1. Hoàn cảnh ra đời của nhà Nguyễn

Nhà Nguyễn (chữ Nôm: 茹阮, chữ Hán: 阮朝; Hán-Việt: Nguyễn triều) là triều đại phong kiến cuối cùng của Việt Nam, được thành lập và thống trị bởi dòng họ Nguyễn hùng mạnh. Triều đại nhà Nguyễn nổi lên vào thế kỷ 16 đến giữa thế kỉ 20 (1802 - 1945).Trải qua 143 năm tồn tại, triều Nguyễn là triều đại ghi dấu nhiều thăng trầm trong lịch sử , đặc biệt là cuộc xâm lược của Pháp vào giữa thế kỷ 19. Cùng nhìn lại tiến trình lịch sử triều đại nhà Nguyễn - Một trong những triều đại nổi bật nhất lịch sử Việt Nam. 

Khái quát lịch sử triều đại phong kiến cuối cùng của Việt Nam

Nguồn ảnh: sưu tầm

Năm thành lập Nhà Nguyễn:

Nhà Nguyễn (1802 - 1945) được thành lập năm 1802 sau khi vua Gia Long lên ngôi. Triều Nguyễn cũng là triều đại phong kiến cuối cùng trong lịch sử Việt Nam. Năm 1802 đến năm 1804 sử dụng quốc hiệu Nam Việt, năm 1804 đến năm 1839 sử dụng quốc hiệu Việt Nam, Đại Việt Nam, năm 1839, vua Minh Mạng đổi quốc hiệu là Đại Nam. Triều Nguyễn là một triều đại đánh dấu nhiều thăng trầm của lịch sử, đặc biệt là cuộc xâm lược của người Pháp giữa thế kỷ 19.

Tổ tiên của các vị vua nhà Nguyễn là chúa Nguyễn từ thời kỳ Trịnh - Nguyễn phân tranh. Nguyễn Phúc Ánh (Gia Long) chính là hoàng đế đầu tiên của dòng họ Nguyễn, ông tự xưng đế vào năm 1802. Nguyễn Phúc Ánh chính là cháu nội của chúa Nguyễn Phúc Khoát - vị chúa Nguyễn áp chót ở đàng trong. Sau khi gia tộc chúa Nguyễn bị quân Tây Sơn - Nguyễn Huệ lật đổ năm 1977, ông chạy trốn và bắt đầu cuộc chiến 25 năm với Tây Sơn. Nguyễn Ánh đã cầu cứu sự trợ giúp của quân Pháp, quân Thanh khiến cho Tây Sơn suy yếu.

Sau cái chết đột ngột của vua Quang Trung, Nguyễn Ánh đã giữ vững Nam Hà và đến năm 1802 đánh bại hoàn toàn Tây Sơn, lên ngôi hoàng đế, lập nên triều đại nhà Nguyễn với tên nước là Việt Nam, chọn Phú Xuân (Huế) làm kinh đô. Nhà Nguyễn là một triều đại đánh dấu nhiều thăng trầm của lịch sử. Trong đó, phải kể đến cuộc xâm lược của thực dân Pháp giữa thế kỉ 19.

Năm 1802, hậu duệ của họ Nguyễn là Nguyễn Ánh lật đổ triều Tây Sơn, lập ra triều Nguyễn. Thời kỳ đầu cầm quyền tuy có cố gắng củng cố chính quyền thống nhất, đẩy mạnh việc khẩn hoang, phát triển văn hóa song triều Nguyễn không duy tân được đất nước và khi thực dân Pháp xâm lược đã nhanh chóng đầu hàng, trong lúc nhân dân Việt Nam khắp nơi nổi dậy chống giặc.

Hoàn cảnh ra đời của Nhà Nguyễn:

Nhà Nguyễn ra đời trong bối cảnh hậu thời kỳ Trịnh - Nguyễn phân tranh diễn ra từ 1593 – 1778. Năm 1777, Nguyễn Ánh (Nguyễn Phúc Ánh) là hậu duệ của chúa Nguyễn ở Đàng Trong đã chạy thoát trước sự truy sát của quân Tây Sơn . Ông sông lưu vong ở Xiêm La và nằm gai nếm mật trong vòng 25 năm nuôi chí lớn trả thù quân Tây Sơn, đánh bại nghĩa quân Tây Sơn.

Sau khi vua Quang Trung qua đời, triều đại Tây Sơn dần trở nên suy yếu, lợi dụng thời cơ đó, Nguyễn Ánh đã huy động lực lượng tấn công nhà Tây Sơn dưới sự giúp đỡ của Xiêm La và Pháp. Năm 1802, Nguyễn Ánh tập trung lực lượng đánh chiếm Nam Hà, sau đó đánh bại nhà Tây Sơn lập nên triều Nguyễn thống nhất giang san rộng lớn từ Nam chí Bắc. Triều Tây Sơn bị lật đổ, Nguyễn Ánh lên ngôi Hoàng đế, lấy niên hiệu là Gia Long, định đô ở Phú Xuân (Huế).

Nguyễn Ánh và Lê Chiêu Thống là hai vị vua duy nhất cầu viện tới sự giúp đỡ của ngoại bang để lật đổ triều đại, chiếm lấy ngai vàng, trị vì đất nước. Bởi vậy, trong lịch sử cũng có nhiều ý kiến tỏ sự không đồng tình với hành động này của vua Nguyễn Ánh.

Trên thế giới, đầu thế kỷ XIX là thời điểm tư bản đang phát triển rực rỡ với những thể chế chính trị mang tính chất dân chủ hơn. Còn ở Việt Nam, nhà nước phong kiến triều Nguyễn đã ra đời. Đây chính là vương triều cuối cùng trong lịch sử quân chủ chuyên chế của Việt Nam. Kết thúc ở đời vua Bảo Đại năm 1945 sau cuộc Cách mạng tháng Tám thành công.

Ra đời trong bối cảnh đặc biệt, nhà Nguyễn đã trải qua rất nhiều biến cố trong khoảng thời gian tồn tại, mang nhiều thị phi như cầu viện ngoại bang, làm mất nước vào tay Pháp quốc và cũng có nhiều công lao trong việc thống nhất đất nước mở mang lãnh thổ, phát triển kinh tế. Nên khi nhìn nhận về triều đại này cần những đánh giá công tâm, khách quan vai trò của nó trong lịch sử nước Việt Nam.

Nhừng đời Vua thời Nhà Nguyễn:

Các đời vua triều Nguyễn gồm:
1.  Gia Long (1802-1820)
2. Minh Mạng (1820 – 1840)
3. Thiệu Trị (1841 – 1847)
4. Tự Đức (1847 – 1883)
5. Dục Đức (3 ngày, 1883)
6. Hiệp Hòa (6 tháng, 1883)
7. Kiến Phúc (1883 – 1884)
8. Hàm Nghi (1884 – 1885)
9. Đồng Khánh (1885 – 1888)
10. Thành Thái (1889 – 1907)
11. Duy Tân (1907 – 1916)
12. Khải Định (1916 – 1925)
13. Bảo Đại (1926 – 1945)

 

2. Các giai đoạn chính chủa lịch sử Nhà Nguyễn

2.1. Giai đoạn thứ nhất từ 1802 đến 1858: Giai đoạn độc lập tự chủ

Các vua nhà Nguyễn nắm toàn quyền quản lý đất nước, trải qua 4 đời vua, Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức. Các vị vua Nguyễn trong thời kỳ này cố gắng xây dựng Việt Nam trên nền tảng Nho giáo và bãi bỏ những cải cách tiến bộ của Tây Sơn.

Thời Minh Mạng, ở Campuchia xảy ra nhiều cuộc chiến tranh giành lãnh thổ khiến ngân khố bị sử dụng triệt để. Đến thời Tự Đức, mọi mặt của đất nước đều sa sút. Vào những năm 1850, một bộ phận trí thức Việt Nam, tiêu biểu là Nguyễn Trường Tộ, nhận thấy tình trạng trì trệ của đất nước và đòi học hỏi phương Tây để phát triển công – thương nghiệp, cải cách quân – ngoại.

Tuy nhiên, hầu hết các quan lại triều Nguyễn và các học giả đều không nhận thức được sự cần thiết phải cải cách, mở cửa đất nước nên Tự Đức không quyết tâm thực hiện những đề nghị này. Đại Nam dần trở nên trì trệ, lạc hậu và có nguy cơ bị thực dân châu Âu xâm lược.

2.2. Giai đoạn thức hai   từ 1858 - 1945: giai đoạn bị Pháp xâm lăng và đô hộ 

Kể từ khi quân Pháp đánh Đà Nẵng và kết thúc sau khi hoàng đế Bảo Đại thoái vị vào năm 1945.

Tháng 8 năm 1858, thủy quân Pháp tấn công cảng Đà Nẵng rồi tiến vào đánh chiếm Gia Định. Tháng 6 năm 1862, vua Tự Đức ký hòa ước nhượng ba tỉnh miền Đông cho Pháp.

Năm 1867, Pháp chiếm ba tỉnh miền Tây sau đây lập thành thuộc địa Nam Kỳ. Sau khi củng cố thế đứng vững chắc ở Nam Kỳ. Từ năm 1873 đến năm 1886, người Pháp đã chinh phục phần còn lại của Việt Nam thông qua các cuộc chiến tranh ở Bắc Kỳ. Cuối cùng, vào năm 1884, nhà Nguyễn chính thức công nhận quyền cai trị của Pháp đối với Việt Nam.

Người Pháp nắm quyền cai trị đất nước, còn các hoàng đế nhà Nguyễn tuy giữ được ngai vàng nhưng chỉ như những con rối. Quân Pháp có thể tự ý lập các hoàng đế nhà Nguyễn. Giai đoạn này kết thúc khi Bảo Đại tuyên bố thoái vị vào năm 1945.

Từ năm 1883, nhân dân Việt Nam tiếp tục tiến hành cuộc đấu tranh nhiều mặt để bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc, tiếp thu chọn lọc những giá trị của văn hóa phương Tây và tiến hành hàng loạt những cuộc khởi nghĩa với nhiều khuynh hướng nhằm đánh đuổi thực dân, tư bản, giành lại nền độc lập. Năm 1930, Đảng Cộng sản Đông Dương thành lập, đã đề ra cương lĩnh Cách Mạng đúng đắn. Trong 15 năm lãnh đạo nhân dân Việt Nam thực hiện cuộc Cách Mạng Tháng 8 năm 1945, đánh đổ chính quyền thực dân phong kiến, Nhà Nguyễn sụp đổ và thành lập nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, mở ra kỷ nguyên mới cho dân tộc Việt Nam. 

3. Chính sách cai trị thời Nhà Nguyễn

Tổ chức bộ máy cai trị thời nhà Nguyễn

- Quan chế và tổ chức chính quyền trung ương thời Nguyễn: Đứng đầu nhà nước là hoàng đế, nắm mọi quyền hành trong tay. Giúp hoàng đế giải quyết giấy tờ, văn thư và ghi chép có Văn thư phòng (năm 1829 đổi là Nội các). Về việc quân quốc trọng sự thì có 4 vị Điện Đại học sĩ gọi là Tứ trụ Đại thần, đến năm 1834 trở thành viện Cơ mật. Ngoài ra còn có Tông nhân phủ phụ trách các công việc của Hoàng gia. Bên dưới, triều đình lập ra 6 Bộ, đứng đầu mỗi bộ là quan Thượng thư chịu trách nhiệm chỉ đạo các công việc chung của Nhà nước, các bộ gồm: Bộ Lại, Bộ Hộ, Bộ Lễ, Bộ Binh, Bộ Hình và Bộ Công. Bên cạnh 6 Bộ còn có Đô sát viện (tức là Ngự sử đài bao gồm 6 khoa). 

 - Phân chia hành chính thời Nguyễn:

+ Năm 1802, trong khi đã quyết định Phú Xuân là quốc đô, Nguyễn Ánh vẫn tạm đặt 11 trấn phía Bắc (tương đương khu vực Bắc Bộ ngày nay) thành một Tổng trấn với tên cũ Bắc Thành, do một Tổng trấn đứng đầu.

+ Đến thời Minh Mạng, để nhất thể hóa các đơn vị hành chính trong cả nước, năm 1831–1832, nhà vua thực hiện một cuộc cải cách hành chính lớn, theo đó bỏ các tổng trấn, đổi các dinh, trấn thành tỉnh. Đây là lần đầu tiên, đơn vị hành chính tỉnh xuất hiện ở Việt Nam.

+ Đứng đầu tỉnh là Tổng đốc (mỗi người phụ trách 2–3 tỉnh và chuyên trách 1 tỉnh) và Tuần phủ (dưới Tổng đốc, phụ trách chỉ 1 tỉnh). Giúp việc có Bố chánh sứ ti lo về thuế khóa, hộ khẩu, hành chính; Án sát sứ ti lo về an ninh, luật pháp. Phụ trách về quân sự có chức lãnh binh.

+ Dưới tỉnh là phủ, huyện, châu, tổng và xã. Quan chức của triều đình chỉ phân ra tới phủ huyện, từ tổng trở xuống do người dân tự lựa chọn cử ra quản trị. Tổng gồm có vài làng hay xã, có một cai tổng và một phó tổng do Hội đồng Kỳ dịch của các làng cử ra quản lý thuế khóa, đê điều và trị an trong tổng.

+ Tính đến cuối thế kỷ 19, Việt Nam có 98 phủ bao gồm 342 huyện và châu Đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, vua Gia Long từ năm 1816 đã chính thức ra lệnh tiếp thu Hoàng Sa, cắm cờ trên đảo và đo thủy trình. Sang triều Minh Mạng, nhà Nguyễn cho xây đền, đặt bia đá, đóng cọc và trồng cây. Đội Hoàng Sa và Đội Bắc Hải được trao nhiều nhiệm vụ hơn

Quân đội Nhà Nguyễn

- Để sung binh ngạch mới, vua Gia Long cho thực hiện phép giản binh, theo hộ tịch tùy nơi mà định, lấy 3, 5 hay 7 suất định tuyển 1 người lính. Quân chính quy đóng tại kinh thành và những nơi xung yếu; các địa phương đều có lực lượng vũ trang tại chỗ làm nhiệm vụ trị an.

- Minh Mạng lấy phương Tây làm kiểu mẫu cho việc tổ chức quân đội, hướng đến việc quân cần tinh nhuệ, không cần nhiều, bỏ bớt số lượng người cầm cờ từ 40 người xuống 2 người trong đội ngũ đơn vị 1 vệ (500 người).

- Thời Tự Đức, công tác quốc phòng của nhà Nguyễn bị sa sút và có sự tương phản rõ rệt với các triều vua trước. Một trong các lý do khiến tình hình quân đội suy sút là vấn đề tài chính. Vũ khí và trang thiết bị làm mới gần như không có và trang bị bộ binh rất lạc hậu. 

Chính sách thuế khoá và lao dịch thời Nguyễn

-  Vua Gia Long đã tổ chức lại vấn đề đăng tịch, bắt buộc mỗi làng xã phải ghi vào sổ đinh trong làng số đàn ông từ 18-60 tuổi.

- Về thuế nhân đinh và thuế ruộng, nhà Nguyễn xóa bỏ tất cả chế độ thuế khóa cũ của Tây Sơn để đặt lại thuế khóa mới nặng hơn thời trước.

- Thời Minh Mạng thì định lại thuế điền, chia cả nước ra 3 khu vực để đánh thuế. Theo thống kê của bộ Hộ thì số đinh năm đầu đời Gia Long là 992.559 người, cuối đời Thiệu Trị là 1.024.380 người. Về điền thổ thì đầu đời Tự Đức có 3.398.584 mẫu ruộng và 502.672 mẫu đất.

Xin mời các bạn có thể tham khảo thêm bài viết có liên quan của chúng tôi: Các kiểu nhà nước trong lịch sử Việt Nam và Thế giới?