1. Các giai đoạn phát triển của pháp luật Anh

  • Giai đoạn 1: Pháp luật Anh trước cuộc xâm chiếm của người Norman năm 1066

- Sự thống trị của La Mã ở Anh kéo dài 4 thế kỷ

- Nhưng pháp luật Anh lại chịu ít ảnh hưởng từ luật La Mã, vì:

+ Sự ngự trị của luật giáo hội địa phương

+ Người La Mã không cai trị liên tục: địa lý xa xôi/ ng La Mã lên 1 thời gian chưa áp đặt gì cả, vì nước Anh bấy giờ là những lãnh địa biệt lập. Tập tục địa phương quá ăn sâu, cố gắng kết nối nhưng chưa xong thì La Mã khủng hoảng nên phải rút hết về La Mã/ Người Anglo - Saxon đến và làm yếu đi rất nhiều những dấu ấn của La Mã để lại.

- Pháp luật thời kỳ Anglo Saxon:

 + Ít được biết đến

+ Vì đơn giản chúng là sự tiếp nhận của đạo Thiên chúa và được thảo ra như ở lục địa châu Âu với sự khác biệt lớn là chúng được viết bằng tiếng Anglo Saxon chứ không phải tiếng Latinh

  • Giai đoạn 2: Pháp luật Anh sau cuộc xâm chiếm của người Norman năm 1066

Bản thân cuộc xâm chiếm này không làm thay đổi tình thế đã có. Vẫn tiếp tục duy trì hiệu lực của pháp luật Anglo Saxon. Song, tập trung xây dựng chế độ quản lý tập trung trên toàn đất nước => thống nhất dưới sự cai trị của Hoàng gia Anh.

+ Ra đời Tòa án Hoàng gia tại Wesminton

+ Sự ra đời của Luật án lệ

+ Các thẩm phán Hoàng gia Anh đi khắp đất nước để xét xử các vụ việc bằng việc áp dụng các tập quán địa phương khác nhau

+ Mùa đông, họ quay trở lại London để cùng thảo luận về những tập quán mà mình đã áp dụng, dần dần họ áp dụng thường xuyên các tập quán giống nhau trên khắp đất nước. Luật án lệ ra đời, không phải được xây dựng thành những văn bản, mà đơn thuần là tòa án sẽ sử dụng những quyết định trước đó để áp dụng => hình thành nên nguyên tắc Stare Decisis- án lệ phải được tôn trọng

+ Sự ra đời của Luật công bình- Equity Law

+ Do sự cứng nhắc của hệ thống Trát, sự phát triển của Common Law bị ảnh hưởng nghiêm trọng

+ Các quy định đang tồn tại không theo kịp được sự phát triển của xã hội và dần trở nên lạc hậu

+ Phong cách đặc trưng của Anh trong giải quyết vấn đề như vậy không phải là thay đổi hệ thống mà là xây dựng một hệ thống khác- song song cùng tồn tại. Luật công bình ra đời vào cuối thế kỷ 15

  • Giai đoạn 3: Giai đoạn hiện đại

 Những cải cách thế kỉ 19: Sự phát triển của những tư tưởng dân chủ- dưới ảnh hưởng của Bentham- sự phát triển chưa từng thấy của pháp luật thành văn. Thoát khỏi sự ràng buộc trong những khuôn khổ tố tụng, các luật gia Anh tập trung nhiều hơn vào luật vật chất. Xóa bỏ khác biết giữ Tòa thông luật và Tòa công lý. Trong thời kỳ nhà nước hưng thịnh: Luật có được quy mô và ý nghĩa chưa từng có trước đó. Có sự xích lại gần nhau hơn giữa pháp luật Anh và pháp luật lục địa

  • Sự hình thành của common law ở Anh.

- Các thẩm phán Hoàng gia Anh đi khắp đất nước để xét xử các vụ việc bằng việc áp dụng các tập quán địa phương khác nhau

- Mùa đông, họ quay trở lại London để cùng thảo luận về những tập quán mà mình đã áp dụng, dần dần họ áp dụng thường xuyên các tập quán giống nhau trên khắp đất nước

- Luật án lệ ra đời, không phải được xây dựng thành những văn bản, mà đơn thuần là tòa án sẽ sử dụng những quyết định trước đó để áp dụng => hình thành nên nguyên tắc Stare Decisis- án lệ phải được tôn trọng

2. Các loại nguồn và giá trị của từng loại nguồn của pháp luật Anh.

+ Án lệ: Là nguồn luật được sử dụng phổ biến nhất, được áp dụng một cách tuyệt đối. Án lệ của Anh theo nguyên tắc Stare decisis, được ghi chép, xuất bản để sử dụng và thực hiện rất chặt chẽ, khắt khe. Theo pháp luật Anh, án lệ của cấp trên có tính bắt buộc đối với cấp dưới và ngay cả chính mình. Vì vậy, các thẩm phán ở Anh không muốn phủ nhận những phán quyết trước đó của mình hoặc đào sâu hơn khi xét xử vụ án.

+ Học thuyết pháp lý: Anh thừa nhận và sử dụng các tác phẩm của các học giả pháp lí giống như là một nguồn luật. Các tác phẩm này thường được trích dẫn bởi các luật sư và thẩm phán trong quá trình hành nghề luật

+ Luật thành văn: Anh không có hiến pháp thành văn do vậy, các quy định có bản chất của hiến pháp Anh có thể tìm thấy trong đặc quyền Hoàng gia, trong một số truyền thống, án lệ cũng như văn bản pháp luật do Nghị viện ban hành. Luật thành văn ngày càng được coi trọng trong hệ thống nguồn luật của Anh

+ Các văn bản pháp luật ở Anh gồm: Văn bản pháp luật do Nghị viện trực tiếp ban hành và Văn bản pháp luậ Nghị viện ủy quyền ban hành. Luật do Nghị viện ban hành có hiệu lực cao hơn án lệ do thẩm phán làm ra. Luật thường bổ sung hay thay thế án lệ. Các Văn bản pháp luậ địa phương do chính quyền địa phương ban hành.

+ Tập quán pháp: Tập quán pháp là những tập quán được Nhà nước  thừa nhận có giá trị pháp lý, trở thành những quy tắc xử sự chung và được NN đảm bảo thực hiện

+ Lẽ phải: Lẽ phải cũng là một nguồn luật thể hiện nét đặc thù của pháp luật Anh thể hiện ở Luật Công bình. Trong trường hợp một vụ án phát sinh không có tiền lệ pháp phù hợp, không có luật thành văn hay tập quán pháp thì thẩm phán chính là người tạo ra luật pháp bằng cách sử dụng lẽ phải.

3. Câu nói “Writ (trát) là trái tim của Common Law”.

  • Đặc điểm, ý nghĩa của trát:

- Trát được cấp cho một vụ việc cá biệt trở thành tiền lệ cho người thỉnh cầu về sau.

- Việc cấp trát được xem là hoạt động sáng tạo ra các quy tắc pháp lý mới (chuyển từ cái riêng biệt, cụ thể, cái ngoại lệ thành cái chung, cái tổng quát)

- Trát được cấp nhằm ngụ ý rằng tòa cần phải xem xét vụ việc công minh

- Thể hiện vai trò của nhà vua trong khắp vương quốc bảo hộ các lợi ích chính đáng của thần dân thông qua các nhà chức trách hoàng gia.

- Người Anh có câu “no writ, no remedy”- không có trát, không có tố quyền.

Có thể thấy, Writ (trát) là chế định rất đặc thù của common law, điểm khác biệt to lớn phân biệt common law với các hệ thống pháp luật khác. Hệ thống trát (writ system) là hình thức khởi kiện và thủ tục tố tụng tương ứng để giải quyết tranh chấp, thể hiện dưới dạng văn bản do nhà vua cấp. Khi vua cấp trát cũng là lúc vua ra lệnh cho bên liên quan thực thi thực thi công lý ngay lập tức với các đương sự có tên trong trát. Người dân có tranh chấp muốn khiếu kiện sẽ xin cấp loại trát phù hợp với bản chất vụ việc để Tòa án Hoàng gia thụ lý giải quyết, nếu không có trát thích hợp thì toà án có quyền bác đơn khiếu kiện của bên nguyên. Như vậy, một vụ kiện chỉ có thể tiến hành nếu bên nguyên giành được trát thích hợp, nếu không sẽ mất quyền khởi kiện.Loại trát được phát hành sẽ quyết định hình thức khởi kiện và thủ tục áp dụng để giải quyết vụ việc. Ban đầu chỉ có 3 loại trát, sau tăng lên nhiều lần do nhu cầu xã hội. 

4. Nhận định câu châm ngôn của Holmes “đời sống của pháp luật không phải là logic mà là kinh nghiệm”

Câu châm ngôn trên phù hợp với common law vì tư duy pháp lý đặc thù của common law. Common law cho rằng luật pháp là cái đang xảy ra trong thực tiễn, nên các quy tắc pháp luật sẽ được rút ra từ giải quyết các tranh chấp pháp lý thực tế, chứ không rút ra từ các lý luận khoa học. Vì vậy, ở common law vai trò của thẩm phán rất quan trọng trong việc đặt ra và phát triển pháp luật. Các nguyên tắc cơ bản của common law sẽ không được tìm thấy trong các bộ luật thành văn do các nhà làm luật xây dựng mà trong tập hợp các phán quyết của thẩm phán (án lệ). Qua đó, ta thấy được rằng đời sống pháp luật của common law là "kinh nghiệm" chứ không phải logic.

5. Sự hình thành của Equity Law ở Anh.

  • Nguyên nhân hình thành

- Trong nhiều trường hợp, CoL đặt ra chế tài không đáp ứng được cho bên thiệt hại, vì vậy nhiều vụ việc được trình lên nhà vua- nguồn gốc của công lý để nhà vua quyết định công bằng giữa các bên. Việc xem xét này được giao cho các Tòa đại pháp quan- những người được đào tạo đầy đủ hơn các quan chức và các cố vấn và quan chức hành chính của nhà vua.

- Nhiều vấn đề của công lý có tính cách tự nhiên không phụ thuộc vào chế tài pháp lý mà để lại cho công luận hoặc lương tâm của từng cá nhân. Vậy là Equity xuất hiện.

  • Con đường hình thành:

- Các phán quyết của Tòa đại pháp quan dần dần hình thành một hệ thống pháp luật thứ hai được gọi là equity và chancery justice.

- Hệ thống này được chính thức hóa với một vài dạng tố quyền nhằm đặt ra các chế tài mà CoL không đề cập tới

- Học thuyết của Equity mang nhiều yếu tố của Luật La Mã bởi các chancellors bị ảnh hưởng của Canon Law- 1 thứ pháp luật có cơ sở gần gũi với Luật La Mã.

  • Một vài nguyên nhân khác:

- Coi nhà vua là tượng đài công lý, công bằng/ Sự rắc rối, lộn xộn và bất công của hệ thống Trát/ Sự phát triển của Nghi viện Anh.

- Do sự cứng nhắc của hệ thống Trát, sự phát triển của Common Law bị ảnh hưởng nghiêm trọng

- Các quy định đang tồn tại không theo kịp được sự phát triển của xã hội và dần trở nên lạc hậu

- Phong cách đặc trưng của Anh trong giải quyết vấn đề như vậy không phải là thay đổi hệ thống mà là xây dựng một hệ thống khác- song song cùng tồn tại 

- Luật công bình ra đời vào cuối thế kỷ 15

6. Mối quan hệ giữa common law và equity law? Nguyên tắc “equitas sequitur legem”

- Mối liên hệ Common law và Equity law: Bước sang thế kỷ 15, hệ thống common law bắt đầu bộc lộ ra các yếu kém, trở nên phức tạp, cứng nhắc, bị chi phối bởi hệ thống trát, gây ra nhiều bất công trong các vụ kiện tụng. Trước tình hình đó, equity ra đời như một giải pháp quyết những phán quyết chưa thỏa đáng của toà án hoàng gia. Equity là hệ thống lý thuyết và thủ tục pháp lý phát triển song song với common law, nhằm khắc phục và bổ sung cho common law, không phải thay thế.

- Nguyên tắc “Equitas sequitur legem”- công bình đi sau pháp luật: các nguyên tắc của luật công bình không được trái với các nguyên tắc của CoL, các quy định của CoL bao giờ cũng được ưu tiên áp dụng trước. Mãi cho tới năm 1616, người ta mới bắt đầu chấp nhận việc ưu tiên luật công bình trong một số trường hợp có mâu thuẫn với CoL, nhưng điều đó không có nghĩa là sẽ phải vô hiệu các nguyên tắc của CoL. Trong trường hợp đó, tòa công bình sẽ ra lệnh cấm, theo đó bên khởi kiện tại tòa CoL dù có đầy đủ cơ sở pháp lý nhưng nếu xử tại đó sẽ rất bất công thì sẽ bị cấm tiếp tục tranh tụng hay cấm tìm cách cưỡng chế phán quyết.

7. Tại sao không có sự phân chia rõ rệt giữa luật công và luật tư trong hệ thống Common law.

- Theo Rene David: Do phát triển một hệ thống trát mà tại đó không chỉ cho phép nguyên đơn hành động, mà còn là mệnh lệnh của nhà vua cho các quan chức của mình phải hành động đúng luật và đáp ứng các yêu cầu của nguyên đơn

- Theo giải thích của một số luật gia Mỹ: (1) Các quyền lợi công và tư được xác lập qua quyền lợi về tài sản, nhưng ở Anh không có sự phân biệt sở hữu tài sản của cơ quan công và tư nhân như châu Âu lục địa. (2) Có một hệ thống tòa án riêng xem xét các hoạt động lập pháp, hành pháp và các tranh chấp tư, nên không có sự phân biệt quyền lực công cộng và tư nhân như châu Âu. (3) Dễ dàng cho việc tổng hợp các bản án.

8. Tổ chức tòa án ở Anh.

- Hệ thống tòa án cấp cơ sở:

+ Tòa địa hạt (county courts)- chủ yếu xét xử các vụ dân sự nhỏ theo khu vực hành chính nhất định.

+ Tòa pháp quan (Magistrates Courts): xét xử sơ thẩm các vụ vi cảnh Do các pháp quan giải quyết (Vi phạm giao thông, bảo hiểm, đóng phí công cộng, giám hộ trẻ...).

+ Tòa Hình sự (Crown court): Sơ thẩm các vụ hình sự.

- Tòa án cấp cao (High Court of Justice) Gồm 3 loại tòa: Tòa Hoàng Gia, Tòa Gia đình, Tòa Chancery- Đại pháp quan

 - Tòa án phúc thẩm: Gồm 2 nhánh: chuyên xét xử phúc thẩm cả hình sự và dân sự;

 - Từ 2005 Tối cao pháp viện Anh Quốc. Cấp xét xử cao nhất và cuối cùng.

  • Đào tạo luật và hành nghề luật ở Anh.

- Đào tạo luật sư: Phân làm hai loại: Luật sư tư vấn và luật sư tranh tụng.

- Luật sư tư vấn – Hội luật gia đào tạo (kỹ năng) trong 01 năm và phải thực tập 2 năm. 

- Luật sư tranh tụng – Đào tạo ở các tổ chức do Đoàn luật sư Anh cấp phép và giám sát (01 năm ở trường và 01 năm thực tập). Thường luật sư tranh tụng có địa vị cao hơn.  Để làm việc với luật sư tranh tụng người cần luật sư thường được giới thiệu qua luật sư tư vấn hoặc qua thư ký. Luật sư trang tụng ít khi ngã giá với khách hàng và có người khác làm việc này cho họ một cách chuyên nghiệp.

- Hành nghề luật: Nghề luật ở Anh rất được trọng vọng, dẫn đầu trong việc phát triển chính quyền.

+ Được chia thành 2 nhóm: Luật sư tư vấn (solicitor)- làm việc trực tiếp với khách hàng và chuẩn bị các vụ việc để tranh luận trước tòa và giới thiệu luật sư tranh tụng và Luật sư tranh tụng (barrister)- xuất hiện trước tòa để bào chữa, trước khi ra nhập hiệp hội luật sư thì phải tốt nghiệp 4 trường (Inns of Court) là Lincoln’s Inn, Inner Temple, Middle và Gray’s Inn

+ Thẩm phán được lựa chọn  từ các luật sư tranh tụng và không theo nhiệm kỳ.

 

 

Trên đây là tư vấn của chúng tôi.  Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Luật Minh Khuê (sưu tầm và biên tập).