1. Hệ thống pháp luật hình sự thực định trong Bộ luật hình sự của năm 1985

Nếu như ta lấy sự kiện pháp điển hóa lần thứ nhất (vởi việc thông qua Bộ luật Hình sự năm 1985) làm mốc đầu tiên và sự kiện pháp điển hóa lần thứ ba (với việc thông qua Bộ luật Hình sự năm 2015) làm mốc cuối cùng trong việc phân chia toàn bộ thòi kỳ lịch sử 70 năm xây dựng và hình thành, phát triển và tiếp tục phát triển của hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam (1945-2015) ra thành hai thời kỳ nhỏ hơn thì có thể dễ dàng nhận thấy một nét đặc trưng chính tương ứng với hai thời kỳ này như sau:

a. Thời kỳ thứ nhất - 40 năm đầu (1945-1985) là thời kỳ mà hệ thống các quy phạm Phần chung và Phần riêng pháp luật hình sự nước nhà chưa được pháp điển hóa vì lúc bấy giờ các quy phạm của nó không hề có sự phân chia rõ ràng và cụ thể ra thành hai hệ thống riêng biệt (Phần chung và Phần riêng) mà chúng chỉ được phân bố rải rác trong hệ thống các văn bản pháp luật hình sự đề cập trực tiếp đến trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm riêng biệt cụ thể, vì vậy, đằng sau các thuật ngữ “hệ thống pháp luật hình sự” (ở đây không có hai từ “thực định” kèm theo).

b. Còn thời kỳ thứ hai - 30 năm tiếp theo (1985- 2015) là thời kỳ pháp luật hình sự thực định nước nhà đã được pháp điển hóa đến ba lần với việc thông qua ba Bộ luật Hình sự - Bộ luật Hình sự vào năm 1985, Bộ luật Hình sự vào năm 1999 và Bộ luật Hình sự năm 2015.

Trong thời kỳ thứ hai này, hệ thống pháp luật hình sự đã được sự phân chia cụ thể rành mạch và rõ ràng ra thành hai hệ thống khác nhau tương ứng theo hai phần (Phần chung và Phần các tội phạm tức Phần riêng) tại ba Bộ luật Hình sự đã nêu.

Vì vậy, dưới góc độ lập pháp hình sự kể từ sau năm 1985 thì đằng sau các thuật ngữ “hệ thông pháp luật hình sự” (nếu không bao gồm các văn bản pháp luật hình sự khác của các cơ quan hành pháp và tư pháp như tại Chương I) bao giờ cũng có hai từ “thực định” kèm theo để bảo đảm sự chính xác về mặt khoa học (hoặc cũng có thể gọi đó là hệ thống lập pháp hình sự).

=> Như vậy, hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam trong cả hai thời kỳ trước và sau khi pháp điển hóa đã diễn ra theo một tiến trình như sau:

- Trong thời kỳ 40 năm đầu (1945-1985) thì các nền tảng của hệ thống pháp luật hình sự của nưốc nhà đã được xây dựng nên để rồi;

- Bắt đầu từ sau khi đã được pháp điển hóa lần thứ nhất trong thòi kỳ 30 năm tiếp theo (1985-2015) đến nay nó đã lần lượt được hình thành, phát triển và tiếp tục phát triển trở thành hệ thông pháp luật hình sự thực định qua ba lần pháp điển hóa với ba Bộ luật Hình sự (các năm 1985, 1999 và 2015).

Và từ khi bắt đầu có hai từ “thực định” kèm theo sau các thuật ngữ “hệ thống pháp luật hình sự’ thành “hệ thống pháp luật hình sự thực định” thì cũng có thể gọi là “hệ thống lập pháp hình sự’ (nếu ở đây không tính cả các văn bản hướng dẫn, giải thích hay cụ thể hóa các quy phạm của các Bộ luật Hình sự do các cơ quan thuộc hai nhánh quyền hành pháp và tư pháp ban hành).

 

2. Đặc điểm lập pháp hình sự từ năm 1985

Hệ thống pháp luật hình sự thực định trong thời kỳ thứ hai tiếp theo sau khi pháp điển hóa ba lần tương ứng với ba Bộ luật Hình sự sẽ lần lượt được đề cập dưới góc độ lập pháp hình sự. Mặt khác, trên cơ sở sự phân chia thời kỳ (như đã nêu trên) thì kể từ khi Bộ luật Hình sự vào năm 1985 có hiệu lực vào ngày 01/01/1986, hệ thống pháp luật hình sự thực định nước nhà mới thực sự chính thức được gọi là hình thành (vì lúc bấy giờ các quy phạm của hệ thống đó mới bắt đầu có sự phân biệt ra thành hai phần rõ ràng riêng biệt thành Phần chung và Phần riêng) và năm 1986 cũng là mốc đầu tiên của công cuộc đổi mới đất nước đã được xác định tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (tháng 12/1986).

Như vậy, bắt đầu từ năm 1986 có thể được gọi là thời kỳ đổi mới pháp luật hình sự thực định đã được pháp điển hóa của Việt Nam với sự bắt đầu bằng việc thi hành Bộ luật Hình sự vào năm 1985 nên sẽ là hợp lý và có cán cứ khoa học, đồng thời bảo đảm sức thuyết phục và tính logic khi chúng ta sẽ đề cập việc phân tích dưới góc độ lập pháp hình sự sự hình thành của hệ thông pháp luật hình sự thực định trong Bộ luật Hình sự năm 1985 với tư cách là Bộ luật Hình sự đầu tiên của đất nước Việt Nam đã thống nhất.

 

3. Những nội dung cần nghiên cứu về pháp luật hình sự từ năm 1985

Từ năm 1985 có sự thay đổi về nhiều mặt và ở đây chúng ta sẽ phân tích những vấn đề của hệ thống pháp luật hình sự thực định sẽ được nghiên cứu dưới góc độ lập pháp hình sự để qua đó lần lượt làm sáng tỏ nội hàm các quy phạm của ba Bộ luật Hình sự Việt Nam từ năm 1985 đến bây giờ là:

a. Bộ luật Hình sự năm vào năm 1985 (theo đó với 04 lần sửa đổi, bổ sung vào các năm 1989, 1991, 1992 và 1997);

b. Bộ luật Hình sự vào năm 1999 (với 02 lần được sửa đổi bởi Luật Trưng mua trưng dụng tài sản của Nhà nước vào năm 2008 và sửa đổi, bổ sung năm 2009) và; 3) Bộ luật Hình sự năm 2015 (với lần sửa đổi, bổ sung thứ nhất năm 2017 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018).

 

4. Điểm giống nhau giữa các Bộ luật từ năm 1985 đến nay

Như vậy, các nghiên cứu các nội dung tương ứng với ba Bộ luật Hình sự sẽ có bố cục giống nhau sẽ cùng tương ứng vối 03 mục. Bắt đầu từ nghiên cứu của về Bộ luật Hình sự năm 2015 (cũng như về Bộ luật Hình sự vào năm 1999 và về Bộ luật Hình sự năm 2015) đều có các tên gọi về cơ bản giống nhau (theo đa số các thuật ngữ, chỉ ngoại lệ ba phạm trù “hình thành”, “phát triển” và “tiếp tục phát triển” tương ứng với ba Bộ luật Hình sự đã nêu) tại ba mục.

Cấu trúc như sau:

- Cấu trúc của Bộ luật Hình sự năm...;

- Sự hình thành (nếu là Bộ luật Hình sự vào năm 1985), sự phát triển (nếu là Bộ luật Hình sự vào năm 1999) hay sự tiếp tục phát triển (nếu là Bộ luật Hình sự năm 2015)..., của hệ thống Phần chung pháp luật hình sự thực định trong Bộ luật Hình sự năm...;

- Sự hình thành (nếu là Bộ luật Hình sự vào năm 1985), sự phát triển (nếu là Bộ luật Hình sự vào năm 1999) hay sự tiếp tục phát triển (nếu là Bộ luật Hình sự năm 2015)... của hệ thống Phần riêng pháp luật hình sự thực định trong Bộ luật Hình sự năm...

 

5. Những nghiên cứu khác nhau đối với ba Bộ luật hình sự từ năm 1985 đến nay

a. Với tính chất rộng lớn, đa dạng và nhiều khía cạnh của những vấn đề pháp luật hình sự thực định Việt Nam đã được pháp điển hóa nên trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi có thể đề cập việc phân tích khoa học dưới góc độ lập pháp hình sự những vấn đề mà nó có thể được coi là chủ yếu và quan trọng hơn cả thuộc hệ thống Phần chung và hệ thôhg Phần riêng trong cả ba Bộ luật Hình sự.

b. Khi nghiên cứu hệ thống pháp luật hình sự thực định Việt Nam trong Bộ luật Hình sự vào năm 1985 có thể nhận thấy rằng, Bộ luật Hình sự vào năm 1985 đã được soạn thảo hết sức công phu với tiến độ từng bước đi rất bình tĩnh, vững vàng và sự cân nhắc rất cẩn trọng, kỹ càng từng điều, từng chương hết sức chu đáo trong một khoảng thời gian soạn thảo dài gần 10 năm.

Chính vì vậy, cố luật gia lão thành Nguyễn Văn Hưởng khi viết về lịch sử ra đời của Bộ luật Hình sự của năm 1985 đã nhận xét rất đúng: “Bộ luật Hình sự được xây dựng rất chu đáo, có tính khoa học cao”, đồng thời ông còn cho biết: từ giữa những năm 1960, sự cần thiết phải xây dựng Bộ luật Hình sự đã được bàn nhiều trong Ban pháp chế Trung ương Đảng, cũng như trong các cơ quan nội chính Trung ương (Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tôì cao và Bộ Công an), rồi sau đó Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định số 172/CP ngày 05/9/1975 về việc thành lập Ban dự thảo Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự; sau khi thông qua Hiến pháp của năm 1980, Hội đồng Nhà nước đã thông qua kế hoạch 5 năm (1981-1985) xây dựng pháp luật; sau nhiều năm soạn thảo Quốc hội mới thông qua sơ bộ theo trình tự từng giai đoạn (cách nhau một năm) tương ứng vối hai phần của Bộ luật Hình sự: Phần chung được thông qua vào tháng 6/1983, Phần các tội phạm vào tháng 6/1984 và ngày 27/6/1985, Quốc hội đã chính thức thông qua Bộ luật Hình sự và Nghị quyết về việc thi hành Bộ luật Hình sự.

Bộ luật Hình sự của năm 1985 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/1986

c. Khi bàn về lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam qua ba Bộ luật Hình sự không nên quên công lao của các bậc tiền bối của thế hệ đi trước trong lĩnh vực tư pháp hình sự đã đặt nền móng cho sự hình thành hệ thống pháp luật hình sự của nước ta. Dưới đây là một số bình luận về Bộ luật hình sự đầu tiên này với bốn ý như sau:

- Phần lớn những người tham gia, góp phần tạo nên thành công của Bộ luật Hình sự đầu tiên của Việt Nam, từ những người lãnh đạo cao nhất lúc bấy giờ đến những người trực tiếp chấp bút để biên soạn, kể cả các thành viên Tổ biên tập Dự thảo Bộ luật đó (sau đây tạm gọi chung là “những người có trách nhiệm vối” Bộ luật Hình sự của năm 1985) đều không phải là các quan chức “phòng giấy”, mà trái lại họ là những luật gia dày dặn kinh nghiệm lập pháp hoặc kinh nghiệm thực tiễn trong lĩnh vực tư pháp hình sự vì lúc đó họ đều đang (và đã từng) làm việc tại một trong ba cơ quan Nội chính Trung ương.

- Phần lớn những người có trách nhiệm với Bộ luật Hình sự của năm 1985 đều rất có “tâm” sáng trong việc làm luật – họ chú tâm trong mỗi điều luật sao cho phải đáp ứng được các tiêu chí về kỹ thuật lập pháp của một văn bản lập pháp hình sự tốt là phải: chặt chẽ về mặt cấu trúc, chính xác về mặt khoa học, nhất quán (thống nhất) về mặt logic pháp lý, khả thi về mặt thực tiễn, trong sáng và rõ ràng, đơn giản và dễ hiểu về mặt thuật ngữ pháp lý.

- Phần lớn những người có trách nhiệm với Bộ luật Hình sự của năm 1985 đều có tư duy rất sáng và đúng về tư pháp hình sự là lĩnh vực liên quan hàng đầu đến số phận của con người vì họ có nhận thức rất sâu sắc về chế tài tuyệt đối và chế tài tùy nghi là những chế tài rất khác nhau liên quan đến việc tước đi mạng sống của con người nên họ rất cầu thị và biết lắng nghe ý kiến của các luật gia có kinh nghiệm thực tiễn trong lĩnh vực tư pháp hình sự của đất nước lúc bấy giờ, không bảo thủ, không độc đoán.

- Với các nhận xét nêu trên nên những người có trách nhiệm với Bộ luật Hình sự của năm 1985 đã dành cho Bộ luật ấy một thời gian soạn thảo rất thỏa đáng là 9-10 năm, chính vì có được thời gian như vậy nên họ hoàn toàn không có tư duy nhiệm kỳ muốn chạy theo thành tích. Có thể nói, Bộ luật Hình sự của năm 1985 thực sự là Bộ luật “được xây dựng rất chu đáo, có tính khoa học cao”.

Trân trọng!