1. Kháng cáo bản án, quyết định của tòa án là gì ?

Kháng cáo bản án, quyết định của tòa án là việc những người tham gia tố tụng không đồng ý với toàn bộ hoặc một phần bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm, trong thời hạn mà pháp luật quy định gửi đơn đề nghị Tòa án cấp trên trực tiếp xét lại toàn bộ hoặc một phần bản án chưa có hiệu lực pháp luật.

Quy định về kháng cáo bản án, quyết định của tòa án:

Kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án là quyền theo luật định của các đương sự trong vụ án. Pháp luật quy định cụ thể những người có quyền kháng cáo, thủ tục kháng cáo và trách nhiệm của Tòa án trong đảm bảo thực hiện quyền kháng cáo của các đương sự. Những người có quyền kháng cáo bản án, quyết định của Toà án gồm: bị cáo, người bị hại và người đại diện hợp pháp của họ có quyền kháng cáo bản án hoặc quyết định sơ thẩm; người bào chữa có quyền kháng cáo để bảo vệ lợi ích của người chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần; nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và người đại diện hợp pháp của họ có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định sơ thẩm có liên quan đến việc bồi thường thiệt hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người đại diện hợp pháp của họ có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ; người được Toà án tuyên là vô tội có quyền kháng cáo phần nhận định của bản án sơ thẩm đã tuyên là họ vô tội.

Pháp luật tố tụng hình sự quy định cụ thể v thủ tục kháng cáo. Theo đó, người có quyền kháng cáo phải gửi đơn kháng cáo đến Toà án đã xử sơ thẩm hoặc Toà án cấp phúc thẩm. Trong trường hợp bị cáo đang bị tạm giam, ban giám thị trại giam phải bảo đảm cho bị cáo thực hiện quyền kháng cân, Người kháng cáo cũng có thể trình bày trực tiếp với Toà án đã xử sơ thẩm về việc kháng cáo và Toà ăn phải lập biên bản về việc kháng cáo đó. Đơn kháng cáo phải nêu rõ nội dung phần quyết định của bản án, quyết định của Toà án bị kháng cáo; lí do kháng cáo và yêu cầu của người kháng cáo. Những phản của bản án bị kháng cáo thì chưa được đưa ra thị hành. Khi có kháng cáo đối với toàn bộ bản án thì toàn bộ bản án chưa được đưa ra thi hành.

Trước khi bắt đầu hoặc tại phiên toà phúc thẩm, người kháng cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến kháng cáo có quyển bổ sung chứng cự mới. Toà án cấp phúc thẩm có thể tự mình hoặc theo yêu cầu của đương sự tiến hành hoặc uỷ thác cho Toà án khác xác minh chứng cứ mới được bổ sung. Trước khi bắt đầu hoặc tại phiên toà phúc thẩm, người kháng cáo có quyền bổ sung, thay đổi kháng cáo nhưng không được làm xấu hơn tình trạng của bị cáo; rút một phần hoặc toàn bộ kháng cáo, kháng nghị. Toà án quyết định đình chỉ việc xét xử phúc thẩm đối với phần nội dung kháng cáo được rút. Trong trường hợp rút toàn bộ kháng cáo tại phiên toà thì việc xét xử phúc thẩm phải được đình chỉ.

>> Xem thêm:  Thời hạn kháng cáo quá hạn theo Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 là bao lâu ?

2. Kháng cáo bản án, quyết định dân sự là gì ?

Kháng cáo bản án, quyết định dân sự là hoạt động của đương sự, người đại diện của đương sự, cơ quan, tổ chức khởi kiện chống lại bản án, quyết định dân sự của Toà án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật, yêu cầu Toà án trên một cấp xét xử lại vụ án theo trình tự phúc thẩm.

Thủ tục kháng cáo bản án, quyết định dân sự hiện nay:

Kháng cáo là một phương thức tố tụng bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trước Toà án, Đối tượng của kháng cáo là bản án, quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án dân sự của Toà án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật. Việc kháng cáo được thực hiện bằng đơn kháng cáo gửi cho Toà án cấp sơ thẩm đã ra bản án, quyết định. Người kháng cáo phải gửi kèm theo đơn kháng cáo các tài liệu, chứng cứ bổ sung (nếu có) để chứng minh cho kháng cáo của mình là có căn cứ và hợp pháp.

Việc kháng cáo có thể tiến hành đối với một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định. Bản án, quyết định bị kháng cáo phần nào thì phần đó chưa được đưa ra thi hành; nếu kháng cáo đối với toàn bộ bản án, quyết định thì toàn bộ bản án, quyết định chưa được đưa ra thỉ hành, trừ trường hợp Toà án đã quyết định cho thi hành ngay.

Kháng cáo hợp pháp có hậu quả pháp lí là Toà án cấp trên trực tiếp sẽ tiến hành xét xử lại vụ án.

>> Xem thêm:  Thủ tục và hình thức kháng cáo, kháng nghị vụ án hình sự ?

3. Thời hạn kháng cáo là gì ?

Thời hạn kháng cáo là khoảng thời gian do pháp luật quy định để những người có quyền kháng cáo được kháng cáo bản án, quyết định sơ thẩm của Toà án.

Quy định pháp luật về thời hạn kháng cáo:

Theo quy định của pháp luật tố tụng, thời hạn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm hình sự và dân sự là 15 ngày, đối với các bản án hành chính, kính tế, lao động là 10 ngày kể từ ngày tuyên án. Trong truờng hợp Toà án xét xử vắng mặt bị cáo hoặc đương sự tại phiên toà thì thời hạn kháng cáo của họ được tính từ ngày bản sao bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết công khai tại trụ sở Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi họ cư trú. Thời hạn kháng cáo được tính theo ngày tròn nghĩa là ngày tiếp theo ngày tuyên án tính là ngày thứ nhất, ngày cuối cùng của thời hạn nếu rơi vào ngày không làm việc thì tính sang ngày cơ quan nhà nước làm việc trở lại. Vĩ dụ: đối với án hình sự hoặc dân sự, ngày tuyên án là thứ sáu ngày 05 tháng 12 thì ngày cuối cùng của thời hạn kháng cáo là ngày 20 tháng 12 nhưng ngày này lại rơi vào ngày nghỉ cuối tuần: ngày thứ bảy, thì ngày cuối cùng của thời hạn kháng cáo sẽ được tính là ngày thứ hai của tuần tiếp theo là ngày 22 tháng 12.

Việc xác định kháng cáo có đúng thời hạn luật định hay không phụ thuộc vào ngày ghỉ trong kháng cáo mà căn cứ vào ngày tuyên án, ngày giao bản sao bản án để báo cho người vắng mặt tại phiên toà, ngày nhận được kháng cáo. Nếu đơn kháng cáo được gửi qua đường bưu điện thì ngày kháng cáo được tính căn cứ vào ngày bưu điện nơi gửi đóng dấu trên phong bì. Trong trường hợp đơn kháng cáo được gửi qua ban giám thị trại giam thì ngày kháng cáo được tính căn cứ vào ngày ban giám thị trại giam nhận được đơn. Nếu người kháng cáo đến Toà án trực tiếp nộp đơn kháng cáo hoặc kháng cáo bằng miệng thì ngày kháng cáo là ngày Toà án tiếp nhận đơn kháng cáo.

>> Xem thêm:  Thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm vụ án hình sự ?

4. Rút kháng cáo bản án, quyết định là gì ?

Rút kháng cáo bản án, quyết định là hoạt động tố tụng thu lại kháng cáo đã gửi Toà án của người kháng cáo.

Việc rút kháng cáo thể hiện quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng và được thực hiện theo quy định tại Điều 256 Bộ luật tố tụng dân sự. Trước khi bắt đầu phiên toà hoặc tại phiên toà phúc thẩm, người kháng cáo có quyền rút kháng cáo. Toà án cấp phúc thẩm đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với những phần của bản án mà người kháng cáo đã rút kháng cáo. Việc rút kháng cáo trước khi mở phiên toà phải được làm thành văn bản và gửi cho Toà án cấp phúc thẩm. Toà án cấp phúc thẩm phải thông báo cho các đương sự biết về việc rút kháng cáo. Việc rút kháng cáo tại phiên toà phải được ghi vào biên bản phiên toà.

>> Xem thêm:  Hình thức kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm vụ án dân sự ?

5. Kháng cáo trong vụ án hình sự được quy định như thế nào?

Thưa luật sư, xin hỏi:
Tại phiên tòa sơ thẩm ngày 09/11/2016 vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Canh đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 03, Điều 104 và các Điểm b, o, p Khoản 01, Khoản 02, Điều 46, Điều 47, Điều 60 của Bộ luật hình sự để xử phạt tôi mức án từ 2 năm đến 3 năm tù. Về bồi thường thiệt hại đề nghị áp dụng Điều 42 Bộ luật hình sự; Điều 610 của Bộ luật dân sự buộc bị cáo phải bồi thường toàn bộ thiệt hại cho gia đình bị hại theo quy định của pháp luật. Sau khi nghị án HĐXX tuyên bố tôi phạm vào “ Tội cố ý gây thương tích” quy định tại Điều 104 của Bộ luật hình sự. Áp dụng Khoản 03 Điều 104 và các Điểm b, o, p Khoản 01, Khoản 02 Điều 46; Điều 47; Điều 60 của Bộ luật hình sự;
Xử phạt tôi 3 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 09/11/2016). Về bồi thường thiệt hại đề nghị áp dụng điều 42 bộ luật hình sự; điều 610 của bộ luật dân sự buộc bị cáo phải bồi thường toàn bộ thiệt hại cho gia đình bị hại theo quy định của pháp luật. sau khi nghị án hđxx tuyên bố tôi phạm vào “ tội cố ý gây thương tích” quy định tại điều 104 của bộ luật hình sự. áp dụng khoản 03 điều 104 và các điểm b, o, p khoản 01, khoản 02 điều 46; điều 47; điều 60 của bộ luật hình sự; xử phạt tôi 3 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 09/11/2016).
Về bồi thường thiệt hại đề nghị áp dụng khoản 01 điều 42 của bộ luật hình sự, điều 604, 610 của bộ luật dân sự buộc tôi phải bồi thường thiệt hại cho đại diện hợp pháp của người bị hại với tổng số tiền là: 173.600.000đ (một trăm bảy mươi ba triệu sáu trăm nghìn đồng) khi sự việc xảy ra bản thân tôi và người bị hại là anh Đ không quen biết nhau, không có mâu thuẫn, không có thành kiến hay hiềm khích cá nhân nào từ trước. khi tôi thấy nhóm của anh Đ và anh T xô xát nhau tôi chỉ vào can ngăn không để 2 bên đánh nhau và tôi dùng tay đẩy nhẹ vào vai anh Đ nhưng do anh Đ dùng bia rượu từ sáng đến chiều và đang trong tình trạng say bia rượu, bên cạnh đó tại nơi xảy ra sự việc là vỉa hè có độ dốc nên làm cho anh Đ lảo đảo dẫn đến té ngã. khi nghe tin anh Đ tử vong ở bệnh viện vân canh tôi đã đến công an huyện vân canh để tự thú và khai báo về toàn bộ sự việc diễn ra. vợ chồng tôi đã cùng gia đình đến gặp gỡ, động viên, chia buồn và khắc phục một phần hậu quả cho gia đình anh Đ với số tiền 100.000.000đ (một trăm triệu đồng) bản thân tôi là lao động chính trong gia đình với mức lương hợp đồng 2.660.000đ (hai triệu sáu trăm sáu mươi nghìn đồng) phải lo cho vợ và con gái 09 tháng tuổi và khi sự việc xảy ra chỉ là hoàn toàn vô tình chỉ vì tôi muốn can ngăn không cho hai bên đánh nhau.
- Từ trước cho đến khi phạm tội, tôi chưa có tiền án tiền sự, luôn chấp hành tốt các chính sách, pháp luật của nhà nước.
- Tôi thực chất chỉ vì muốn can ngăn không cho 02 bên đánh nhau ( tức là anh Đ và anh T ).
- Trong quá trình giải quyết vụ án tôi thật sự đã nhận ra khuyết điểm và thành thật ăn ăn hối cải, thành khẩn khai báo, giúp đỡ cơ quan chức năng nhanh chóng làm sáng tỏ nội dung vụ án. nếu gia đình bị hại làm đơn kháng cáo thì bị cáo có bị tăng hay giảm hình phạt không tòa tuyên phạt như vậy có hợp lý không và gia đình chúng tôi muốn gửi đơn kháng cáo ?
Trong khi chờ đợi sự tư vấn của luật sư. gia đình chúng tôi xin chân thành cảm ơn!

Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự trực tuyến, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Vấn đề của bạn chúng tôi tư vấn như sau:

Ở trường hợp này chúng tôi có thể hiểu: anh chỉ đẩy nhẹ anh Đ tuy nhiên do anh Đ đang say rượu và đứng bên bờ dốc nên liền bị ngã xuống rồi dẫn đến tử vong. Do nguyên nhân tử vong là ngã xuống dốc và bị chấn thương.

Trường hợp của anh nếu người nhà bị hại kháng cáo thì anh có thể bị chuyển sang tội vô ý làm chết người theo Khoản 1 Điều 98 Bộ luật hình sự 2015:

“người nào vô ý làm chết người thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm”.

Vì anh đã có những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Điểm b, o, p Khoản 01, Khoản 02 Điều 46:

"b. Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả.
o. người phạm tội tự thú;
p. người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải."

Dẫn tới quyết định hình phạt nhẹ hơn theo Điều 47 của Bộ luật hình sự:

“Khi có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 của Bộ luật này, Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật; trong trường hợp điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất của điều luật, thì Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Lý do của việc giảm nhẹ phải được ghi rõ trong bản án.”

Như vậy, từ căn cứ pháp lý nêu trên và tình huống của bạn thì chúng tôi có thể nhận định rằng.Trong trường hợp này nếu bên người bị hại làm đơn kháng cáo để yêu cầu tăng hình phạt. Thì khả năng cao nhất là bạn bị xác định bởi hành vi “Tội vô ý làm chết người”. Còn việc toàn án tuyên có hợp lý không thì còn phải dựa vào các lời khai của các nhân chứng, hồ sơ hiện trường và các tài liệu khác có liên quan để có nhận định chính xác nhất về yếu tố cấu thành hành vi phạm tội của bạn.

Theo chúng tôi bạn có thể viết đơn kháng cáo lên tòa án phúc thẩm. Yêu cầu giảm khung hình phạt theo điều 47 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi 2009 như được trích dẫn ở trên.

Bên cạnh đó, bạn làm đơn xem xét hưởng án treo theo quy đinh như sau:

Điều 60. Án treo

1. Khi xử phạt tù không quá ba năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ một năm đến năm năm.

2. Trong thời gian thử thách, Toà án giao người được hưởng án treo cho cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc hoặc chính quyền địa phương nơi người đó thường trú để giám sát và giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó.

3. Người được hưởng án treo có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định theo quy định tại Điều 30 và Điều 36 của Bộ luật này.

4. Người được hưởng án treo đã chấp hành được một phần hai thời gian thử thách và có nhiều tiến bộ thì theo đề nghị của cơ quan, tổ chức có trách nhiệm giám sát và giáo dục, Toà án có thể quyết định rút ngắn thời gian thử thách.

5. Đối với người được hưởng án treo mà phạm tội mới trong thời gian thử thách, thì Toà án quyết định buộc phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 51 của Bộ luật này.

Trên đây là tư vấn của Luật Minh Khuê,Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Hình sự - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm vụ án dân sự ?

Các câu hỏi thường gặp

Câu hỏi: Những người có quyền kháng cáo gồm những cá nhân nào?

Trả lời:

Trong một vụ án, những người có quyền kháng cáo bao gồm[1]:

– Bị cáo và người đại diện hợp pháp của họ.

– Người bị hại và người đại diện hợp pháp của họ.

– Người bào chữa hoặc người bảo vệ quyền lợi cho bị cáo là người chưa thành niên hoặc là người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần.

– Nguyên đơn dân sự và người đại diện hợp pháp của họ.

– Bị đơn dân sự và người đại diện hợp pháp của họ.

– Người có quyền và nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người đại diện hợp pháp của họ có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ.

– Người được Tòa án tuyên bố là không có tội có quyền kháng cáo phần lý do bản án sơ thẩm đã tuyên là họ không có tội.

Câu hỏi: Thời hạn kháng cáo được quy định cụ thể ra sao?

Trả lời:

quy định về thời hạn như sau:

– Đối với những người có mặt tại phiên tòa là 15  ngày kể từ ngày tuyên án.

– Đối với những người vắng mặt tại phiên tòa là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết.

-Thời hạn kháng cáo quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm là 7 ngày kể từ ngày người có quyền kháng cáo nhận quyết định.

– Nếu đơn kháng cáo gửi qua bưu điện thì ngày kháng cáo được tính từ ngày bưu điện nơi gửi đóng dấu ở phong bì. Nếu đơn kháng cáo gửi qua Ban giám thị trại tạm giam, thì ngày kháng cáo tính từ ngày Ban giám thị trại tạm giam nhận được đơn.

– Việc kháng cáo quá hạn có thể được chấp nhận, nếu có lý do chính đáng.

Trên thực tế, với thời hạn kháng cáo khá ngắn như trên, có nhiều người do chưa nắm rõ vấn đề này, lại không có luật sư nên nhiều người còn không biết thời hạn kháng cáo được tính từ thời điểm nào, nhiều người còn nghĩ rằng phải chờ nhận bản án sơ thẩm thì mới kháng cáo. Hoặc 15 ngày là không tính vào các ngày nghỉ (thứ Bảy, Chủ Nhật), ngày lễ … và vô tình đã làm mất đi quyền kháng cáo của mình. Hoặc cũng có trường hợp vì lý do bất khả kháng nào đó không kịp làm đơn kháng cáo nên nghĩ rằng không còn quyền kháng cáo nữa dù thực tế luật vẫn quy định về trường hợp kháng cáo quá hạn.

Câu hỏi: Kháng cáo quá hạn thì giải quyết như thế nào?

Trả lời:

Trong những trường hợp không kịp làm đơn kháng cáo vì lý do bất khả kháng, pháp luật có qui định về trường hợp “kháng cáo quá hạn”. Tức là kháng cáo sau khi đã quá thời hạn kháng cáo theo luật định (15 ngày đối với bản án, 7 ngày đối với quyết định đình chỉ, quyết định tạm đình chỉ vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm). Đây là trường hợp đặc biệt, để Tòa xem xét và đánh giá nguyên nhân kháng cáo quá hạn, từ đó sẽ có thể chấp nhận đơn kháng cáo của đương sự – trên nguyên tắc bảo đảm quyền kháng cáo vì những lý do khách quan của đương sự dẫn đến việc phải kháng cáo quá hạn. Khi làm đơn kháng cáo quá hạn, cần lưu ý:

+ Khi kháng cáo quá hạn, ngoài “Đơn kháng cáo” như các trường hợp chung, người kháng cáo còn phải nộp kèm một văn bản trình bày về nguyên nhân dẫn đến việc kháng cáo quá hạn. Theo đó, nếu Bản trình bày đưa ra được những ý kiến, bằng chứng … chứng minh được lý do của việc kháng cáo quá hạn là hợp lý, thì nhiều khả năng đơn kháng cáo sẽ được chấp thuận.

+Vì kháng cáo quá hạn là trường hợp đặc biệt trong tố tụng. Nên thay vì đương nhiên được chấp thuận như trường hợp thông thường, trong trường hợp này, đơn và Bản trình bày về lý do kháng cáo quá hạn sẽ được chuyển lên Tòa án cấp trên. Và ở đây sẽ xem xét việc có chấp nhận về yêu cầu kháng cáo quá hạn hay không chấp nhận yêu cầu này.

+ Kháng cáo là quyền của đương sự trong một vụ án và thời gian kháng cáo  là 15 ngày kể từ ngày tuyên án đối với đương sự có mặt tại Tòa. Nếu lúc này, đương sự vẫn chưa nhận được bản án sơ thẩm thì cũng không sao, hãy nhớ lại bản án đã tuyên bằng miệng tại Tòa để ghi lại những vấn đề mình không đồng ý hoặc nếu không thể nhớ được chi tiết thì có thể ghi chung chung là “kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm”.

+Nếu Đơn kháng cáo được chấp nhận, Tòa án cấp trên sẽ mở phiên tòa phúc thẩm để xem xét, giải quyết (và chỉ giải quyết) các vấn đề được đề cập trong đơn kháng cáo. Hay nói cách khác, phiên tòa phúc thẩm là phiên tòa xem xét về đơn kháng cáo chứ không phải là phiên tòa xem xét về yêu cầu khởi kiện như tại phiên tòa sơ thẩm. Do đó, nếu có những vấn đề nào đương sự không đồng ý với quyết định của Tòa thì phải viết rõ trong đơn là kháng cáo phần nào và đề nghị Tòa xem xét lại.