1. Xử lý hành vi xúc phạm nhân phẩm người khác ?

Thưa luật sư, xin hỏi: Trên thực tế hành vi xúc phạm nhân phẩm của người khác sẽ bị xử phạt, xử lý như thế nào ? Khi nào hành vi này bị xử phạt ? Khi nào hành vi này bị truy cứu trách nhiệm hình sự ạ ?
Cảm ơn!

>> Luật sư tư vấn pháp luật Hình sự về xúc phạm danh dự, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Đúng là trên thực tiễn, hành vi xúc phạm nhân phẩm được thể hiện dưới nhiều dạng thức khác nhau. Luật Minh Khuê tập hợp một số vướng mắc của người dân thường gặp đối với hành vi này để tư vấn cụ thể:

1.1. Nhắn tin xúc phạm người khác

Thưa Luật sư, cho em hỏi với vụ việc này thì em nên kiện như thế nào ạ: Bạn em vào ở trọ chung với em mà không có giấy tờ tạm trú, em bảo với nó là tiền phòng là 1.100.000 VNĐ thì mỗi người sẽ là 550.000 VNĐ, và sẽ đóng trước tháng. Góp xong em cầm tiền đưa cho ông chủ trọ. Năm ngày sau nó chuyển đi, và muốn lấy lại số tiền thừa của nó. Nó bảo em phải là người đưa lại số tiền thừa vì chính em là người cầm tiền đưa ông chủ trọ. Em không chịu đưa và bảo phải nó phải xuống nói chuyện và lấy tiền từ ông chủ. Ông chủ đưa nó 300.000 VNĐ, rồi nó nhắn tin xúc phạm đến gia đình em.

Theo đó, em có nên kiện nó không, công an phường có giải quyết vụ này không ?

Em xin chân thành cảm ơn.

Trả lời:

Theo quy định tại khoản 1 Ðiều 34 Bộ luật Dân sự năm 2015 có quy định như sau:

“ Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.”

Theo quy định tại Ðiều 584 Bộ luật Dân sự có quy định:

“Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường”

Như vậy khi nhận thấy danh dự nhân phẩm của mình bị xâm phạm bạn có quyền khởi kiện dân sự có kèm nghĩa vụ chứng minh để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình đồng thời yêu cầu người gây ra thiệt hại phải bồi thường.

Theo thông tin bạn cung cấp cho chúng tôi thì hành vi của người đó chưa đủ để cấu thành bất cứ tội nào liên quan đến xâm phạm danh dự, nhân phẩm của người khác.

Đối với tội phạm quy định tại Điều 155 BLHS 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 có quy định:

"Điều 155. Tội làm nhục người khác

“1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.”

Trong cuộc sống hằng ngày thường xảy ra nhiều hành vi có tính chất làm nhục người khác nhưng chỉ coi là tội làm nhục người khác khi hành vi đó xúc phạm nghiêm trọng đến nhân phẩm, danh dự của nạn nhân. Nếu chỉ là những lời lẽ hành động có tính chất thiếu văn hóa như chửi rủa nhau ở đám đông, đổ nước bẩn vào nhau hoặc trong quán nhậu cãi nhau rồi hắt bia, rượu vào mặt nhau thì không phải là tội phạm, mà tùy trường hợp có thể bị xử phạt hành chính. Trường hợp bạn nêu không phạm tội quy định tại Điều 121 (như trên) vì chưa đủ yếu tố cấu thành. Vì việc xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác là làm tổn thương nghiêm trọng đến danh dự, nhân phẩm của người khác. Việc đánh giá mức độ xúc phạm có nghiêm trọng hay không phải căn cứ vào thái độ, nhận thức của người phạm tội; cường độ và thời gian kéo dài của hành vi xúc phạm; vị trí và môi trường xung quanh; vị trí, vai trò, uy tín của người bị hại trong gia đình, tổ chức hoặc trong xã hội, dư luận xã hội; môi trường diễn ra hành vi xúc phạm, sự tác động cụ thể đối với người bị hại (bị ảnh hưởng về tâm lý ),..

Tuy nhiên hành vi đó có thể bị xử phạt hành chính, bạn có thể làm đơn tố cáo hành vi của người đó và gửi ra công an khu vực, nếu đủ cơ sở chứng minh, tùy theo mức độ, hành vi của người đó có thể bị xử phạt hành chính theo quy định tại Điều 5 Nghị định số 167/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống, chống bạo lực gia đình như sau:

Điều 5. Vi phạm quy định về trật tự công cộng

“1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Có cử chỉ, lời nói thô bạo, khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác;”

Như vậy mức xử phạt có thể bị áp dụng với người có hành vi như bạn đã nêu là từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng.

1.2. Hành vi gọi điện quấy rối, đe doạ :

Em chào luật sư, Cho em hỏi vấn đề này ạ. Em có gặp trường hợp như thế này: chú này có một người con nuôi, khi chú nàybệnh thì có viết giấy uỷ quyền đât và nhà lại cho người cha. Sau khi ngườichú này mất thì người con nuôi này đòi bán đất để chia tài sản.

Người được uỷ quyền chịu bán nhưng vì chú này mới mất, người được uỷ quyền nói để tròn 100 ngày rồi sẽ bán, nhưng người con nuôi không chịu. Bây h, người connuôi tranh chấp và luôn tìm cách gọi điện đe doạ, xúc phạm người được uỷquyền. Người con nuôi nói rằng trong thời gian bệnh tật chú này không đủtỉnh táo để viết giấy uỷ quyền và nói giấy uỷ quyền không có chữ ký, không có mặt vợ con thì giấy uy quyền này không hợp pháp cho em hỏi:

- Thứ nhất: trong trường hợp ký giấy uỷ quyền mà không có chữ ký,khong cómặt vợ và con thì giấy uỷ quyền đó có hợp pháp không ạ. ( trường hợp ở trênlà con nuôi , nhưng chưa làm tròn nghĩa vụ chăm sóc người nuôi dưỡng lúcgià yếu bệnh tật). Tuy chú này bệnh nhưng vẫn còn khả năng nhận thức được.

- Thứ 2, em muốn hỏi hành vi gọi điện quấy rối, đe doạ và xúc phạm ngườikhác như trên có cấu thành tội làm nhục người khác không. ( có bằng chứnglà có ghi âm lại lời đe doạ, xúc phạm). Trong trường hợp này phải giải quyết như thế nào ạ. Em nhờ luật sư giải đáp trường hợp này giúp em với ?

Mong nhận được thư của luật sư. Em cảm ơn nhiều ạ.

Luật sư trả lời:

Thứ nhất: Trường hợp người chết không để lại di chúc thì tài sản người chết để lại sẽ được chia theo quy định pháp luật nếu có tranh chấp. Trường hợp mà bạn đề cập đến ở trong câu hỏi là tài sản có tranh chấp do người chết không để lại di chúc, còn giấy ủy quyền như bạn đã nói là không có giá trị pháp lý trong trường hợp này nữa. Nếu không có di chúc thì mảnh đất này sẽ chia theo quy định pháp luật, vì vậy người trông coi mảnh đất này nếu không có căn cứ nào khác sẽ không được quyền lợi gì từ mảnh đất đang tranh chấp này. Căn cứ theo Điều 609 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về quyền thừa kế như sau;

"Điều 609. Quyền thừa kế

Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật.

Người thừa kế không là cá nhân có quyền hưởng di sản theo di chúc."

Căn cứ theo Điều 616 người quản lý đi sản quy định như sau:

"Điều 616. Người quản lý di sản

1. Người quản lý di sản là người được chỉ định trong di chúc hoặc do những người thừa kế thỏa thuận cử ra.

2. Trường hợp di chúc không chỉ định người quản lý di sản và những người thừa kế chưa cử được người quản lý di sản thì người đang chiếm hữu, sử dụng, quản lý di sản tiếp tục quản lý di sản đó cho đến khi những người thừa kế cử được người quản lý di sản.

3. Trường hợp chưa xác định được người thừa kế và di sản chưa có người quản lý theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì di sản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quản lý."

Thứ hai: Đối với trường hợp người con nuôi có hành vi chửi bới, xúc phạm người khác thì có thể căn cứ vào mức độ, tính chất của hành vi đấy như thế nào và hậu quả đối với người khác như thế nào thì có thể căn cứ vào các nội dung đấy để truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc xử lý hành chính. Vậy nên căn cứ theo Điều 155 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định thì người này rất có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội làm nhục người khác.

"Điều 155. Tội làm nhục người khác

1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:

a) Phạm tội 02 lần trở lên;

b) Đối với 02 người trở lên;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Đối với người đang thi hành công vụ;

đ) Đối với người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình;

e) Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;

g) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%;

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:

a) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên;

b) Làm nạn nhân tự sát.

4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm."

Từ căn cứ pháp lý và nội dung tư vấn của Luật sư ở trên hy vọng bạn đã rõ quy định pháp luật về vấn đề mà mình đang mắc phải từ đó có phương án giải quyết vấn đề của mình hiệu quả và đúng quy định pháp luật.

1.3. Uống rượu chửi bới, xúc phạm nhân phẩm người khác

Thưa luật sư, Ở xóm tôi có một người luôn luôn uống rượu say về chửi bới, đánh đập, đuổi vợ ra khỏi nhà. rồi chửi bới hàng xóm láng giềng, lam ảnh hưởng đến người khác thì có phạm tội gì không?

Cảm ơn!

Trả lời:

Căn cứ theo điểm a khoản 1 điều 5 Nghị định 167/2013/NĐ- CP:

"Điều 5: Vi phạm quy định về trật tự công cộng

1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a) Có cử chỉ, lời nói thô bạo, khiêu khích, trêu ghẹo, xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác;"

Như vậy, hành vi xúc phạm tới anh và hàng xóm của người đàn ông kia sẽ bị xử phạt hành chính từ 100.000đ đến 300.000đ. Trong trường hợp sử dụng rượu bia dẫn tới say xỉn và có hành vi xúc phạm nghiêm trọng tới nhân phẩm và danh dự thì sẽ bị xử phạt và truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật hiện hành.

Căn cứ theo Điều 155 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:

"Điều 14. Phạm tội trong tình trạng say do dùng rượu hoặc chất kích thích mạnh khác

Người phạm tội trong tình trạng say do dùng rượu hoặc chất kích thích mạnh khác, thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự.

"Điều 155. Tội làm nhục người khác

1. Người nào xúc phạm nghiêm trọng nhân phẩm, danh dự của người khác, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm:

a) Phạm tội 02 lần trở lên;

b) Đối với 02 người trở lên;

c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

d) Đối với người đang thi hành công vụ;

đ) Đối với người dạy dỗ, nuôi dưỡng, chăm sóc, chữa bệnh cho mình;

e) Sử dụng mạng máy tính hoặc mạng viễn thông, phương tiện điện tử để phạm tội;

g) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân từ 11% đến 45%;

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:

a) Gây rối loạn tâm thần và hành vi của nạn nhân 46% trở lên;

b) Làm nạn nhân tự sát.

4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm."

Như vậy, trong tình trạng say do dùng bia rượu và có hành vi xúc phạm nghiêm trọng tới nhân phẩm, danh dự của người khác thì sẽ bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm, việc xúc phạm đối với nhiều người sẽ được coi là tình tiết tăng nặng để cơ quan chức năng đưa ra mức xử phạt cụ thể cho tội danh này.

1.4. Xúc phạm, hành hạ mẹ chồng có sao không ?

Thưa luật sư, Tôi muốn hỏi: Con xúc phạm danh dự, nhân phẩm mang tính chất hành hạ làm cho cha mẹ đau đớn, khổ sở sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự ?

Cảm ơn!

Trả lời:

Theo quy định tại Điều 25 và Điều 37 Bộ luật Dân sự, danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ. Khi một người bị người khác xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm thì có quyền yêu cầu người vi phạm hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai. Trong trường hợp bị thiệt hại thì họ có quyền yêu cầu người vi phạm hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người vi phạm bồi thường thiệt hại.

Về nghĩa vụ tôn trọng danh dự, nhân phẩm của con cái đối với cha mẹ, Điều 35 Luật Hôn nhân và Gia đình đã quy định con cái có bổn phận yêu quý, kính trọng, biết ơn và hiếu thảo với cha mẹ. Con có quyền và đồng thời cũng là nghĩa vụ phải chăm sóc, nuôi dưỡng cha mẹ. Pháp luật nghiêm cấm con có hành vi ngược đãi, hành hạ, xúc phạm cha mẹ. Mọi hành vi ngược đãi, hành hạ, xúc phạm cha mẹ đều là vi phạm pháp luật, tùy theo tính chất, mức độ mà bị xử lý theo các quy định của pháp luật.

Cụ thể như sau:

Trường hợp con có hành vi xúc phạm nghiêm trọng đến danh dự, nhân phẩm của cha mẹ (có dấu hiệu hình sự) thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “làm nhục người khác” được quy định tại Điều 121 Bộ luật Hình sự.

Trường hợp hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người con mang tính chất hành hạ làm cho cha mẹ đau đớn, khổ sở hoặc mang tính chất ngược đãi như đối xử tàn nhẫn đối với cha mẹ gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “ngược đãi hoặc hành hạ cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình” được quy định tại Điều 151 Bộ luật Hình sự.

Như vậy, với các quy định mà chúng tôi vừa viện dẫn, trong trường hợp khuyên bảo con dâu không đạt kết quả, chị gái của bạn cần đề nghị cơ quan có thẩm quyền có biện pháp xử lý thích hợp đối với hành vi trái pháp luật của con dâu theo các quy định nêu trên.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại gọi ngay số: 1900.6162 để được giải đáp. Rất mong nhận được sự hợp tác! Trân trọng./

>> Xem thêm:  Mẫu đơn trình báo công an mới nhất năm 2020, Cách viết đơn trình báo

2. Xúc phạm quá khứ phạm tội của người khác có phạm luật không ?

Thưa luật sư, Tôi từng là một người vi phạm pháp luật. Thời gian tôi được trở về hòa nhập với cộng đồng cũng đã gần 1 năm. Tôi đã có việc làm ổn định, phần lớn mọi người xung quanh cũng đã thấy được sự thay đổi của tôi nên không ai có lời nói hay hành động gì để khiến tôi phải cảm thấy mặc cảm.
Song bên cạnh đó khách hàng của tôi - là một người đã lớn tuổi, lại có trình độ học vấn và nhận thức, có địa vị trong xã hội lại đưa quá khứ của tôi ra và có những lời nói xúc phạm tới tôi. Đúng là tôi không thể phủ nhận những điều tôi đã từng làm nhưng giờ tôi đã biết hướng thiện và sống có ích. Tôi rất bức xúc về hành động và lời nói của người đó. Tôi phải làm sao để sự việc đó không tiếp diễn và tôi được an tâm tư tưởng để tiếp tục làm việc và là một công dân lương thiện?
Người hỏi: N.T.H

Theo Điều 20 Hiến pháp năm 2013:

Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo vệ về sức khỏe, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức hay bất cứ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm.

Theo quy định tại khoản 1 Ðiều 34 Bộ luật Dân sự năm 2015 có quy định như sau:

“ Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.”

Như vậy, quyền được tôn trọng và bảo vệ danh dự, nhân phẩm là quyềnhợp pháp của mỗi công dân. Trong trường hợp trên, theo thông tin bạn cung câp thì bạn đang bị khách hàng xúc phạm danh dự, nhân phẩm.

1. Nếu việc xúc phạm mới ở mức độ nhẹ thì bạn có thể khuyên nhủ khách hàng tôn trọng bạn, thông qua việc đưa ra những quy định của pháp luật về quyền được tôn trọng và bảo vệ danh dự, nhân phẩm; về việc bạn đã hoàn lương và đang có những thay đổi tích cực, được tất cả mọi người công nhận và ủng hộ. Đồng thời, bạn có thể cùng họ hàng, hàng xóm hoặc người thân của người khách hàng đó khuyên nhủ anh (chị) ấy (Vì theo thông tin của bạn, người khách hàng đó là người có học vấn và địa vị trong xã hội).

2. Nếu việc xúc phạm ở mức độ nghiêm trọng, tiếp diễn nhiều lần thì bạn có thể làm đơn gửi đến cơ quan có thẩm quyền (Cơ quan công an, Tòa án nhân dân cấp huyện...) để được giải quyết.

Bạn có quyền yêu cầu người đó bồi thường thiệt hại do bị xâm phạm danh dự, nhân phẩm. Theo quy định tại Ðiều 584 Bộ luật Dân sự có quy định:

“Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường”

Thiệt hại do nhân phẩm, danh dự bị xâm phạm được xác định tại Điều 592 Bộ luật Dân sự:

Điều 592. Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm
1. Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm bao gồm:
a) Chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại;
b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút;
c) Thiệt hại khác do luật quy định.
2. Người chịu trách nhiệm bồi thường trong trường hợp danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác bị xâm phạm phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa cho một người có danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm không quá mười lần mức lương cơ sở do Nhà nước quy định.

Ngoài ra, nếu hành vi của người đó thỏa mãn cấu thành tội phạm thì người đó có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội làm nhục người khác quy định tại Điều 155 Bộ luật Hình sự 2015

Do đó bạn nên xem xét và lựa chọn cách giải quyết phù hợp nhất. Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cám ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty Luật Minh Khuê!

>> Xem thêm:  Đăng bài viết đòi nợ trên mạng xã hội có được xem là xúc phạm danh dự không?

3. Đăng ảnh nhục mạ người khác qua facebook bị xử lý như thế nào ?

Thưa Luật sư, tôi có câu hỏi như sau: Tôi bị một người ăn cắp facebook của mình và đăng tải những hình ảnh nhục mạ lên chính facebook của tôi. Vậy tôi phải làm như thế nào ?
Xin cảm ơn Luật sư!

>> Luật sư tư vấn trực tuyến về làm nhục người khác, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo thông tin bạn cung cấp thì bạn bị người khác xâm phạm đời tư và bôi nhọ danh dự, nhân phẩm. Như vậy, người này sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Nghị định 15/2020/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi pham hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin và tần số vô tuyến điện. Cụ thể là:

Vi phạm Điều 99 và Điều 102. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

2. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

d) Giả mạo trang thông tin điện tử của tổ chức, cá nhân khác;

g) Cung cấp, trao đổi, truyền đưa hoặc lưu trữ, sử dụng thông tin số nhằm đe dọa, quấy rối, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác;

h) Cung cấp, trao đổi, truyền đưa hoặc lưu trữ, sử dụng thông tin số nhằm quảng cáo, tuyên truyền hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục bị cấm;

Ngoài ra, nếu thỏa mãn cấu thành tội phạm thì người đó có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội làm nhục người khác theo BLHS 2015

Bạn có thể tố cáo hành vi trên đến cơ quan công an cấp xã, cơ quan công an cấp huyện, Tòa án nhân dân cấp huyện, Viện Kiểm sát nhân dân cấp huyện để được giải quyết vấn đề của mình, theo quy định tại Điều 144 Bộ Luật Tố Tụng Hình sự 2015

Điều 144. Tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố
1. Tố giác về tội phạm là việc cá nhân phát hiện và tố cáo hành vi có dấu hiệu tội phạm với cơ quan có thẩm quyền.
2. Tin báo về tội phạm là thông tin về vụ việc có dấu hiệu tội phạm do cơ quan, tổ chức, cá nhân thông báo với cơ quan có thẩm quyền hoặc thông tin về tội phạm trên phương tiện thông tin đại chúng.
3. Kiến nghị khởi tố là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền kiến nghị bằng văn bản và gửi kèm theo chứng cứ, tài liệu liên quan cho Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có thẩm quyền xem xét, xử lý vụ việc có dấu hiệu tội phạm.
4. Tố giác, tin báo về tội phạm có thể bằng lời hoặc bằng văn bản.
5. Người nào cố ý tố giác, báo tin về tội phạm sai sự thật thì tuỳ tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của luật.

Trên đây là những tư vấn của chúng tôi về vấn đề của bạn. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và lựa chọn công ty Luật Minh Khuê!

>> Xem thêm:  Mức phạt về tội làm nhục người khác như thế nào ? Phát tán video nhạy cảm bị phạt thế nào ?

4. Cơ quan nào có trách nhiệm giải quyết vu khống ?

Thưa Luật sư, trường tiểu học của tôi có giáo viên bị mẹ chồng tố cáo là nói xấu, vu khống mẹ chồng vu khống mẹ chồng về vấn đề liên quan đến hôn nhân gia đình cô ấy. Đây có phải là trách nhiệm giải quyết của Hiệu trưởng nhà trường không ?
Xin chân thành cảm ơn Luật sư.

Giải quyết vu khống có phải trách nhiệm của Hiệu trưởng nhà trường ?

Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua điện thoại gọi: 1900.6162

Trả lời:

Theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015, khi quyền nhân thân của cá nhân bị xâm phạm thì họ có quyền bảo vệ quyền nhân thân như sau:

Điều 34. Quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín
1. Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ.
2. Cá nhân có quyền yêu cầu Tòa án bác bỏ thông tin làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình.
Việc bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín có thể được thực hiện sau khi cá nhân chết theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc con thành niên; trường hợp không có những người này thì theo yêu cầu của cha, mẹ của người đã chết, trừ trường hợp luật liên quan có quy định khác.
3. Thông tin ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được đăng tải trên phương tiện thông tin đại chúng nào thì phải được gỡ bỏ, cải chính bằng chính phương tiện thông tin đại chúng đó. Nếu thông tin này được cơ quan, tổ chức, cá nhân cất giữ thì phải được hủy bỏ.
4. Trường hợp không xác định được người đã đưa tin ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của mình thì người bị đưa tin có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố thông tin đó là không đúng.
5. Cá nhân bị thông tin làm ảnh hưởng xấu đến danh dự, nhân phẩm, uy tín thì ngoài quyền yêu cầu bác bỏ thông tin đó còn có quyền yêu cầu người đưa ra thông tin xin lỗi, cải chính công khai và bồi thường thiệt hại.

Do đó, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền trong trường hợp này là cơ quan công an, tòa án, ...Hiệu trưởng trường học không có thẩm quyền và trách nhiệm buộc một người chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai vì đã có hành vi xúc phạm danh dự, nhân phẩm của một người khác.

Trong trường hợp, trường tiểu học của tôi có giáo viên bị mẹ chồng tố cáo là nói xấu, vu khống mẹ chồng vu khống mẹ chồng về vấn đề liên quan đến hôn nhân gia đình cô ấy thi đây không phải là trách nhiệm giải quyết của Hiệu trưởng nhà trường.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Tư vấn về Tội vu khống, bôi nhọ danh dự làm hạ thấp uy tín cá nhân, Doanh nghiệp ?

5. Bị nhục mạ trên mạng phải xử lý như thế nào ?

Thưa luật sư, Em trai tôi mới ly hôn vợ được vài tháng nay vì vợ quá hư với chồng và bố mẹ chồng nên không sống được với nhau ,trong thời gian chưa ly hôn cô ấy toàn ở nhà bố mẹ đẻ và bị bệnh Jì chúng tôi ko rõ vì ko nói cho gia đình chúng tôi biết.hiện nay e trai tôi chuẩn bị kết hôn .vợ cũ của e trai tôi lên feacbook dùng ních khác chửi và sỉ nhục bôi nhọ danh dự gia đình tôi quá nhiều tôi muốn điều tra làm rõ thì phải làm thế nào ?
Cảm ơn!

Luật sư phân tích:

Bạn làm đơn tố cáo lên cơ quan công an về hành vi xâm phạm danh dự, nhân phẩm của bạn.

Để thực hiện việc tố cáo, cần có trình tự tố cáo được quy định theo Luật tố cáo như sau:

Khi làm đơn, người tố cáo phải làm đơn gửi đến cơ quan có thẩm quyền qua đường bưu điện hoặc đến trực tiếp cơ quan.

Trong đơn tố cáo cần có nội dung chính gồm:

+ Tên cơ quan nhận đơn;

+ Họ, tên, địa chỉ của người tố cáo;

+ Họ, tên, địa chỉ của người có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm hại (nếu có);

+ Họ, tên, địa chỉ của người bị tố cáo;

+ Họ, tên, địa chỉ của người có quyền và nghĩa vụ liên quan;

+ Nêu rõ hành vi vi phạm pháp luật của người bị tố cáo; những vấn đề cụ thể yêu cầu cơ quan tiếp nhận Đơn tố cáo giải quyết và các tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho việc tố cáo của mình là có căn cứ và hợp pháp.

Thưa luật sư, Có một lần tôi có uống rượu say.được bạn lai về..bỏ tôi ở một quán quen ngủ..ở đó có mấy người thanh niên..thấy tôi say đã lấy vàng hương để lên ngực tôi.còn chụp ảnh quay phim lại..xong đăng lên face book..còn viêt stt anh lên đường vui vẻ..làm tôi rất sốc.vậy cho tôi được hỏi ..người đó đã vi phạm pl vơi hành vi sử dụng hình ảnh hạ nhục danh dự.nhân phẩm.khj nguoi đó ko thể kiêm soát.khj không được cho phép mà đăng tải ảnh.. 1..nếu vi phạm vậy.có bị truy cưu trách nhiên ko 2..căn cứ pháp luật 3 ...xử phạt như thế nào.. 4 ...và nếu cần tố cáo tôi cần làm thủ tục thế nào.gửi cho cơ quan nào

=> 1. Trường hợp này người đó đã đăng tải hình ảnh cá nhân của bạn lên mạng với mục đích xâm phạm danh dự, nhân phẩm của bạn khi chưa được sự đồng ý của bạn nên hành vi này là vi phạm pháp luật. Bạn có thể khởi kiện yêu cầu những người này bồi thường dân sự cho bạn vì không đủ yếu tố để truy cứu trách nhiệm hình sự.

2, 3. Căn cứ pháp luật trong trường hợp này là theo quy định tại Điều 584 Bộ luật dân sự 2015 chúng tôi đã cung cấp bên trên.

Theo quy định tại khoản 1 Ðiều 34 Bộ luật Dân sự năm 2015 có quy định như sau:

“ Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.”

Theo quy định tại Ðiều 584 Bộ luật Dân sự có quy định:

“Người nào do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường”

Vi phạm Điều 99 và Điều 102. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

2. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau:

d) Giả mạo trang thông tin điện tử của tổ chức, cá nhân khác;

g) Cung cấp, trao đổi, truyền đưa hoặc lưu trữ, sử dụng thông tin số nhằm đe dọa, quấy rối, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín của tổ chức, danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác;

h) Cung cấp, trao đổi, truyền đưa hoặc lưu trữ, sử dụng thông tin số nhằm quảng cáo, tuyên truyền hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục bị cấm;

4. Trường hợp cần tố cáo thì bạn làm đơn tố cáo như chúng tôi đã cung cấp bên trên. Kèm theo đó là bản sao chứng minh nhân dân và sổ hộ khẩu có công chứng của bạn và người bị tố cáo.

Thưa luật sư, xin hỏi: Mẹ tôi đang nằm ở trong nhà thì bé H (bé H SN 2000 là em bạn dì với tôi) đến nhà và đòi lấy quần áo của H (trước đó nó có ở nhà tôi khoảng 10 ngày) mẹ tôi trả lời là không có quần áo gì ở nhà tao hết. xong bé H dùng những lời lẽ thô tục chửi bới mẹ tôi và còn vu oan cho mẹ tôi lấy số tiền là 25 triệu đồng và 1 sợi dây chuyền vàng, vừa đi vừa chửi mẹ tôi khắp sớm. vừa lúc đó tôi vừa đi học về nghe xong sự việc tôi không kiềm chế được vì quá nóng giận tôi đã dã vào miệng mấy cái tát tay. hỏi theo luật sư như sự việc tôi kể trên thì phải xử lý như thế nào, tôi có nên làm đơn khiếu nại hay không ?

=> Lúc này bạn nên yêu cầu hòa giải Ủy ban nhân dân cấp xã để yêu cầu bé H xin lỗi và bồi thường thiệt hại.

Nếu bạn muốn giải quyết sâu hơn bạn có thể làm đơn khởi kiện về hành vi xâm phạm danh dự, nhân phẩm của mẹ bạn và việc bé H vu khống. Bộ luật hình sự quy định tại Điều 122. Tội vu khống.

Thưa luật sư, xin hỏi: Anh trai tôi cứ uống rượu vào là chửi vợ chồng chúng tôi, xin luật sư tư vấn giúp tôi đe giải quyết việc này như thế nào thì lần sau anh ấy say rượu về không chửi mắng chúng tôi vô cớ nữa,có nên mời công an phường xuống giải quyết ?

=> Trường hợp này bạn nên yêu cầu cơ quan công an giải quyết nếu anh ấy còn tiếp tục có hành vi như vậy. Khí đó, anh ấy có thể bị lập biên bản và bị xử phạt vi phạm hành chính. Từ đó anh ấy có thể nhận biêt được hành vi của mình là vi phạm pháp luật để không còn tiếp diễn như vậy nữa.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Khi bị đánh có khởi kiện được không ? Đánh ghen khi nào thì vi phạm pháp luật ?