1. Người lao động có phải nộp phạt khi không có lỗi hay không?

Hiện tại, một số người đang sử dụng lao động đã áp dụng biện pháp phạt tiền đối với các vi phạm của người lao động. Số tiền phạt có thể dao động từ vài chục nghìn đồng đến hàng triệu đồng, và đôi khi có trường hợp người lao động không đủ khả năng trả số tiền này. Ngày nay, nhiều doanh nghiệp đã thiết lập quy tắc xử lý kỷ luật cho nhân viên vi phạm các quy định của công ty, như việc đến muộn, không hoàn thành công việc, hoặc vi phạm các nguyên tắc ứng xử, thông qua nhiều hình thức như viết biên bản ghi điểm, cảnh cáo, và thậm chí bằng hình thức phạt tiền.

Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 127 của Bộ luật lao động năm 2019, có một số hành vi bị nghiêm cấm trong việc xử lý kỷ luật lao động, bao gồm:

- Không được vi phạm sức khỏe, danh dự, tính mạng, uy tín, và nhân phẩm của người lao động.

- Nghiêm cấm áp dụng phạt tiền hoặc cắt lương thay vì tiến hành xử lý kỷ luật lao động.

- Không xử lý kỷ luật lao động đối với người lao động có hành vi vi phạm không được quy định trong nội quy lao động hoặc không thỏa thuận trong hợp đồng lao động đã ký kết hoặc không được quy định bởi pháp luật về lao động.

Do đó, việc sử dụng phạt tiền để thay thế cho việc xử lý kỷ luật lao động đối với các hành vi vi phạm là không tuân thủ quy định của pháp luật về lao động.

Mặt khác, Điều 585, Khoản 1 của Bộ luật dân sự năm 2015 quy định rằng "Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Đồng thời, theo Điều 587 của Bộ luật dân sự năm 2015, quy định về việc bồi thường thiệt hại do nhiều người gây ra như sau: Trong trường hợp nhiều người cùng gây thiệt hại, thì những người này sẽ chịu trách nhiệm bồi thường chung cho người bị thiệt hại. Mức độ trách nhiệm bồi thường thiệt hại của từng người trong trường hợp này sẽ được xác định tương ứng với mức độ lỗi của từng người; nếu không thể xác định được mức độ lỗi, thì họ phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo cách chia đều giữa họ.

Do đó, nếu có một sự cố xảy ra mà không có lỗi từ phía người lao động, họ sẽ không bị buộc phải nộp phạt và cũng không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

 

2. Các lỗi sẽ bị phạt tiền khi vi phạm trong lao động

Dựa vào Khoản 2 của Điều 127 trong Bộ luật Lao động năm 2019, quy định rằng người sử dụng lao động không được áp dụng biện pháp phạt tiền hoặc cắt lương thay vì việc xử lý kỷ luật lao động. Điều này có nghĩa là các tổ chức, doanh nghiệp không có quyền áp đặt phạt tiền lên người lao động. Tuy nhiên, cũng có một số trường hợp trong đó cơ quan Nhà nước có thẩm quyền có thể xử phạt người lao động trong các trường hợp sau đây:

- Theo Khoản 1 của Điều 20 trong Nghị định 12/2022/NĐ-CP, nếu người lao động không báo cáo kịp thời khi phát hiện nguy cơ xảy ra sự cố kỹ thuật gây mất an toàn và vệ sinh lao động, họ có thể bị phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng.

- Theo Khoản 1 của Điều 22 trong Nghị định 12/2022/NĐ-CP, nếu người lao động không sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân và không tham gia vào công tác khắc phục sự cố tai nạn lao động, họ có thể bị phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng.

- Theo Khoản 3 của Điều 32 trong Nghị định 12/2022/NĐ-CP, người lao động nước ngoài làm việc tại Việt Nam trái phép sẽ bị phạt từ 15.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng nếu họ làm việc mà không có giấy phép lao động hoặc không có văn bản xác nhận rằng họ không thuộc diện cấp giấy phép lao động theo quy định của pháp luật, hoặc sử dụng giấy phép lao động hoặc văn bản xác nhận không còn hiệu lực.

- Căn cứ vào Khoản 2 của Điều 34 trong Nghị định 12/2022/NĐ-CP, việc xử phạt liên quan đến việc đình công và hủy hoại tài sản của người sử dụng lao động sẽ từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng nếu người lao động thực hiện một trong những hành vi sau: cản trở quyền đình công, lôi kéo hoặc ép buộc người lao động tham gia đình công, cản trở người lao động không tham gia đình công và dùng bạo lực hoặc hủy hoại thiết bị máy hoặc tài sản của người sử dụng lao động, nhưng không đủ để đưa ra truy cứu trách nhiệm hình sự.

- Dựa theo Khoản 1 của Điều 39 trong Nghị định 12/2022/NĐ-CP, vi phạm về việc đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc và bảo hiểm thất nghiệp có thể bị phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng.

- Tại Khoản 1 của Điều 40 trong Nghị định 12/2022/NĐ-CP, vi phạm về việc lập hồ sơ để hưởng chế độ bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thất nghiệp đối với người lao động có thể bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng.

- Căn cứ vào Khoản 1 của Điều 46 trong Nghị định 12/2022/NĐ-CP, nếu người lao động ở lại nước ngoài trái pháp luật, họ có thể bị phạt tiền từ 80.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng.

Điều này đồng nghĩa rằng trong những tình huống cụ thể này, người lao động có thể bị áp dụng mức phạt tiền, tùy theo sự vi phạm cụ thể mà họ thực hiện.

 

3. Người lao động có buộc phải chứng minh mình không có lỗi khi bị xử lý kỷ luật không?

Theo Điều 122 của Bộ luật Lao động năm 2019, việc chứng minh lỗi trong quá trình xử lý kỷ luật lao động là trách nhiệm của người sử dụng lao động. Điều này có nghĩa rằng, khi người sử dụng lao động quyết định tiến hành xử lý kỷ luật đối với một hành vi cụ thể của người lao động, họ phải có trách nhiệm chứng minh rằng hành vi đó là do người lao động gây ra.

Do đó, người lao động không phải chứng minh bản thân mình vô tội khi bị đưa ra quá trình xử lý kỷ luật lao động. Hơn nữa, nếu người sử dụng lao động cung cấp các bằng chứng hoặc chứng cứ để chứng minh lỗi của người lao động, người lao động có quyền tự mình bào chữa cho hành vi của mình hoặc yêu cầu sự hỗ trợ từ một luật sư hoặc một tổ chức đại diện người lao động để bào chữa cho mình trong quá trình xử lý kỷ luật lao động.

 

4. Người lao động không có lỗi thì có bị xử lý kỷ luật không?

Hiện nay, một số doanh nghiệp thực hiện quy trình xử lý kỷ luật đối với người lao động mà có thể xảy ra trường hợp người lao động không vi phạm luật trong quá trình làm việc. Để tránh những tình huống không hợp lý về nộp phạt, hãy cùng tìm hiểu về quy định về xử lý kỷ luật lao động như sau:

- Khi đề nghị xử lý kỷ luật đối với người lao động, người sử dụng lao động phải cung cấp bằng chứng cho lỗi của người lao động.

- Cần phải có sự tham gia của tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở mà người lao động đang bị xử lý kỷ luật là thành viên của tổ chức này.

- Người lao động phải được tham gia và có quyền tự bào chữa bản thân, hoặc họ có quyền nhờ đến sự hỗ trợ của một luật sư hoặc tổ chức đại diện người lao động trong quá trình bào chữa.

- Trong trường hợp người lao động chưa đủ 15 tuổi, bắt buộc phải có sự tham gia của người đại diện theo pháp luật.

- Khi thực hiện quá trình xử lý kỷ luật lao động, phải lập biên bản để ghi lại toàn bộ quy trình.

Cần tuân theo quy định rằng không nên áp dụng nhiều hình thức xử lý kỷ luật lao động cho cùng một hành vi vi phạm kỷ luật của một người lao động. Trong trường hợp một người lao động vi phạm nhiều quy định về kỷ luật lao động, chỉ áp dụng hình thức kỷ luật cao nhất tương ứng với hành vi vi phạm nặng nhất.

Như vậy, để bị xử lý về vi phạm lao động, phải tuân theo quy định của pháp luật. Do đó, nếu người lao động không vi phạm, họ không cần phải nộp phạt bất kỳ hình thức kỷ luật nào. Ngoài ra, theo Điều 127 Bộ luật Lao động 2019 về các hành vi nghiêm cấm kỷ luật, người sử dụng lao động không được áp dụng biện pháp phạt tiền đối với lao động về bất kỳ loại chi phí nào.

Bài viết liên quan: Có bao nhiêu hình thức xử lý kỷ luật lao động? Các bước xử lý?

Mọi thắc mắc về mặt pháp lý vui lòng liên hệ đến số tổng đài: 1900.6162 hoặc email: lienhe@luatminhkhue.vn. Xin trân trọng cảm ơn!