1. Khi ly hôn có thể nộp đơn ở Tòa án nào ?

Chào luật sư, tôi ở huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long, chồng tôi ở Ninh Thuận, chúng tôi đăng ký kết hôn ở xã Nhơn Sơn, tỉnh Ninh Thuận. Hiện tại chồng tôi sống ở thành phố Hồ Chí Minh và không có KT3 mà chỉ có giấy đăng ký tạm trú. Thì xin hỏi luật sư: như vậy tôi cần nộp đơn ở đâu?
Mong sớm nhận được tư vấn của luật sư, xin cảm ơn!

Luật sư tư vấn:

Theo như thông tin bạn cung cấp, bạn ở huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long, chồng bạn ở Ninh Thuận, hai bạn đăng ký kết hôn ở xã Nhơn Sơn, tỉnh Ninh Thuận. Hiện tại chồng bạn sống ở thành phố Hồ Chí Minh và không có KT3 mà chỉ có giấy đăng ký tạm trú. Bạn không nói là mình ly hôn đơn phương hay ly hôn thuận tình, do đó, tùy vào từng trường hợp sau:

Trường hợp thứ nhất, vợ chồng bạn ly hôn thuận tình:

Căn cứ theo khoản 2 Điều 29 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định về những yêu cầu về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án:

"2. Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn."

Căn cứ theo điểm b khoản 2 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn cho hai bạn. Cũng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 tại điểm h khoản 2 Điều 39 quy định về thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ:

"h) Tòa án nơi một trong các bên thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, thỏa thuận nuôi con, chia tài sản khi ly hôn;"

Dẫn chiếu đến Điều 12 Luật Cư trú năm 2006, sửa đổi, bổ sung năm 2013 quy định về nơi cư trú của công dân:

"1. Nơi cư trú của công dân là chỗ ở hợp pháp mà người đó thường xuyên sinh sống. Nơi cư trú của công dân là nơi thường trú hoặc nơi tạm trú.

Chỗ ở hợp pháp là nhà ở, phương tiện hoặc nhà khác mà công dân sử dụng để cư trú. Chỗ ở hợp pháp có thể thuộc quyền sở hữu của công dân hoặc được cơ quan, tổ chức, cá nhân cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ theo quy định của pháp luật.

Nơi thường trú là nơi công dân sinh sống thường xuyên, ổn định, không có thời hạn tại một chỗ ở nhất định và đã đăng ký thường trú.

Nơi tạm trú là nơi công dân sinh sống ngoài nơi đăng ký thường trú và đã đăng ký tạm trú.

2. Trường hợp không xác định được nơi cư trú của công dân theo quy định tại khoản 1 Điều này thì nơi cư trú của công dân là nơi người đó đang sinh sống."

Như vậy, khi vợ chồng bạn ly hôn thuận tình thì Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc của bạn là Tòa án nhân dân cấp huyện nơi bạn hoặc chồng bạn cư trú: có thể là đăng ký thường trú hoặc đăng ký tạm trú.

Trường hợp thứ hai, vợ chồng bạn ly hôn đơn phương từ một bên:

Căn cứ Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định thì khi ly hôn mà có tranh chấp về con chung, tài sản chung thì thuộc một trong các trường hợp những tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Cũng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35:

"1. Tòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp sau đây:

a) Tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình quy định tại Điều 26 và Điều 28 của Bộ luật này, trừ tranh chấp quy định tại khoản 7 Điều 26 của Bộ luật này;"

Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 cũng quy định về thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ theo đó, thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo lãnh thổ được xác định như sau: Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc nếu bị đơn là cá nhân; Các đương sự có quyền tự thỏa thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Tòa án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn.

Như vậy, trong trường hợp vợ chồng bạn không thuận tình ly hôn, có nghĩa là vợ hoặc chồng làm đơn ly hôn đơn phương. Cụ thể: khi vợ là nguyên đơn (người làm đơn khởi kiện) thì vợ phải nộp đơn tại Tòa án nhân dân cấp quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh nơi chồng cư trú (có thể là đăng ký tạm trú hoặc có hộ khẩu thường trú) hoặc chồng làm việc. Ngược lại, chồng là người làm đơn ly hôn thì phải nộp đơn ly hôn tại Tòa án nhân dân cấp quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh nơi vợ cư trú hoặc làm việc.

Trên đây là tư vấn của chúng tôi về yêu cầu của bạn. Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại: 1900.6162 để được giải đáp. Trân trọng./.

>> Xem thêm:  Thủ tục xin ly hôn khi đang mang thai ? Cơ quan nào có thẩm quyền giải quyết ly hôn ?

2. Yêu cầu trợ cấp cho "thai nhi" khi yêu cầu ly hôn ?

Thưa Luật sư, khi hai vợ chồng ly hôn nếu người vợ đang mang bầu có được quyền đòi trợ cấp nuôi con không?
Xin cảm ơn!
Người gửi: N.T.H.Thương.

Vợ đang mang thai ly hôn có được quyền đòi trợ cấp nuôi con?

Tư vấn Luật hôn nhân gia đình gọi: 1900.6162

Trả lời:

1. Chồng yêu cầu ly hôn:

Nếu trong thời gian người vợ đang mang thai thì người chồng không có quyền yêu cầu ly hôn theo quy định tại Khoản 3, Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình 2014:

"Điều 51. Quyền yêu cầu giải quyết ly hôn

....3. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi."

Do vậy, thủ tục ly hôn không thể diễn ra trong trường hợp này và vấn đề cấp dưỡng cho người vợ đang mang thai cũng không được đặt ra.

2. Vợ chồng thuận tình ly hôn hoặc người vợ yêu cầu ly hôn:

Thuận tình ly hôn được quy định tại Điều 55, Luật hôn nhân và gia đình 2014:

"Điều 55. Thuận tình ly hôn

Trong trường hợp vợ chồng cùng yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án công nhận thuận tình ly hôn; nếu không thỏa thuận được hoặc có thỏa thuận nhưng không bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con thì Tòa án giải quyết việc ly hôn."

Trong trường hợp này, nếu vợ chồng bạn cùng đồng ý ly hôn và đã thỏa thuận được về việc chia tài sản, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục con thì vấn đề cấp dưỡng cho người vợ đang mang thai cũng không được đặt ra.

Tuy nhiên, vấn đề cấp dưỡng cho vợ đang mang thai sau khi ly hôn có thể được đặt ra khi vợ chồng thuận tình ly hôn mà người vợ yêu cầu người chồng cấp dưỡng hoặc khi người vợ yêu cầu ly hôn và yêu cầu người chồng cấp dưỡng.

Về vấn đề cấp dưỡng, luật hôn nhân và gia đình quy định tại Điều 115, Luật hôn nhân và gia đình 2014:

"Điều 115. Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn

Khi ly hôn nếu bên khó khăn, túng thiếu có yêu cầu cấp dưỡng mà có lý do chính đáng thì bên kia có nghĩa vụ cấp dưỡng theo khả năng của mình."

Như vậy, pháp luật không quy định cụ thể bắt buộc người chồng phải cấp dưỡng cho người vợ đang mang thai sau khi ly hôn. Do đó, khi vợ chồng ly hôn mà người vợ đang mang thai thì người vợ có quyền yêu cầu người chồng cấp dưỡng nếu khó khăn, túng thiếu và người chồng sẽ thực hiện nghĩa vụ theo khả năng của mình.

>> Xem thêm:  Tư vấn giải quyết cưỡng chế thi hành án khi chồng không thực hiện nghĩa vụ tài sản sau ly hôn ?

3. Sau khi ly hôn có phải trợ cấp cho vợ ?

Xin chào luật sư. Tôi có vấn đề mong nhận được sự tư vấn của luật sư. Tôi và vợ tôi kết hôn được 10 năm, nhưng hiện nay do cuộc sống không hòa thuận nên muốn làm đơn ra tòa ly hôn. Tôi muốn hỏi một vấn đề đó là sau khi tôi tiến hành ly hôn vợ thì tôi có phải lấy tài sản riêng của tôi để thực hiện việc cấp dưỡng cho vợ tôi hay không?
Tại hiện nay vợ tôi đã xin nghỉ việc và không có việc làm. Và nếu như phải trợ cấp thì mức trợ cấp đối với vợ là bao nhiêu?
Tôi xin chân thành cảm ơn!

Trả lời:

3.1. Căn cứ pháp lý

Luật hôn nhân và gia đình 2014.

3.2. Nội dung tư vấn:

Theo quy định tại Điều 115 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định về nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn như sau:

"Điều 115. Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn

Khi ly hôn nếu bên khó khăn, túng thiếu có yêu cầu cấp dưỡng mà có lý do chính đáng thì bên kia có nghĩa vụ cấp dưỡng theo khả năng của mình."

Theo quy định trên thì khi bạn ly hôn mà người vợ này khó khăn, túng thiếu và muốn nhận được cấp dưỡng từ bạn mà có lý do chính đáng thì bạn có nghĩa vụ cấp dưỡng theo khả năng của mình. Việc vợ của bạn không có việc làm là một căn cứ cho việc vợ của bạn khó khăn túng thiếu trong cuộc sống sau khi ly hôn. Về mức cấp dưỡng sau khi ly hôn được quy định tại Điều 116 Luật hôn nhân và gia đình 2014 về mức cấp dưỡng như sau:

"Điều 116. Mức cấp dưỡng

1. Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết."

Về mức cấp dưỡng theo quy định của luật này thì sẽ phụ thuộc sự thỏa thuận giữa bên cấp dưỡng và bên nhận cấp dưỡng. Căn cứ để tính cấp dưỡng phụ thuộc vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người nhận cấp dưỡng. Như vậy, lúc này việc cấp dưỡng sẽ phụ thuộc vào khả năng của người cấp dưỡng do đó việc bạn có tài sản riêng là căn cứ để xét về khả năng và thu nhập của bạn. Nếu khi ly hôn mà vợ bạn yêu cầu được cấp dưỡng và đáp ứng được điều kiện theo quy định thì việc bạn có tài sản riêng cũng là căn cứ để chứng minh khả năng kinh tế của bạn để thực hiện việc cấp dưỡng.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: 1900.6162 hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

>> Xem thêm:  Việc chia tài sản trước khi ra tòa ly hôn có vi phạm pháp luật không ?

4. Đơn ly hôn ký rồi thay đổi được không ?

Kính gửi Luật sư công ty luật Minh Khuê. Tôi và chồng cưới nhau từ tháng 6 năm 2013, vì tôi có bầu trước nên chúng tôi tổ chức cưới mà chưa tìm hiểu kỹ về hoàn cảnh đối phương như thế nào. Khi tôi mang bầu đến tháng thứ 8 thì tôi phát hiện chồng tôi là người đồng tính (bên nhà chồng tôi biết nhưng giấu tôi).
Đồng thời vợ chồng sống không đồng thuận, thường xuyên cãi vã, vì nghĩ cho đứ con sau này lớn lên sẽ sống trong môi trường không hạnh phúc nên tôi quyết định ly hôn và bồng con về nhà cha mẹ tôi ở quê để chăm sóc. Nhưng trong lúc cãi vã chồng tôi đã ẵm con tôi bỏ đi, khoảng mấy tiếng sau mới quay lại và còn dọa sẽ ẵm nó đi sài gòn , không cho tôi nhìn mặt. Rất lo sợ, và đấu tranh dữ dội tôi mới ẵm con về nhà ba mẹ tôi được. Chồng tôi có đưa tôi tờ đơn ly hôn. Tôi thì không biết rõ trong đó có nội dung gì nên vội vã ký tên ngay để thoát khỏi cảnh sống vật vã bên nhà chồng. Sau khi về tôi tìm hiểu trên mạng mới thấy trong tờ đơn có nội dung về phần tài sản và con riêng. Về tài sản thì tôi không giành giật gì cả, còn về phần con riêng, tôi sợ không biết chồng tôi ghi gì trong đó.
Tôi có điện thoại hỏi thì chồng tôi nói đã gửi đơn rồi, con thì để tôi nuôi, nhưng tôi thật sự không tin tưởng nổi. Tôi xin hỏi chuyên mục rằng tôi có quyền nuôi con phải không? Và tờ đơn tôi ký có hiệu lực không?
Xin chân thành cảm ơn!

Sau ly hôn có phải trợ cấp cho vợ?

Luật sư tư vấn luật Hôn nhân gia đình trực tuyến gọi số: 1900.6162

Trả lời:

Theo như bạn trình bày thì bạn cưới vào tháng 6/2013, luc đó bạn đang có bầu. Vậy đến thời điểm hiện tại con bạn chưa đủ 36 tháng. Căn cứ vào Luật hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 của Quốc hội quy định:

"Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn
...
2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.
3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con."

Thì thông thường khi vợ chồng đã tự thỏa thuận thì Tòa án không can thiệp nữa. Trường hợp của bạn đã ký đơn rồi, nhưng khi Tòa án thụ lý sẽ giải quyết mọi việc trên tòa, lúc đấy bạn có thể thay đổi quyết định của mình nếu bạn không đồng ý với thỏa thuận của chồng bạn.

Trong trường hợp có tranh chấp phát sinh, vì con bạn chưa đủ 36 tháng tuổi nên con bạn sẽ được giao cho bạn nuôi trừ những trường hợp bạn thiếu diều kiện kinh tế, giáo dục, chăm sóc... thì mới giao cho chồng bạn nuôi con.

Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng qua email Tư vấn pháp luật hôn nhân gia đình miễn phí qua Email hoặc qua tổng đài 1900.6162. Chúng tôi sẵn sàng giải đáp.

>> Xem thêm:  Hướng dẫn viết đơn xin ly hôn như thế nào ? Giải quyết tranh chấp tài sản sau ly hôn ?

5. Tư vấn giải quyết khó khăn khi chia tài sản sau ly hôn ?

Kính chào luật sư, mong luật sư tư vấn cho tôi vấn đề sau :Chị tôi đã ly hôn anh rể và đưa đơn ra tòa đã hơn 2 năm mà tòa án huyện cứ mời ra kí hết giấy tờ này đến giấy tờ khác mà không giải quyết triệt để. Tôi rất bức xúc vì anh rể tôi ôm hết ruộng đất làm ăn mà không cho chị tôi làm phần nào để nuôi 2 con ăn học. Trong khi anh rể tôi không nuôi cũng không phụ cấp cho đứa nào.
Trước tòa anh rể tôi nói chị tôi phải tách hộ khẩu của chị cùng 2 con thì mới chịu chia tài sản để sau này 2 cháu tôi không còn tranh chấp tài sản. Bản thân tôi nghĩ việc tách hộ khẩu không phải là trách nhiệm của chị tôi và cũng không liên quan đến việc chia tài sản khi li hôn. Nếu muốn anh rể tôi phải tự đi tách chứ sao lại nói với tòa là chị tôi không tách 3 mẹ con ra khỏi hộ khẩu được thì không chia tài sản? Chờ quá lâu chị tôi không có nguồn vốn làm ăn để nuôi 2 con nên chị tôi quyết định rút hồ sơ đưa lên tỉnh nhờ giải quyết thì vị tòa không cho bảo là nếu rút hồ sơ thì chị tôi mất tất cả của cải không được chia. Kì kèo mãi thì vị tòa nói là cô về làm đơn mới cho rút hồ sơ, chị tôi cũng làm theo yêu cầu thì tòa hết lần này đến lần khác bảo đơn chưa đạt yêu cầu, cứ mỗi lần như vậy là hẹn 20 ngày. Chị tôi đã đồng ý với anh rể là chia đều tài sản, 2 đứa con chị tôi nuôi và tòa án cũng đồng ý như vậy mà anh rể tôi không chịu vì lấy lí do là chưa tách hộ khẩu 3 mẹ con. Nếu tách được thì không biết anh rể lại lấy lí do gì nữa vì đã nhiều lần đưa ra nhiều lí do khác nhau mà chị tôi phải làm theo nhưng không đâu vào đâu cả. Tôi nghĩ trong chuyện này giữa anh rể tôi và tòa nhất định có tiêu cực, vì chị tôi là người trình độ văn hóa thấp và chủ yếu làm nghề nông cho nên mới có sự việc như trên.

Trước hoàn cảnh như thế này tôi không biết phải làm sao? Tôi định viết thư gửi về tất cả đài truyền hình Việt Nam để được giúp đỡ có được không?

Xin luật sư cho tôi lời khuyên! Kính mong luật sư giúp đỡ. Tôi xin chân thành cảm ơn!

Người gửi: L.A

>> Luật sư tư vấn trực tiếp về pháp luật hôn nhân, gọi: 1900.6162

Trả lời:

Về việc chia tài sản sau khi ly hôn, Luật hôn nhân và gia đình 2014 có quy định:

"Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

6. Tòa án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn Điều này"

Theo đó, có thể hiểu trong trường hợp ruộng đất thuộc khối tài sản chung của hai vợ chồng, tức tài sản hình thành sau khi kết hôn hay có thỏa thuận khác, chị của bạn hoàn toàn có quyền yêu cầu người chồng chia đôi tài sản, thậm chí là chia phần hơn nếu xét thỏa mãn các điều kiện ở khoản 2 điều 59 nêu trên. Còn trong trường hợp ruộng đất thuộc khối tài sản riêng của người chồng, tức tài sản hình thành trước khi kết hôn hoặc có thỏa thuận khác, chị của bạn vẫn có quyền yêu cầu người chồng chia một phần tài sản để nuôi dưỡng hai con vẫn còn đang đi học, vì căn cứ khoản 5 điều 59 nêu trên, pháp luật "bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình."

Bên cạnh đó, ngoài phần tài sản cần phải chia cho chị của bạn, người chồng còn cần chu cấp một khoản cấp dưỡng hàng tháng cho các con nếu không trực tiếp nuôi dưỡng chúng, căn cứ vào quy định tại Luật hôn nhân và gia đình 2014 như sau:

"Điều 82. Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn

1. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

2. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con.

3. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó."

Về vấn đề người chồng yêu cầu chị của bạn và hai con tách khẩu thì mới đồng ý chia tài sản, Luật cư trú 2006 sửa đổi, bổ sung 2013 có quy định:

"Điều 3. Quyền tự do cư trú của công dân

Công dân có quyền tự do cư trú theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Công dân có đủ điều kiện đăng ký thường trú, tạm trú thì có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký thường trú, tạm trú.

Quyền tự do cư trú của công dân chỉ bị hạn chế theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định."

Theo đó, bản án của tòa tuyên khi ly hôn cũng chỉ nói về vấn đề chấm dứt quan hệ hôn nhân chứ không đề cập đến vấn đề lưu trú của các bên sau khi ly hôn. Vì vậy như đã phân tích ở trên, nếu ruộng đất thuộc khối tài sản chung thì chị của bạn sẽ vẫn được chia tài sản mà không phải đáp ứng nhu cầu nào của người chồng. Trường hợp ruộng đất thuộc khối tài sản riêng của người chồng thì hai bên có thể tự thỏa thuận để có thể thỏa mãn tối đa mục đích của các bên.

Về vấn đề tòa án địa phương có thể có tiêu cực trong xét xử, Luật tố cáo 2011 có quy định:

"Điều 14. Thẩm quyền giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của cán bộ, công chức trong cơ quan khác của Nhà nước

1. Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân các cấp có thẩm quyền:

a) Giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của công chức do mình quản lý trực tiếp;

b) Giải quyết tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của Chánh án, Phó Chánh án Tòa án, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát cấp dưới."

Do đó, nếu xét thấy tòa án địa phương có hành vi vi phạm pháp luật trong xét xử, bạn có thể làm đơn tố cáo gửi đến Chánh án tòa án nhân dân cùng cấp hoặc các cơ quan có thẩm quyền khác để được giải quyết thỏa đáng và nhanh chóng nhất có thể.

Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi về câu hỏi của quý khách hàng. Việc đưa ra ý kiến tư vấn nêu trên căn cứ vào các quy định của pháp luật và thông tin do quý khách hàng cung cấp. Mục đích đưa ra nội dung tư vấn này là để các cá nhân, tổ chức tham khảo. Trường hợp trong nội dung tư vấn có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc thông tin nêu trong nội dung tư vấn khiến quý khách chưa hiểu hết vấn đề hoặc/ và có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý khách hàng.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hôn nhân - Công ty luật Minh Khuê

>> Xem thêm:  Quyền lợi của vợ và con khi vợ chồng ly hôn ? Ly hôn khi mắc bệnh lây nhiễm từ chồng ?