Sau khi nhận hồ sơ vụ án, bản cáo trạng và thụ lý vụ án theo Điều 276 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và trong thời hạn theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự tại Điều 277 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 , Tòa án sẽ ra một trong các quyết định: Đưa vụ án ra xét xử, trả hồ sơ để điều tra bổ sung, tạm đình chỉ vụ án hoặc đình chỉ vụ án.

1. Cơ sở pháp lý

Căn cứ Điều 280 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 quy định như sau:

Điều 280. Trả hồ sơ để điều tra bổ sung

1. Thẩm phán chủ tọa phiên tòa ra quyết định trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung khi thuộc một trong các trường hợp:

a) Khi thiếu chứng cứ dùng để chứng minh một trong những vấn đề quy định tại Điều 85 của Bộ luật này mà không thể bổ sung tại phiên tòa được;

b) Có căn cứ cho rằng ngoài hành vi mà Viện kiểm sát đã truy tố, bị can còn thực hiện hành vi khác mà Bộ luật hình sự quy định là tội phạm;

c) Có căn cứ cho rằng còn có đồng phạm khác hoặc có người khác thực hiện hành vi mà Bộ luật hình sự quy định là tội phạm liên quan đến vụ án nhưng chưa được khởi tố vụ án, khởi tố bị can;

d) Việc khởi tố, điều tra, truy tố vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng.

2. Trường hợp Viện kiểm sát phát hiện có căn cứ trả hồ sơ để điều tra bổ sung thì Viện kiểm sát có văn bản đề nghị Tòa án trả hồ sơ.

3. Quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung phải ghi rõ những vấn đề cần điều tra bổ sung và gửi cho Viện kiểm sát kèm theo hồ sơ vụ án trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày ra quyết định.

Nếu kết quả điều tra bổ sung dẫn tới việc đình chỉ vụ án thì Viện kiểm sát ra quyết định đình chỉ vụ án và thông báo cho Tòa án biết trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày ra quyết định.

Nếu kết quả điều tra bổ sung dẫn tới phải thay đổi quyết định truy tố thì Viện kiểm sát ban hành bản cáo trạng mới thay thế bản cáo trạng trước đó.

Trường hợp Viện kiểm sát không bổ sung được những vấn đề mà Tòa án yêu cầu và vẫn giữ nguyên quyết định truy tố thì Tòa án tiến hành xét xử vụ án.

2. Lý luận về vấn đề trả hồ sơ để điều tra bổ sung

Kiểm sát viên phải báo cáo lãnh đạo đơn vị, lãnh đạo viện ra quyết định ưả hồ sơ vụ án cho cơ quan điều tra để điều tra bổ sung nhằm kịp thời khắc phục những thiếu sót và vi phạm của cơ quan điều tra, đảm bảo việc giải quyết vụ án trong thời hạn mà pháp luật đã quy định khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

- Còn thiếu chứng cứ để chứng minh một trong những vấn đề quy định tại Điều 85 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 mà viện kiểm sát không thể tự mình bổ sung được;

- Có căn cứ khởi tố bị can về một hay nhiều tội phạm khác;

- Có người đồng phạm hoặc người phạm tội khác liên quan đến vụ án nhung chưa được khởi tố bị can;

- Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.

Đổ tránh tình trạng kéo dài việc giải quyết vụ án, viện kiểm sát chỉ trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung nếu xét thấy còn thiếu những chứng cứ quy định tại Điều 86, Điều 87 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 dùng để chứng minh một hoặc nhiều vẩn đề quy định tại Điều 85, Điều 441 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 mà nếu thiếu chứng cứ này thì không giải quyết vụ án được khách quan, toàn diện, đúng pháp luật. Tuy nhiên, viện kiểm sát chỉ trả hồ sơ để điều tra bổ sung nếu không tự mình bổ sung được.

Ví dụ: thiếu chứng cứ để xác định hành vi đã xảy ra có đủ yếu tố cấu thành tội phạm cụ thể được quy định trong BLHS hay thuộc các trường hợp không phải là hành vi phạm tội (quan hệ dân sự, kinh tế, vi phạm hành chính và các trường hợp khác theo quy định của luật) mà viện kiểm sát tiến hành các hoạt động điều tra cũngkhông bổ sung được. Xem thêm: Điều 3 Thông tư Hên tịch số 02/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC- BCA-BQP quy định về việc phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong thực hiện một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Viện kiểm sát không trả hồ sơ để điều tra bổ sung nếu thiếu chứng cứ để chứng minh những vấn đề quy định tại Điều 85 của

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015nhưng vẫn truy tố được hoặc không thể thu thập được chứng cứ đó.

Khi có căn cứ để khởi tố bị can về một hay nhiều tội phạm khác; có người đồng phạm hoặc người phạm tội khác liên quan đến vụ án nhưng chưa được khởi tố bị can thuộc một trong các trường hợp sau đây thì viện kiểm sát trả hồ sơ để điều tra bổ sung: Khởi tố và điều tra về một hay nhiều tội nhưng chứng cứ trong hồ sơ vụ án cho thấy hành vi của bị can đã thực hiện cấu thành một hay nhiều tội khác; ngoài tội phạm đã khởi tố và điều tra, chứng cứ trong hồ sơ vụ án cho thấy còn có căn cứ để khởi tố bị can về một hoặc nhiều tội khác; ngoài bị can đã bị khởi tố và điều tra, chứng cứ trong hồ sơ vụ án cho thấy còn có người đồng phạm khác hoặc cọ người phạm tội khác có liên quan đến vụ án nhưng chưa được khởi tố bị can.

Viện kiểm sát không ưả hồ sơ để điều tra bổ sung nếu có căn cứ để tách vụ án theo quy định tại khoản 2 Điều 242 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.(1) Viện kiểm sát vẫn tiến hành truy tố đối với tội đã khởi tố, điều tra còn đối với tội mới phát hiện thì viện kiểm sát đề nghị cơ quan điều tra khởi tố giải quyết bằng một vụ án khác.

Đối với trường hợp có vi phạm thủ tục tố tụng trong quá trình điều tra cũng phải xác định rõ trường hợp nào là vi phạm nghiêm trọng cần trả lại hồ sơ vụ án. Theo quy định tại điểm o khoản 1 Điều 4 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 thì vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng là việc cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ các trình tự, thủ tục do Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định và đã xâm hại nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng hoặc làm ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan, toàn diện của vụ án. Trong đó, xâm hại nghiêm trọng quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng là làm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích chính đáng của người tham gia tố tụng, có thể gây ra cho họ thiệt hại về vật chất, tinh thần. Viện kiểm sát trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung trong trường hợp như: Không chỉ định, thay đổi hoặc chấm dứt việc chỉ định người bào chữa cho người bị buộc tội theo quy định tại Điều 76 và Điều 77 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; xác định không đúng tư cách tham gia tố tụng của người tham gia tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử dẫn đến xâm hại nghiêm trọng quyền và lợi ích hợp pháp của họ; khởi tố vụ án hình sự nhung không có yêu cầu của bị hại hoặc của người đại diện của bị hại theo quy định tại khoản 1 Điều 155 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;... (Xem thêm: Điều 6 Thông tư liên tịch số 02/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC- BCA-BQP quy định về việc phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong thực hiện một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 về trả hồ sơ để điều tra bổ sung).

Viện kiểm sát không trả hồ sơ điều tra bổ sung trong trường hợp: có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng nhưng không xâm hại nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng; người bị buộc tội, người bị hại, người làm chứng là người dưới 18 tuổi nhưng khi thực hiện hoạt động truy tố thì họ đã đủ 18 tuổi.

Quyết định trả hồ sơ để yêu cầu điều tra bổ sung phải ghi rõ vấn đề cần điều tra bổ sung, số, ngày, tháng, năm, địa điểm ban hành, họ tên, chức vụ, chữ kí của người ra quyết định và đóng dấu.

Cơ quan điều tra có trách nhiệm thực hiện đầy đủ yêu cầu nêu trong quyết định trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung của viện kiểm sát; trường hợp vì lí do bất khả kháng hoặc do trở ngại khách quan mà không thực hiện được thì phải nêu rõ lí do bằng văn bản.

Kết thúc điều tra bổ sung, cơ quan điều tra phải có bản kết luận điều tra bổ sung. Bản kết luận điều tra bổ sung phải ghi rõ kết quả điều tra bổ sung, quan điểm giải quyết vụ án. Nếu kết quả điều tra bổ sung làm thay đổi cơ bản kết luận điều tra trước đó thì cơ quan điều tra phải ra bản kết luận điều tra mới thay thế.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 174 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 thì viện kiểm sát chỉ được trả hồ sơ để điều tra bổ sung hai lần. Do đó, để tránh tình trạng đã sử dụng hết số lần được phép trả hồ sơ mà vẫn chưa giải quyết hết những vấn đề cần bổ sung, kiểm sát viên phải nghiên cứu tất cả các tài liệu có trong hồ sơ nhằm phát hiện tất cả các vấn đề cần phải bổ sung để chỉ trả hồ sơ một lần là đã giải quyết đầy đủ các vấn đề cần bổ sung hoặc cần làm rõ thêm. Việc trả hồ sơ lần thứ hai chỉ đặt ra trong trường hợp thật cần thiết.

Ví dụ: Vấn đề mà viện kiểm sát yêu cầu cơ quan điều tra bổ sung chưa được làm rõ mà nếu không làm rõ được vấn đề đó thì việc truy tố sẽ không có căn cứ (như chưa xác định được tuổi của bị can, bị hại trong vụ án mà tuổi của bị can, bị hại có ý nghĩa đến việc định tội danh, áp dụng hình phạt; chưa xác định được giá trị tài sản bị chiếm đoạt trong các vụ án về các tội xâm phạm sở hữu, định lượng cùng hàm lượng các chất ma tuý trong các vụ án về các tội phạm ma tuý...) hoặc từ vấn đề đã bổ sung làm rõ lại xuất hiện vấn đề mới có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án V.V..

Viện kiểm sát cũng phải xem xét căn cứ yêu cầu điều tra bổ sung trong trường hợp toà án quyết định trả hồ sơ vụ án yêu cầu điều tra bổ sung. Việc giải quyết yêu cầu điều tra bổ sung của toà án thực hiện theo quy định tại Điều 246 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Nếu quyết định trẳ hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung có căn cứ mà xét thấy không cần phải trả hồ sơ cho cơ quan điều tra thì viện kiểm sát trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra để bổ sung tài liệu, chứng cứ; trường hợp viện kiểm sát không thể tự điều tra bổ sung được thì viện kiểm sát ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung và chuyển ngay hồ sơ cho cơ quan điều tra để tiến hành điều tra. Trường hợp kết quả điều tra bổ sung làm thay đổi cơ bản nội dung bản cáo trạng trước đó thì viện kiểm sát phải ra bản cáo trạng mới thay thế và chuyển hồ sơ đến toà án. Trường hợp kết quả điều tra bổ sung dẫn đến đình chỉ vụ án thì viện kiểm sát ra quyết định đình chỉ vụ án và thông báo cho toà án biết. Nếu quyết định trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung không có căn cứ thì viện kiểm sát có văn bản nêu rõ lí do, giữ nguyên quyết định truy tố và chuyển lại hồ sơ cho toà án.

3. Thời hạn trong trường hợp trả hồ sơ để điều tra bổ sung

Căn cứ Điều 280 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 02/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP ngày 22 tháng 12 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Quốc Phòng quy định việc phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong thực hiện một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về trả hồ sơ điều tra bổ sung (gọi tắt Thông tư liên tịch số 02/2017), Tòa án sẽ ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung trong trường hợp như thiếu chứng cứ, có hành vi phạm tội khác, có đồng phạm khác… Vấn đề cần bàn là trong trường hợp Tòa án trả hồ sơ để điều tra bổ sung thì thời hạn điều tra được tính như thế nào? Theo khoản 2 Điều 174 BLTTHS “Trường hợp vụ án do Viện kiểm sát trả lại để yêu cầu điều tra bổ sung thì thời hạn điều tra bổ sung không quá 02 tháng; nếu do Tòa án trả lại để yêu cầu điều tra bổ sung thì thời hạn điều tra bổ sung không quá 01 tháng”. Viện kiểm sát chỉ được trả lại hồ sơ để điều tra bổ sung hai lần. Thẩm phán, chủ tọa phiên tòa chỉ được trả hồ sơ để điều tra bổ sung một lần và Hội đồng xét xử chỉ được trả hồ sơ để điều tra bổ sung một lần. “Thời hạn điều tra bổ sung tính từ ngày Cơ quan điều tra nhận lại hồ sơ vụ án và yêu cầu điều tra bổ sung. Tuy pháp luật tố tụng hình sự quy định như vậy nhưng thực tiễn áp dụng thời hạn điều tra bổ sung vẫn còn quan điểm áp dụng không thống nhất:

Thứ nhất, sau khi Viện kiểm sát nhận quyết định và hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung của Tòa án, nếu quyết định yêu cầu điều tra bổ sung có căn cứ thì Viện kiểm sát sẽ xem xét, giải quyết yêu cầu điều tra bổ sung của Tòa án theo hai trường hợp thuộc khoản 1 Điều 246 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 một là không cần phải trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra thì Viện kiểm sát trực tiếp tiến hành một số hoạt động điều tra để bổ sung tài liệu, chứng cứ; hai là Viện kiểm sát không thể tự điều tra bổ sung được thì Viện kiểm sát ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung và chuyển ngay hồ sơ cho Cơ quan điều tra để tiến hành điều tra. Như vậy, khi căn cứ khoản 2 Điều 174 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 thì trường hợp Tòa án trả hồ sơ mà Viện kiểm sát xét thấy không cần phải trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra thì thời hạn Viện kiểm sát trực tiếp điều tra bổ sung là mấy tháng và kể từ ngày nào? Theo tác giả, thời hạn này là không quá 01 tháng kể từ ngày Viện kiểm sát nhận được hồ sơ và quyết định yêu cầu điều tra bổ sung (xem mục 32, Công văn số 5024/VKSTC-V14 ngày 19 tháng 11 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao về việc giải đáp vướng mắc liên quan đến quy định của BLTTHS và nghiệp vụ THQCT, kiểm sát việc giải quyết vụ án hình sự trong ngành KSND).

Thứ hai, thực tiễn áp dụng cho thấy trường hợp Viện kiểm sát không thể tự điều tra bổ sung theo khoản 1 Điều 246 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 thì Viện kiểm sát ra quyết định trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra để điều tra bổ sung thì thời hạn điều tra bổ sung vẫn còn xảy ra mâu thuẫn về cách tính thời hạn giữa Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát vì có ý kiến cho rằng thời hạn điều tra bổ sung trong trường hợp này là 02 tháng tính từ ngày Cơ quan điều tra nhận lại hồ sơ vụ án và yêu cầu điều tra bổ sung nhưng cũng có ý kiến cho rằng 01 tháng. Theo tác giả, trong trường hợp này, thời hạn điều tra bổ sung là 01 tháng tính từ ngày Cơ quan điều tra nhận lại hồ sơ vụ án và yêu cầu điều tra bổ sung, bởi lẽ trường hợp này phải tính là Tòa án trả hồ sơ để điều tra bổ sung (theo tinh thần của Thông tư liên tịch số 02/2017 tại điểm d khoản 3 Điều 14 chứ không phải thuộc trường hợp Viện kiểm sát trực tiếp trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra để điều tra bổ sung theo Điều 245 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 ).

4. Lý luận về quyết định tạm đình chỉ vụ án trong giai đoạn xét xử

Căn cứ thứ nhất để Thẩm phán chủ tọa phiên tòa ra quyết định tạm đình chỉ vụ án là khi có căn cứ quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều 229 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 . Theo đó, khi có kết luận giám định tư pháp xác định bị can mắc bệnh hiểm nghèo hoặc bị bệnh tâm thần (Người mắc bệnh hiểm nghèo là người mắc các bệnh nguy hiểm đến tính mạng như ung thư, bại liệt, phong hủi, nhiễm HIV chuyển sang giai đoạn AIDS và những bệnh khác theo quy định của Bộ Y tế được coi là bệnh hiểm nghèo). Đối với trường hợp này, khi nhận hồ sơ vụ án từ Viện kiểm sát chuyển sang mà phát hiện bị can không có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc mắc bệnh hiểm nghèo thì Thẩm phán phải trưng cầu giám định pháp y. Khi có kết quả giám định pháp y mà phát hiện bị can mắc bệnh hiểm nghèo hoặc bệnh tâm thần thì Thẩm phán sẽ ra quyết định tạm đình chỉ vụ án.

Tuy nhiên, không phải mọi trường hợp có kết luận giám định tư pháp xác định bị can mắc bệnh hiểm nghèo thì Thẩm phán đều phải ra quyết định tạm đình chỉ vụ án. Thẩm phán ra quyết định đình chỉ vụ án trong trường hợp bị can được xác định mắc bệnh hiểm nghèo và không có khả năng gây nguy hiểm cho xã hội (quy định tại điểm b khoản 2 Điều 29 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 ). Điều 285 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 cũng quy định: “Khi xét thấy có một trong các căn cứ quy định tại Điều 157 của Bộ luật này hoặc có căn cứ quy định tại Điều 16 hoặc Điều 29 hoặc khoản 2 Điều 91 của Bộ luật hình sự thì Viện kiểm sát rút quyết định truy tố trước khi mở phiên tòa và đề nghị Tòa án đình chỉ vụ án.”

Khi trưng cầu giám định, định giá tài sản, yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp chưa có kết quả nhưng đã hết thời hạn chuẩn bị xét xử thì việc giám định, định giá tài sản vẫn tiếp tục cho đến khi có kết quả. Trong trường hợp này, Thẩm phán sẽ ra quyết định tạm đình chỉ vụ án nhằm mục đích có thêm thời gian chờ kết quả giám định, định giá tài sản.

Căn cứ thứ hai để Thẩm phán chủ tọa phiên tòa ra quyết định tạm đình chỉ vụ án là khi không biết rõ bị can đang ở đâu mà đã hết thời hạn chuẩn bị xét xử, trường hợp này sẽ áp dụng quy định tại khoản 4 Điều 9 của Thông tư liên tịch số 13/2012/TTLT/BCA-BTP-VKSNDTC-TANDTC ngày 09/10/2012 của Bộ Công an, Bộ Tư pháp, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và Luật Thi hành án hình sự về truy nã: “Khi nhận được văn bản của Tòa án yêu cầu truy nã bị can, bị cáo, Cơ quan điều tra ra ngay quyết định truy nã và gửi thông báo quyết định truy nã theo đúng quy định tại Điều 161 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và hướng dẫn tại Điều 6 Thông tư liên tịch này.

Nếu hết thời hạn 01 tháng, kể từ ngày có công văn yêu cầu mà việc truy nã vẫn chưa có kết quả thì Cơ quan điều tra ra quyết định truy nã phải thông báo cho Tòa án biết để Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử vắng mặt người bị truy nã theo điểm a khoản 2 Điều 187 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 ”.

Quyết định tạm đình chỉ vụ án trong trường hợp này được ban hành sau khi kết thúc thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định tại khoản 1 Điều 277 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 .

Căn cứ thứ ba để Thẩm phán chủ tọa phiên tòa ban hành quyết định tạm đình chỉ vụ án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử đó là khi chờ kết quả xử lý văn bản pháp luật mà Tòa án kiến nghị. Tòa án phát hiện và kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền xem xét, sửa đổi các quy định của pháp luật trái với Hiến pháp, luật và các văn bản pháp luật khác. Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể có liên quan thì cần phải tạm đình chỉ vụ án trong thời gian chờ kết quả trả lời của cấp có thẩm quyền.

Trường hợp vụ án có nhiều bị can thì có thể tạm đình chỉ đối với từng bị can nếu căn cứ tạm đình chỉ không liên quan đến tất cả các bị can khác. Đối với bị can không liên quan đến căn cứ tạm đình chỉ thì phải tiếp tục tố tụng đối với bị can đó.

5. Một số bất cập trong quá trình thực hiện

Thứ nhất, đối với căn cứ khi xác định bị can mắc bệnh tâm thần. Ở đây cần xác định bị can mắc loại bệnh tâm thần nào và mắc bệnh ở giai đoạn nào. Có loại bệnh tâm thần luôn luôn làm mất năng lực trách nhiệm hình sự, có loại bệnh tâm thần chỉ làm mất năng lực trách nhiệm hình sự khi bệnh ở mức độ nhất định và có loại bệnh hoàn toàn không làm mất năng lực này.

Nếu như bị can mắc bệnh tâm thần làm mất khả năng nhận thức và làm chủ hành vi khi thực hiện hành vi thì rõ ràng hành vi của bị can không đủ yếu tố thành tội phạm. Vì không thỏa mãn yếu tố chủ thể trong cấu thành tội phạm. Do vậy, không phải là căn cứ tạm đình chỉ vụ án.

Nếu như khi có kết quả giám định tư pháp xác định bị can mắc bệnh tâm thần làm hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi thì Thẩm phán cũng không được ra quyết định tạm đình chỉ vụ án đối với bị can đó mà phải xác định đó là tình tiết giảm nhẹ khi xét xử theo quy định tại điểm q Khoản 1 Điều 51 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 “Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình”.

Trường hợp khi có kết quả giám định tư pháp xác định khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị can vẫn có khả năng nhận thức và làm chủ hành vi, còn trong giai đoạn chuẩn bị xét xử bị can được xác định là mắc bệnh tâm thần làm mất khả năng nhận thức và làm chủ hành vi thì mới là căn cứ để Thẩm phán ra quyết định tạm đình chỉ vụ án và Chánh án sẽ ra quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh theo quy định tại khoản 2 Điều 451 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Khoản 2 Điều 44 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 .

Thứ hai, đối với trường hợp khi có kết quả giám định tư pháp xác định bị can mắc bệnh hiểm nghèo thuộc trường hợp có thể được miễn trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b Khoản 2 Điều 29 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và là căn cứ để Viện kiểm sát rút quyết định truy tố theo quy định tại Điều 285 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 thì Thẩm phán không ra quyết định tạm đình chỉ mà phải ra quyết định đình chỉ vụ án.

Mọi vướng mắc pháp lý liên quan đến lĩnh vực tố tụng hình sự về quyết định của Viện kiểm sát trả hồ sơ điều tra bổ sung vụ án hình sự, Hãy gọi ngay: 1900.6162 để được Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài. Đội ngũ luật sư giàu kinh nghiệm trong lĩnh vực hình sự luôn sẵn sàng lắng nghe và giải đáp cụ thể.

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật hình sự - Công ty luật Minh Khuê