1. Kháng cáo bản án, quyết định của tòa án là gì ?
Quy định về kháng cáo bản án, quyết định của tòa án:
Kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án là quyền theo luật định của các đương sự trong vụ án. Pháp luật quy định cụ thể những người có quyền kháng cáo, thủ tục kháng cáo và trách nhiệm của Tòa án trong đảm bảo thực hiện quyền kháng cáo của các đương sự. Những người có quyền kháng cáo bản án, quyết định của Toà án gồm: bị cáo, người bị hại và người đại diện hợp pháp của họ có quyền kháng cáo bản án hoặc quyết định sơ thẩm; người bào chữa có quyền kháng cáo để bảo vệ lợi ích của người chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần; nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và người đại diện hợp pháp của họ có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định sơ thẩm có liên quan đến việc bồi thường thiệt hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người đại diện hợp pháp của họ có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ; người được Toà án tuyên là vô tội có quyền kháng cáo phần nhận định của bản án sơ thẩm đã tuyên là họ vô tội.
Pháp luật tố tụng hình sự quy định cụ thể v thủ tục kháng cáo. Theo đó, người có quyền kháng cáo phải gửi đơn kháng cáo đến Toà án đã xử sơ thẩm hoặc Toà án cấp phúc thẩm. Trong trường hợp bị cáo đang bị tạm giam, ban giám thị trại giam phải bảo đảm cho bị cáo thực hiện quyền kháng cân, Người kháng cáo cũng có thể trình bày trực tiếp với Toà án đã xử sơ thẩm về việc kháng cáo và Toà ăn phải lập biên bản về việc kháng cáo đó. Đơn kháng cáo phải nêu rõ nội dung phần quyết định của bản án, quyết định của Toà án bị kháng cáo; lí do kháng cáo và yêu cầu của người kháng cáo. Những phản của bản án bị kháng cáo thì chưa được đưa ra thị hành. Khi có kháng cáo đối với toàn bộ bản án thì toàn bộ bản án chưa được đưa ra thi hành.
Trước khi bắt đầu hoặc tại phiên toà phúc thẩm, người kháng cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến kháng cáo có quyển bổ sung chứng cự mới. Toà án cấp phúc thẩm có thể tự mình hoặc theo yêu cầu của đương sự tiến hành hoặc uỷ thác cho Toà án khác xác minh chứng cứ mới được bổ sung. Trước khi bắt đầu hoặc tại phiên toà phúc thẩm, người kháng cáo có quyền bổ sung, thay đổi kháng cáo nhưng không được làm xấu hơn tình trạng của bị cáo; rút một phần hoặc toàn bộ kháng cáo, kháng nghị. Toà án quyết định đình chỉ việc xét xử phúc thẩm đối với phần nội dung kháng cáo được rút. Trong trường hợp rút toàn bộ kháng cáo tại phiên toà thì việc xét xử phúc thẩm phải được đình chỉ.
2. Kháng cáo bản án, quyết định dân sự là gì ?
Thủ tục kháng cáo bản án, quyết định dân sự hiện nay:
Kháng cáo là một phương thức tố tụng bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trước Toà án, Đối tượng của kháng cáo là bản án, quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án dân sự của Toà án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật. Việc kháng cáo được thực hiện bằng đơn kháng cáo gửi cho Toà án cấp sơ thẩm đã ra bản án, quyết định. Người kháng cáo phải gửi kèm theo đơn kháng cáo các tài liệu, chứng cứ bổ sung (nếu có) để chứng minh cho kháng cáo của mình là có căn cứ và hợp pháp.
Việc kháng cáo có thể tiến hành đối với một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định. Bản án, quyết định bị kháng cáo phần nào thì phần đó chưa được đưa ra thi hành; nếu kháng cáo đối với toàn bộ bản án, quyết định thì toàn bộ bản án, quyết định chưa được đưa ra thỉ hành, trừ trường hợp Toà án đã quyết định cho thi hành ngay.
Kháng cáo hợp pháp có hậu quả pháp lí là Toà án cấp trên trực tiếp sẽ tiến hành xét xử lại vụ án.
3. Thời hạn kháng cáo là gì ?
Quy định pháp luật về thời hạn kháng cáo:
Theo quy định của pháp luật tố tụng, thời hạn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm hình sự và dân sự là 15 ngày, đối với các bản án hành chính, kính tế, lao động là 10 ngày kể từ ngày tuyên án. Trong truờng hợp Toà án xét xử vắng mặt bị cáo hoặc đương sự tại phiên toà thì thời hạn kháng cáo của họ được tính từ ngày bản sao bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết công khai tại trụ sở Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi họ cư trú. Thời hạn kháng cáo được tính theo ngày tròn nghĩa là ngày tiếp theo ngày tuyên án tính là ngày thứ nhất, ngày cuối cùng của thời hạn nếu rơi vào ngày không làm việc thì tính sang ngày cơ quan nhà nước làm việc trở lại. Vĩ dụ: đối với án hình sự hoặc dân sự, ngày tuyên án là thứ sáu ngày 05 tháng 12 thì ngày cuối cùng của thời hạn kháng cáo là ngày 20 tháng 12 nhưng ngày này lại rơi vào ngày nghỉ cuối tuần: ngày thứ bảy, thì ngày cuối cùng của thời hạn kháng cáo sẽ được tính là ngày thứ hai của tuần tiếp theo là ngày 22 tháng 12.
Việc xác định kháng cáo có đúng thời hạn luật định hay không phụ thuộc vào ngày ghỉ trong kháng cáo mà căn cứ vào ngày tuyên án, ngày giao bản sao bản án để báo cho người vắng mặt tại phiên toà, ngày nhận được kháng cáo. Nếu đơn kháng cáo được gửi qua đường bưu điện thì ngày kháng cáo được tính căn cứ vào ngày bưu điện nơi gửi đóng dấu trên phong bì. Trong trường hợp đơn kháng cáo được gửi qua ban giám thị trại giam thì ngày kháng cáo được tính căn cứ vào ngày ban giám thị trại giam nhận được đơn. Nếu người kháng cáo đến Toà án trực tiếp nộp đơn kháng cáo hoặc kháng cáo bằng miệng thì ngày kháng cáo là ngày Toà án tiếp nhận đơn kháng cáo.
4. Rút kháng cáo bản án, quyết định là gì ?
Việc rút kháng cáo thể hiện quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng và được thực hiện theo quy định tại Điều 256 Bộ luật tố tụng dân sự. Trước khi bắt đầu phiên toà hoặc tại phiên toà phúc thẩm, người kháng cáo có quyền rút kháng cáo. Toà án cấp phúc thẩm đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với những phần của bản án mà người kháng cáo đã rút kháng cáo. Việc rút kháng cáo trước khi mở phiên toà phải được làm thành văn bản và gửi cho Toà án cấp phúc thẩm. Toà án cấp phúc thẩm phải thông báo cho các đương sự biết về việc rút kháng cáo. Việc rút kháng cáo tại phiên toà phải được ghi vào biên bản phiên toà.
5. Kháng cáo trong vụ án hình sự được quy định như thế nào?
Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự trực tuyến, gọi: 1900.6162
Trả lời:
Vấn đề của bạn chúng tôi tư vấn như sau:
Ở trường hợp này chúng tôi có thể hiểu: anh chỉ đẩy nhẹ anh Đ tuy nhiên do anh Đ đang say rượu và đứng bên bờ dốc nên liền bị ngã xuống rồi dẫn đến tử vong. Do nguyên nhân tử vong là ngã xuống dốc và bị chấn thương.
Trường hợp của anh nếu người nhà bị hại kháng cáo thì anh có thể bị chuyển sang tội vô ý làm chết người theo Khoản 1 Điều 98 Bộ luật hình sự 2015:
“người nào vô ý làm chết người thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm”.
Vì anh đã có những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Điểm b, o, p Khoản 01, Khoản 02 Điều 46:
"b. Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả.
o. người phạm tội tự thú;
p. người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải."
Dẫn tới quyết định hình phạt nhẹ hơn theo Điều 47 của Bộ luật hình sự:
“Khi có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 của Bộ luật này, Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định nhưng phải trong khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật; trong trường hợp điều luật chỉ có một khung hình phạt hoặc khung hình phạt đó là khung hình phạt nhẹ nhất của điều luật, thì Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn. Lý do của việc giảm nhẹ phải được ghi rõ trong bản án.”
Như vậy, từ căn cứ pháp lý nêu trên và tình huống của bạn thì chúng tôi có thể nhận định rằng.Trong trường hợp này nếu bên người bị hại làm đơn kháng cáo để yêu cầu tăng hình phạt. Thì khả năng cao nhất là bạn bị xác định bởi hành vi “Tội vô ý làm chết người”. Còn việc toàn án tuyên có hợp lý không thì còn phải dựa vào các lời khai của các nhân chứng, hồ sơ hiện trường và các tài liệu khác có liên quan để có nhận định chính xác nhất về yếu tố cấu thành hành vi phạm tội của bạn.
Theo chúng tôi bạn có thể viết đơn kháng cáo lên tòa án phúc thẩm. Yêu cầu giảm khung hình phạt theo điều 47 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi 2009 như được trích dẫn ở trên.
Bên cạnh đó, bạn làm đơn xem xét hưởng án treo theo quy đinh như sau:
Điều 60. Án treo
1. Khi xử phạt tù không quá ba năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, nếu xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ một năm đến năm năm.
2. Trong thời gian thử thách, Toà án giao người được hưởng án treo cho cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc hoặc chính quyền địa phương nơi người đó thường trú để giám sát và giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó.
3. Người được hưởng án treo có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định theo quy định tại Điều 30 và Điều 36 của Bộ luật này.
4. Người được hưởng án treo đã chấp hành được một phần hai thời gian thử thách và có nhiều tiến bộ thì theo đề nghị của cơ quan, tổ chức có trách nhiệm giám sát và giáo dục, Toà án có thể quyết định rút ngắn thời gian thử thách.
5. Đối với người được hưởng án treo mà phạm tội mới trong thời gian thử thách, thì Toà án quyết định buộc phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 51 của Bộ luật này.
Trên đây là tư vấn của Luật Minh Khuê,Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp.
Rất mong nhận được sự hợp tác!
Trân trọng./.
Bộ phận tư vấn pháp luật Hình sự - Công ty luật Minh Khuê