1.Hội đồng xét xử gồm những ai ?

Thưa luật sư, Anh Lê Văn L phạm phải tội trộm cắp tài sản và tội giết người với thủ đoạn hế sức man dợ .Vậy trong trường hợp này quy định về HĐXX như thế nào là đúng với pháp luật ? Quy định về hai tội này như thế nào ?

Luật sư trả lời :

Căn cứ theo điều 123 và 173 BLHS 2015, sửa đổi bổ sung 2017 quy định :

Điều 123. Tội giết người

1. Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Giết 02 người trở lên;

b) Giết người dưới 16 tuổi;

c) Giết phụ nữ mà biết là có thai;

d) Giết người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;

đ) Giết ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

e) Giết người mà liền trước đó hoặc ngay sau đó lại thực hiện một tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;

g) Để thực hiện hoặc che giấu tội phạm khác;

h) Để lấy bộ phận cơ thể của nạn nhân;

i) Thực hiện tội phạm một cách man rợ;

k) Bằng cách lợi dụng nghề nghiệp;

l) Bằng phương pháp có khả năng làm chết nhiều người;

m) Thuê giết người hoặc giết người thuê;

n) Có tính chất côn đồ;

o) Có tổ chức;

p) Tái phạm nguy hiểm;

q) Vì động cơ đê hèn.

2. Phạm tội không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.

3. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

4. Người phạm tội còn có thể bị cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm.

Điều 173. Tội trộm cắp tài sản

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm;

đ) Hành hung để tẩu thoát;

e) Trộm cắp tài sản trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;

g) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b) Trộm cắp tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;

c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

b) Trộm cắp tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều này;

c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

Về thành phần HĐXX quy định theo khoản 1 điều 254 BLTTHS 2015 quy định :

Điều 254. Thành phần Hội đồng xét xử

1. Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm. Trường hợp vụ án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp thì Hội đồng xét xử sơ thẩm có thể gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm.

Đối với vụ án có bị cáo về tội mà Bộ luật hình sự quy định mức cao nhất của khung hình phạt là tù chung thân, tử hình thì Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm.

2. Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm ba Thẩm phán.

2. Vai trò của Hội thẩm

Hoạt động xét xử của Tòa án là hoạt động nhân danh quyền lực của Nhà nước để tuyên một bản án kết tội hay không kết tội bị cáo. Phán quyết của Tòa án ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của Nhà nước, tổ chức xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

Do đó, yêu cầu tối cao và cũng là cái mốc để đánh giá hiệu quả của công tác xét xử là phải khách quan, toàn diện, đây đủ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm, không xử oan người vô tội.

Một trong những nguyên tắc cơ bản cùa tổ tụng hình sự là việc xét xử của Tòa án phải có sự tham gia của Hội thẩm nhân dân, Tòa án phải xét xử tập thể và quyết định theo đa số. Đâỵ là sự kết hợp giữa tính chuyên nghiệp của Thẩm phán và tính đại diện cho quần chúng của Hội thẩm; đảm bảo cho bản án, quyết định của Tòa án đúng pháp luật và thể hiện được lợi ích chung của xã hội. Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.

Hội thẩm nhân dân tham gia xét xử không nhất thiết phải là người cùng ngành, nghề, dân tộc, tôn giáo với bị cáo, nhưng trong vụ án có liên quan đến chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo, thì cần có hội thẩm nhân dân là người cùng dân tộc, cùng tôn giáo với bị cáo.

Nếu vụ án có liên quan đến chuyên môn, nghiệp vụ của một ngành, một nghề hoặc việc xét xử có tác dụng giáo dục cán bộ, nhân viên của một ngành thì cũng nên có hội thẩm nhân dân là người trong ngành đó. Trong trường hợp, bị cáo xét xử là người chưa thành niên thì phải thực hiện quy định là Hội đồng xét xử phải có hội thẩm nhân dân là giáo viên hoặc là cán bộ Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh.

3. Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có một Thẩm phán và hai Hội thẩm. Trong trường hợp vụ án có tính chất nghiêm trọng, phức tạp thì Hội đồng xét xử có thể gồm hai thẩm phán và ba hội thẩm nhân dân.

“Có thể” có nghĩa là không bắt buộc, cho nên những trường hợp này sẽ do Tòa án quyết định. Thực tế, thường là những trường hợp sau:

Vụ án có tính chất phức tạp do có nhiều bị cáọ, nhiều người bị hại, nhiều người làm chứng, nhiều chứng cứ phải xem xét, phải xét xử trong nhiều ngày;

Vụ án có liên quan đến chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo, cần có thêm hội thẩm nhân dân là những người trong dân tộc, trong tôn giáo,...

Đối với vụ án có bị cáo về tội mà Bộ luật hình sự quy định mức cao nhất của khung hình phạt là tù chung thân, tử hình thì Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm. Hình phạt tử hình là hình phạt được quy định trong điều, khoản của Bộ luật chứ không phải là hình phạt mà Tòa án sẽ tuyên, vì trước khi xét xử, Tòa án không được quyết định trước về hình phạt.

Ngoài thành phần Hội đông xét xử chính thức, tại phiên tòa còn có thể có Thẩm phán và Hội thẩm dự khuyết để thay thế Thẩm phán hay Hội thẩm khi cần thiết. Thành phần Hội đồng xét xử chính thức và các thành viên dự khuyết đều phải được ghi vào quyết định đưa vụ án ra xét xử và phải được công bố trong thủ tục bắt đầu phiên tòa để người tham gia tố tụng, đại diện Viện kiểm sát thực hiện yêu cầu thay đổi theo quy định chung.

4. Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm

Về nguyên tắc chung Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm ba Thẩm phán và trong trường hợp cần thiết có thể có thêm hai Hội thẩm.

Khi xét xử phúc thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm đánh giá tính chất đúng đắn của bản án sơ thẩm và trong phạm vi quyền hạn cùa mình, khắc phục những thiếu sót của Tòa án cấp sơ thẩm. Do đó, Hội đông xét xử phúc thẩm phải gồm ba thẩm phán và Tòa án cấp phúc thẩm không được thay thế thẩm phán bằng hội thẩm nhân dân..

Trong những trường hợp cần thiết, Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm ba thẩm phán và hai hội thẩm nhân dân. Đó là khi Tòa án cấp phúc thẩm xét thấy thành phần của Hội đồng xét xử phúc thẩm như vậy là cần thiết do vụ án có tính chất phức tạp như: có đông bị cáo, vụ án có liên quan đến chính sách dân tộc, tôn giáo,...

5. Các trường hợp thay đổi thẩm phán, hội thẩm

Căn cứ Điều 49, 53 Bộ luật Tố tụng hình sự, thẩm phán, hội thẩm phải từ chối tham gia xét xử hoặc bị thay đổi khi thuộc một trong các trường hợp:

- Đồng thời là bị hại, đương sự; là người đại diện, người thân thích của bị hại, đương sự hoặc của bị can, bị cáo;

- Đã tham gia với tư cách là người bào chữa, người làm chứng, người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật trong vụ án đó;

- Có căn cứ rõ ràng khác để cho rằng họ có thể không vô tư trong khi làm nhiệm vụ.

- Họ cùng trong một Hội đồng xét xử và là người thân thích với nhau;

- Đã tham gia xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm hoặc tiến hành tố tụng vụ án đó với tư cách là Điều tra viên, Cán bộ điều tra, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên, Thẩm tra viên, Thư ký Tòa án.

Việc thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm trước khi mở phiên tòa do Chánh án hoặc Phó Chánh án Tòa án được phân công giải quyết vụ án quyết định.

Thẩm phán bị thay đổi là Chánh án Tòa án thì do Chánh án Tòa án trên một cấp quyết định.

Việc thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm tại phiên tòa do Hội đồng xét xử quyết định trước khi bắt đầu xét hỏi bằng cách biểu quyết tại phòng nghị án. Khi xem xét thay đổi thành viên nào thì thành viên đó được trình bày ý kiến của mình, Hội đồng quyết định theo đa số.

Trường hợp phải thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm tại phiên tòa thì Hội đồng xét xử ra quyết định hoãn phiên tòa.