời, người ta thấy có những hạn chế từ cách tiếp cận mang tính cơ giới về con người tách rời quan hệ xã hội qua tư tưởng “con người kinh tế”.

Nghiên cứu thực nghiệm ở một nhà máy điện tại Chicago (Mỹ) năm 1942, người ta rút ra kết luận là việc tăng năng suất lao động không chỉ phụ thuộc các điều kiện lao động và chế độ nghỉ ngơi… mà còn chịu sự chi phối bởi những động cơ tâm lý đối với hành vi của con người và bầu không khí trong tập thể lao động, với những quan hệ hợp tác – xung đột trong quá trình sản xuất. Tác phong xử sự và sự quan tâm của người quản lý đến tình hình sức khoẻ, hoàn cảnh riêng tư cùng những nhu cầu tinh thần của người lao động thường có ảnh hưởng lớn đến thái độ và kết quả lao động.

Một trường phái quản lý mới xuất hiện, gọi là trường phái quan hệ con người, hoặc trường phái tác phong. Những người mở đường là Hugo Munsterbeg với tác phẩm “Tâm lý học và hiệu quả công nghiệp” (1913); Mary Parker Folletvới các tác phẩm “Nhà nướcc mới” (1920), “Kinh nghiệm sáng tạo”…; Elton Mayor với ý niệm “con người xã hội” thay vì “con người thuần lý kinh tế”; Abraham Maslow với lý thuyết về năm cấp nhu cầu của người lao động (gồm: nhu cầu vật chất – sinh lý, nhu cầu an toàn, nhu cầu xã hội, nhu cầu được tôn trọng và nhu cầu tự hoàn thiện bản thân); Herbert Simon với thuyết hành vi trong quản lý…

Tư tưởng quản lý của trường phái này dựa trên những thành quả của tâm lý học, coi trọng yếu tố con người và quan hệ xã hội; đưa ra quan niệm “quản lý là hoàn thành công việc thông qua các người khác”; với các khái niệm “công nhân tham gia quản lý”, “người lao động coi doanh nghiệp như là nhà của mình”, ” đồng thuận và dân chủ giữa chủ và thợ”, “hài hòa lợi ích”,… Doanh nghiệp được coi là một hệ thống xã hội; động lực lao động không chỉ là lợi ích vật chất mà còn là tâm lý xã hội và ảnh hưởng của tập thể lao động; quản lý không chỉ bằng quyền lực của tổ chức mà còn bằng tác phong điều hành.

Đó là một bước tiến về chất trong quản lý. Tuy nhiên, nó chưa thay thế hẳn tiền đề “con người thuần lý kinh tế”; con người vẫn bị khép kín hướng nội trong hệ thống mà chưa quan tâm đến yếu tố ngoại lai, do đó chưa lý giải được đầy đủ nhiều hiện tượng trong thực tiễn quản lý.

Sau đây chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về thuyết quản lý của Mary Parker Follet (1868 – 1933).

>> Xem thêm:  Quản lý là gì ? Khái niệm, vai trò chức năng của người quản lý ?

2. Mary Parker Follett

Mary Parker Follett (03/ 9/1868 – 18/12/1933) là nhân viên xã hội, tư vấn quản lý và tiên phong trong lĩnh vực lý thuyết tổ chức và hành vi tổ chức. Cùng với Lillian Gilbreth, Mary Parker Follett là một trong hai người phụ nữ có kinh nghiệm quản lý tuyệt vời trong những ngày đầu của lý thuyết quản lý cổ điển. Follett được biết đến như là "mẹ đẻ của khoa học quản trị hiện đại".

Mary Parker Follett sinh ra ở Quincy, Massachusetts, vào ngày 3 tháng 9 năm 1868. Bà học tại Học viện Thayer ở Braintree, Massachusetts, nơi bà ghi công một trong những giáo viên của mình đã truyền cảm hứng cho nhiều ý tưởng sau này. Năm 1894, bà đã sử dụng thừa kế của mình để nghiên cứu tại Hiệp hội các trường Đại học Hướng dẫn bộ của phụ nữ, được tài trợ bởi Đại học Harvard, và sau đó hoàn thành một năm học tại Newnham College ở Cambridge, Anh, vào năm 1890.

Năm 1898, Follett tốt nghiệp triệu tập kiêm laude từ Radcliffe. Nghiên cứu của bà tại Radcliffe được xuất bản vào năm 1896 và một lần nữa vào năm 1909 với tư cách là "Chủ tịch Hạ viện".

Follett bắt đầu làm việc tại Roxbury với tư cách là một nhân viên xã hội tình nguyện vào năm 1900 tại Roxbury Neighborhood House ở Boston. Tại đây, bà đã giúp tổ chức các hoạt động giải trí, giáo dục và xã hội cho các gia đình nghèo và cho các trẻ em trai và trẻ em gái đi làm.

Năm 1908, Follett trở thành chủ tịch của Ủy ban Liên đoàn Phụ nữ Thành phố về việc mở rộng sử dụng các tòa nhà trường học, một phần của phong trào mở cửa trường học ngoài giờ để cộng đồng có thể sử dụng các tòa nhà cho các hoạt động. Năm 1911, bà và những người khác đã mở Trung tâm Xã hội của Trường Trung học Đông Boston. Bà cũng giúp thành lập các trung tâm xã hội khác ở Boston.

Năm 1917, Follett đảm nhận vị trí phó chủ tịch của Hiệp hội Trung tâm Cộng đồng Quốc gia, và năm 1918, bà xuất bản cuốn sách về cộng đồng, dân chủ và chính phủ, "Nhà nước mới".

Follett cũng đã xuất bản một cuốn sách khác là "Trải nghiệm sáng tạo" vào năm 1924 với nhiều ý tưởng hơn về sự tương tác sáng tạo diễn ra giữa mọi người trong các quy trình nhóm. Bà ghi lại dấu ấn công việc của mình trong phong trào nhà định cư với nhiều hiểu biết sâu sắc.

Bà đã ở chung nhà ở Boston trong 30 năm với Isobel L. Briggs. Năm 1926, sau cái chết của Briggs, Follett chuyển đến Anh sinh sống, làm việc và theo học tại Oxford. Năm 1928, Follett đã tham khảo ý kiến ​​của Hội Quốc Liên và Tổ chức Lao động Quốc tế ở Geneva. Bà sống ở London trong một thời gian với Dame Katharine Furse của Hội Chữ thập đỏ.

Trong những năm cuối đời, Follett trở thành một nhà văn và giảng viên nổi tiếng trong thế giới kinh doanh. Bà là giảng viên tại Trường Kinh tế London vào năm 1933, và bà cũng là người đưa ra lời khuyên cá nhân cho Tổng thống Theodore Roosevelt về quản lý tổ chức.

>> Xem thêm:  Thuyết nhân trị là gì ? Tìm hiểu về học thuyết nhân trị

3. Các lý thuyết quản lý

Follett ủng hộ việc nhấn mạnh quan hệ con người ngang bằng với nhấn mạnh hoạt động của máy móc trong quản lý. Công việc của bà tương phản với "quản lý khoa học" của Frederick W. Taylor và được Frank và Lillian Gilbreth thúc đẩy, trong đó nhấn mạnh đến các nghiên cứu về thời gian và chuyển động. Những cách tiếp cận này không tính đến tâm lý con người và cách thức mà nhu cầu công việc có thể mâu thuẫn với nhu cầu cá nhân; thay vào đó, họ coi các hoạt động của con người như các quy trình máy móc có thể được tối ưu hóa để tạo ra kết quả tốt hơn.

Không giống như những người cùng thời, Follett nhấn mạnh tầm quan trọng của mối quan hệ tương tác cá nhân giữa quản lý và người lao động. Bà ấy xem xét quản lý và lãnh đạo một cách tổng thể, đưa ra các phương pháp tiếp cận hệ thống hiện đại; bà xác định một nhà lãnh đạo là "người nhìn thấy toàn bộ hơn là cái riêng". Follett là một trong những người đầu tiên (và trong một thời gian dài là một trong số ít) tích hợp ý tưởng xung đột tổ chức vào lý thuyết quản lý, và đôi khi được gọi là "mẹ đẻ của việc giải quyết xung đột". Follett tin rằng xung đột, thay vì thể hiện nhu cầu thỏa hiệp, thực sự có thể là cơ hội để mọi người phát triển các giải pháp sáng tạo mà họ không thể tự mình nghĩ ra. Bằng cách này, bà đã thúc đẩy ý tưởng về sự có đi có lại trong các cơ cấu tổ chức.

Trong bài luận "Quyền lực" năm 1924, Follett đã đặt ra các thuật ngữ "quyền lực" và "quyền lực với" để phân biệt quyền lực cưỡng chế với việc ra quyết định có sự tham gia, cho thấy "quyền lực với" có thể lớn hơn "quyền lực" như thế nào.

Bà nhận xét: "Bây giờ chúng ta không thấy rằng trong khi có nhiều cách để đạt được một sức mạnh bên ngoài, một quyền lực độc đoán thông qua sức mạnh thô bạo, thông qua thao túng, thông qua ngoại giao - sức mạnh thực sự luôn là thứ thừa hưởng trong hoàn cảnh".

Mary Parker Follett qua đời năm 1933 trong một chuyến thăm tới Boston. Bà đã được vinh danh rộng rãi vì đóng góp của mình với Trung tâm Trường học Boston, bao gồm cả việc quảng bá chương trình sau giờ làm việc cho cộng đồng.

Sau khi Follett qua đời, các bài báo và bài phát biểu của bà từ năm 1942 đã được biên soạn và xuất bản trong "Dynamic Administration". Vào năm 1995, Pauline Graham đã biên tập một bộ sưu tập các bài viết của bà trong "Mary Parker Follett: Prophet of Management". "The New State" được in trong một ấn bản mới vào năm 1998 với tài liệu bổ sung hữu ích.

Năm 1934, Follett được Radcliffe vinh danh là một trong những sinh viên tốt nghiệp xuất sắc nhất của trường.

Công việc của bà hầu như bị lãng quên ở Mỹ, và vẫn bị bỏ quên phần lớn trong các nghiên cứu về sự phát triển của lý thuyết quản lý, bất chấp sự khen ngợi của các nhà tư tưởng gần đây như nhà tư vấn quản lý Peter Drucker, người đã gọi Follett là "nhà tiên tri của quản lý" và "người thầy của ông ấy". Ý tưởng của Follett cũng có ảnh hưởng mạnh mẽ đến các nhà tâm lý học như Kurt Lewin, người nghiên cứu động lực của nhóm, và Abraham Maslow, người nghiên cứu nhu cầu và sức khỏe của con người.

>> Xem thêm:  Dịch vụ luật sư tư vấn giải quyết tranh chấp tại tòa án

4. Nội dung Thuyết quản lý Follet

Thuyết quản lý Follet thể hiện các nội dung chủ yếu sau:

a. Giải quyết mâu thuẫn

M.P.Follet quan niệm mâu thuẫn không phải là sự tranh chấp mà là sự khác biệt về ý kiến. Nó không xấu và cũng không tốt, tất cả tuỳ thuộc sự nhận biết của nhà quản lý để có thể sử dụng hay loại trừ (giống như hiện tượng ma sát trong vật lý).

Có 3 phương pháp chủ yếu để lựa chọn khi giải quyết mâu thuẫn, đó là: áp chế, thỏa hiệp và thống nhất. Áp chế đem lại thắng lợi dễ dàng cho nhà quản lý, nhưng không làm cho người lao động tự nguyện chấp nhận, để lại hậu quả lâu dài. Thỏa hiệp thường được các Công đoàn thực hiện song chỉ là chấp nhận tạm thời. Phương pháp thống nhất là tốt nhất vì nó tạo ra giá trị phụ trội lớn hơn tổng giá trị của các cá thể, giải quyết được triệt để mâu thuẫn. Cần công khai mâu thuẫn, sau đó xem xét ý muốn của mỗi bên, tìm ra “tiếng nói chung” như là nhu cầu chung cần đạt.

b. Ra mệnh lệnh

Ra mệnh lệnh quản lý là việc cần thiết, song không coi đó là sự áp đặt theo “chủ nghĩa ông chủ” khiến người chấp hành thụ động thiếu tự nguyện. Ra mệnh lệnh phải đạt tới sự thống nhất với thái độ phù hợp tâm lý đối tượng, trong đó họ thấy sự cần thiết và phần trách nhiệm chung, không bị thúc ép miễn cưỡng.

c. Quyền lực và thẩm quyền

Phân biệt quyền lực do tổ chức “ban” cho với thẩm quyền (quyền hạn) được sử dụng để thực thi chức năng, nhiệm vụ cần tiến hành. Nhà quản lý cần tập trung vào thẩm quyền (quyền lực liên kết) thay vì quyền lực tuyệt đối, gắn với chức năng thay vì chức vị.

d. Trách nhiệm tích luỹ

Đó là trách nhiệm chung mà mỗi cấp quản lý dự phần trong việc ra quyết định và người thừa hành ý thức được. Cần tăng cường các mối quan hệ ngang (phối hợp – cộng tác) thay vì chỉ điều khiển – phục tùng.

e. Lãnh đạo và điều khiển

Quyền điều khiển thuộc về người lãnh đạo (đứng đầu). Người đó phải có hiểu biết sâu rộng nhất về hoàn cảnh cần có quyết định; phải có năng lực thuyết phục; biết tạo điều kiện và rèn luyện cho cấp dưới biết cách tự điều khiển, tự ra quyết định và chịu trách nhiệm.

>> Xem thêm:  Công ty luật, Văn phòng luật sư tư vấn luật miễn phí tại Đắk Nông

5. Kết thúc vấn đề

Nhìn chung, thuyết quản lý này quan tâm đến yếu tố tâm lý trong việc ra quyết định và điều hành các hoạt động; không lạm dụng quyền lực. Song nó mới chỉ đề cập một số nội dung cụ thể, chưa đủ khái quát để trở thành một thuyết hoàn chỉnh.

Trên đây là nội dung Luật Minh Khuê sưu tầm và biên soạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Luật Minh Khuê (Sưu tầm và Biên soạn)

>> Xem thêm:  Công ty luật, Văn phòng luật sư tư vấn luật miễn phí tại Gia Lai

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Các nội dung chính của Thuyết quản lý Follet?

Trả lời:

Các nội dung chính của Thuyết quản lý Follet như sau:

- Giải quyết mâu thuẫn

- Ra mệnh lệnh

- Quyền lực và thẩm quyền

- Trách nhiệm tích luỹ

- Lãnh đạo và điều khiển

Câu hỏi: Tư tưởng quản lý của trường phái quan hệ con người?

Trả lời:

Tư tưởng quản lý của trường phái này dựa trên những thành quả của tâm lý học, coi trọng yếu tố con người và quan hệ xã hội; đưa ra quan niệm “quản lý là hoàn thành công việc thông qua các người khác”; với các khái niệm “công nhân tham gia quản lý”, “người lao động coi doanh nghiệp như là nhà của mình”, ” đồng thuận và dân chủ giữa chủ và thợ”, “hài hòa lợi ích”,…

Câu hỏi: Nội dung “Ra mệnh lệnh” được hiểu như thế nào?

Trả lời:

Ra mệnh lệnh quản lý là việc cần thiết, song không coi đó là sự áp đặt theo “chủ nghĩa ông chủ” khiến người chấp hành thụ động thiếu tự nguyện. Ra mệnh lệnh phải đạt tới sự thống nhất với thái độ phù hợp tâm lý đối tượng, trong đó họ thấy sự cần thiết và phần trách nhiệm chung, không bị thúc ép miễn cưỡng.